Tài liệu Vận dụng lý luận học thuyết về hình thái kinh tế xã hội vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa - Pdf 97

Vận dụng lý luận học thuyết về hình thái kinh tế
xã hội vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa
1
A. Giới thiệu vấn đề
Trong gần 10 năm trở lại đây, nền kinh tế nước ta có sự thay đổi và đạt được
nhiều thành tựu to lớn. Để đạt được những thành tựu ấy chúng ta không thể quên được
bước ngoặt lịch sử trong cơ chế chuyển đổi nền kinh tế đất nước, mà cột mốc của nó là
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế Nhà nước.
Đối với nước ta, từ một nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu
và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển thì tất yếu phải đổi mới.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: "Xây dựng nước ta
thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giầu, nước
mạnh, xã hội công bằng văn minh". Mục tiêu đó là sự cụ thể hoá học thuyết Mác về
hình thái kinh tế -xã hội và hoàn cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam. Nó cũng là mục tiêu
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.
Đề tài: "Vận dụng lý luận học thuyết về hình thái kinh tế xã hội vào sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam" là một nội dung phức tạp và rộng. Do trình
độ có hạn, nên không tránh khỏi khiếm khuyết trong việc nghiên cứu. Rất mong nhận
được đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài viết này được hoàn thiện hơn.
2
B. Giải quyết vấn đề
I. HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI MÁC - LÊNIN.
Mọi người đều biết, tronglịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đã có không ít cách
tiếp cận, khi nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội. Xuất phát từ những nhận thức
khác nhau, với những ý tưởng khác nhau mà có sự phân chia lịch sử tiến hoá của xã hội
theo những cách khác nhau.
Mọi người cũng đã quen với khái niêm thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại
cối xay gió, thời đại máy hơi nước và gần đây là các nền văn minh: văn minh nông
nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh hậu công nghiệp.

sản xuất đóng vai trò quyết định phương thức sản xuất.
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người sản xuất vật chất thể hiện ở
quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý trao đổi hoạt động với
nhau và quan hệ phân phối sản phẩm. Trong quan hệ sản xuất quan hệ sở hữu về tư liệu
sản xuất giữ vị trí quyết định các quan hệ khác.
Quan hệ sản xuất do con người tạo ra. Song nó được hình thành một cách khách
quan không phụ thuộc vào yếu tổ chủ quan của con người. Quan hệ sản xuất mang tính
ổn định tương đối với bản chất xã hội và tính phương pháp đa dạng trong hình thức biểu
hiện.
Giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có mối quan hệ biện chứng vơi nhau
biểu hiển ở chỗ:
4
Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi phát triển. Sự biến đổi
đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất mà trước
hết là công cụ.
Công cụ lao động phát triển dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất hiện
có và xuất hiện đòi hỏi khách quan, phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng quan
hệ sản xuất mới.
Quan hệ sản xuất vốn là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất (phù hợp)
nhưng do mâu thuẫn của lực lượng sản xuất (đông) với quan hệ sản xuất (ổn định tương
đối) quan hệ sản xuất lại trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản
xuất (không phù hợp). Phù hợp là không phù hợp là biểu hiện mâu thuẫn biện chứng
củalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, tức là sự phù hợp trong mâu thuẫn bao hàm
mâu thuẫn. Khi phù hợp cũng như nếu không phù hợp với lực lượng sản xuất, quan hệ
sản xuất luôn có tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất thể hiện trong nội dung
sự tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất, quy định múc đích xã hội của sản xuất, xu
hướng phát triển của quan hệ lợi ích, từ đó hình thành những yếu tố tồn tại thúc đẩy và
kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự tác động trở lại nói trên của quan hệ
sản xuất bao giờ cũng thông qua các quy luật kinh tế - xã hội đặc biệt là quy luật kinh tế
cơ bản. Phù hợp và không phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là khách

phải thích ứng với tính chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất phải tạo được điều kiện sản xuất và kết hợp với tối ưu giữa tư
liệu sản xuất và sức lao động, bảo đảm trách nhiệm từ sản xuất mở rộng.
Mở ra sau những điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất, tinh thần với
người lao động.
6
Vậy quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
người sản xuất là quy luật chung của sự phát triển xã hội. Do tác động của quy luật này
xã hội là sự phát triển kế tiếp nhau từ thấp đến cao của các phương thức sản xuất hay
chính alà của các hình thái kinh tế - xã hội. Dưới những hình thức và mức độ khác nhau
thì con người có ý thức được hay không và quy luật cốt lõi này như sợi chỉ đỏ xuyên
suốt dòng chảy tiến hoá của lịch sử không chỉ những lĩnh vực kinh tế mà cả các lĩnh vực
ngoài kinh tế, phi kinh tế.
2. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mỗi hình thái kinh tế - xã hội
Không chỉ đặc trưng bằng quan hệ sản xuất mà nó còn đặc chưng bởi một kiến
trúc thượng tầng xây dựng trên những quan hệ sản xuất của chính nó.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những tư tưởng xã hội, những thiết chế tương
ứng và những quan hệ nội tạng của thượng tầng, đó là những quan điểm tư tưởng chính
trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học và các thể chế tương ứng như
Nhà nước Đảng phái, giáo hội và các đoàn thể quần chúng.
Kiến trúc thượng tầng được hình thành trên tổng hợp toàn bộ những quan hệ sản
xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một chế độ xã hội nhất định người ta gọi đó là cơ sở
hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng bao gồm những quan hệ sản xuất đang giữ địa vị thống trị nền kinh
tế nhóm những quan hệ sản xuất tàn dư và những quan hệ sản xuất mới là quan hệ mầm
mống của xã hội sau.
Bất kỳ một cơ sở hạ tầng nào cũng bao gồm những thành phần kinh tế khác nhau,
mỗi thành phần kinh tế này đều gắn liền với một kiểu quan hệ sản xuất trong đó quan hệ
sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các thành phần kinh tế khác. Ở xã
7

sử dụng nó xây dựng xã hội mới.
b) Tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng với cơ
sở hạ tầng.
Các bộ phận của kiến trúc thượng tầng không phải phụ thuộc một chiều vào cơ sở
hạ tầng mà trong quá trình phát triển, chúng có những tác động qua lại với nhau và ảnh
hưởng lớn đến cơ sở hạ tầng cũng như các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Vai trò của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện trên các mặt
sau:
Chức năng xã hội cơ bản của kiến trúc thượng tầng là thực hiện nhiệm vụ đấu
tranh thủ tiêu cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ, xây dựng bảo vệ củng cố và
phát triển cơ sở hạ tầng mới. Kiến trúc thượng tầng chính là công cụ của giai cấp thống
trị, các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng có tác dụng mạnh mẽ đối với cơ sở
hạ tầng nhưng thường những tác động ấy phải thông qua hệ thống chính trị, pháp luật
hay các thể chế tương ứng khác.
Trong điều kiện ngày nay vai trò của kiến trúc thượng tầng không giảm đi, mà
ngược lại tăng lên và tác động mạnh đến tiến trình lịch sử. Trái lại kiến trúc thượng tầng
xã hội chủ nghĩa bảo vệ cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng xã hội mới,
chính mục đích đó quyết định tính tích cực càng tăng của kiến trúc thượng tầng của xã
hội chủ nghĩa.
9
Tác động của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng được thể hiện trong hai
trường hợp trái ngược nhau nếu kiến trúc thượng tầng phù hợp với quan hệ kinh tế tiến
bộ thì sẽ thúc đẩy sự phát triển xã hội. Ngược lại nếu kiến trúc thượng tầng là cơ sở của
những quan hệ kinh tế lỗi thời thì sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế xã hội, những sự
tác động kìm hãm đó chỉ là tạm thời sớm muộn cũng sẽ bị cách mạng khắc phục về cơ
bản, bản chất giữa cơ sở hạ tầng và cơ sở thượng tầng chính là bản chất giữa kinh tế và
chính trị trong đó kinh tế đóng vai trò quyết định còn chính trị là biểu hiện tập trung của
kinh tế và có tác dụng mạnh mẽ trở lại. Cần tránh khuynh hướng quá thổi phồng hoặc
hạ thấp vai trò của kiến trúc thượng tầng. nếu tuyệt đối hoá vai trò của kiến trúc thượng
tầng thì sẽ rơi vào tả khuynh còn ngược lại sẽ rơi vào hữu khuynh.

đối kháng không thể điều hoà giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, và dựa trên sự
tư hữu về sản xuất. Giai cấp bóc lột là giai cấp thống trị, mọi hoạt động về mặt kinh tế
chính trị xã hội đều chỉ phục vụ cho quyền lợi của chính họ.
Một hình thái kinh tế xã hội tồn tại được thì nó phải có những mặt tốt nhất định
của nó chúng ta cũng không thể phủ nhận những thành quả mà các hình thái kinh tế xã
hội nói trên đã đạt được. Xã hội cộng sản nguyên thuỷ là chế độ xã hội đầu tiên đặt nền
móng cho sự phát triển của loài người. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ giai cấp thống trị
bắt đầu tích luỹ của cải cho xã hội, quan trọng nhất là nó đưa con người ra khỏi thời kỳ
mông muội hoang dã. Hình thái kinh tế xã hội là chế độ xã hội bước đầu vừa phát huy
thừa kế những thành quả của chủ nghĩa tư bản, đồng thời khắc phục những mâu thuẫn
những hạn chế của tư bản chủ nghĩa. Một xã hội mà quyền lực nằm trong tay giai cấp
công nhân và nhân dân lao động - một tầng lớp đông đảo của xã hội. Mọi hoạt động
kinh tế - văn hoá - chính trị phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội. Không còn tình trạng
bóc lột, mọi người đều bình đẳng, sinh hoạt lao động dưới sự quản lý của Nhà nước
thông qua pháp luật thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ tập chung dân
chủ công bằng xã hội. Quan hệ sản xuất được xây dựng trên cơ sở của lực lượng sản
xuất và trình độ phát triển cao cơ sở hạ tầng phù hợp với kiên trúc thượng tầng.
11
Đây là hình thái kinh tế xã hội ưu việt một đỉnh cao của văn minh loài người.
Từ hai con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, một con đường tư bản chủ nghĩa và con
đường đi từ tiến tư bản chủ nghĩa.
Việt Nam từ một nền kinh tế tiểu nông muốn thoát ra khỏi nghèo nàn lạc hậu và
nhanh chóng đạt đến trình độ một nước phát triển bằng con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
2. Mục đích:
Mục tiêu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta hiện nay như Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định là: Xây dựng nước ta thành một nước
công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Cơ cấu kinh tế lập hiến, quan hệ sản
xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và
tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn

xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ đất nước ta. Hơn nữa sự vận dụng đúng đắn của
các quy luật quan hệ sản xuất, phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là cần thiết. Bên cạnh đó từng bước cơ sở xây dựng hạ tầng và cơ sở
thượng tầng. Đặc biệt là xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Thực hiện đa dạng hoá về tình hình sản xuất quản lý và phân phối theo lao động.
3. Thực trạng sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam
Trước đây trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước chúng ta đã
xác định công nghiệp hoá "là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội" song nước ta vẫn mắc phải sai lầm bằng cách nhận thức về công nghiệp hoá.
13
Từ cuối những năm 70, đất nước đã lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội với
những khó khăn gay gắt lạm phát.
Khi đó do tư duy lý luận bị lạc hậu, giữa lý luận và thực tiễn có khoảng cách quá
xa tư duy cũ về chủ nghĩa xã hội theo mô hình tập trung quan liêu, bao cấp đã cản trở sự
phát triển của thực tiễn sản xuất, chế độ bao cấp dẫn đến tình trạng trì chệ trong công
việc: ỷ lại lười nhác, phụ thuộc vào Nhà nước. Không năng động sáng tạo bằng công tác
được giao, không cần quan tâm đến kết quả đạt được.
Trong sản xuất sản phẩm làm ra không đủ chất lượng lạm phát càng tăng. Kìm
hãm sự phát triển kinh tế đất nước đời sống xã hội thấp kém, nghèo khó. Trước đây
chúng ta do không thấy được quy luật lực lượng sản xuất phát triển sẽ kéo theo quan hệ
sản xuất phát triển nên chúng ta đã đi ngược lại quy luật này và muốn áp đặt một quan
hệ sản xuất để kéo theo sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sau khi tiến hành đổi mới
chúng ta đã tuân theo đúng quy luật, chuyển nền kinh tế sang nền kinh tế nhiều thành
phần hoạt động trên cơ chế thị trường làm cho năng suất lao động tăng, lực lượng sản
xuất phát triển do đó quan hệ sản xuất càng phát triển theo. Mặt khác phải tạo ra yếu tố
tích cực biến các yếu tố chủ quan vì nó có tính độc lập tương đối vì rằng ý thức có tính
vượt trước nên quan hệ sản xuất có khả năng vượt so với sản lượng sản xuất vượt trước
ở đây là sự vượt trước có tính phù hợp, vượt trước dựa trên cơ sở suy luận khoa học
lôgic, dựa trên các quy luật và cao hơn là sự vượt trước kiến trúc thượng tầng so với cơ
sở hạ tầng. Nó cũng phải dựa trên sự phù hợp với quy luật và cơ sở lý luận khoa học

ta mới ở giai đoạn của thời kỳ quá độ.
4. Một số biện pháp
15
Để thực hiện được mục tiêu Đảng đề ra là làm cho dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng văn minh, đất nước chuyển mình lên chủ nghĩa xã hội thì đi đôi với việc
củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất chúng ta nhất thiết phải phát triển lực lượng sản
xuất, vì không có lực lượng sản xuất hùng hậu với năng suất cao thì không thể nói đến
công nghiệp xã hội. Một lần nữa ta khẳng định tính tất yếu của công cuộc CNH - HĐH
ở Việt Nam. CNH - HĐH đưa nước ta vượt qua một chặng đường dài đi lên công
nghiệp xã hội tính được tình trạng chung đó là sự tụt hậu ngày càng xa của các nước
đang phát triển so với các nước phát triển . CNH - HĐH là để xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, CNH - HĐH đất nước thì có tránh được nguy cơ tụt hậu
về kinh tế và sự lạc hậu về tiến bộ xã hội.
Khó khăn:
Một vấn đề nổi cộm "chúng ta còn quá lạc hậu, cần phải trang bị mới hiện đại".
Về nông nghiệp: cho đến nay chúng ta vẫn trong tình trạng lạc hậu về năng suất
vẫn thấp (một lao động trong nông nghiệp trung bình nuôi 2,5 -3 người so với ở Mỹ,
một lao động nông nghiệp nuôi 30 - 40 người). Nông nghiệp chưa thể là chỗ dựa để
nâng nhu cầu bình quân đầu người một cách đáng kể nông sản hàng hoá vẫn chưa trở
thành nguồn chính mà ta có thể dựa vào đó để xây dựng công nghệ và cơ cấu hạ tầng.
Thuế thu nhập từ nông nghiệp không đáng kể.
+ Do chúng ta tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong điều kiện cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại nên đã gặp nhiều thử thách gay gắt.
Kết cấu kinh tế ngày càng tăng giữa các nước giàu và nghèo. Ta mất dần lợi thế
các tài nguyên và lao động. Sự chênh lệch khá lớn về mức sống. Kết cấu khoa học - kỹ
thuật ngày càng lớn.
Thuận lợi :
16
Nhờ chuyển giao công nghệ nên ta chỉ việc ứng dụng những thành tựu khoa học -
công nghệ. Có thể chọn công nghệ mới, phù hợp để phát triển.

ngành công nghiệp mà còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự đổi
mới cơ bản về kinh tế và công nghiệp hiện đại hoá tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Từ
đó tạo ra được sự cân đối hài hoà giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc doanh.
Phương hướng cụ thể.
Điều đầu tiên cần phải giải quyết là chuyển đổi cơ cấu "công - nông nghiệp và
dịch vụ" phù hợp với xu hướng "mở" của nền kinh tế. Vấn đề này được giải quyết tạo
nền tảng vững chắc cho việc phân công lại lao động hợp lí trong các ngành kinh tế và
điều chỉnh hợp lí với cơ cấu đầu tư.
b) Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
(Sự cần thiết): Nước ta hiện nay là một Nhà nước so với 80% dân cư đang sinh
sống bằng sản xuất nông nghiệp. Đây là một địa bàn tập trung đại bộ phận người nghèo.
Vì vậy, phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn đã đang và sẽ là mối quan
tâm hàng đầu của chúng ta. Song nông nghiệp không thể tự mình thay đổi, đổi mới cơ
sở vật chất kỹ thuật công nghệ, không có khả năng tăng trưởng nhanh để tạo thêm nhiều
công ăn việc làm cho nông dân mà phải có tác động mạnh mẽ của công nghiệp, dịch
18
vụ chỉ có như vậy sẽ xoá bỏ được trạng thái trì trệ của nền kinh tế nông nghiệp sản
xuất nhỏ xoá đói giảm nghèo nâng cao mức tạo nhập bình quân.
Chính sách đường lối phát triển:
Trong khu vực nông thôn và nông nghiệp phương hướng hàng chiến lược đó là
thay thế nhập khẩu và có hiệu quả thấp đến hàng mạnh ra xuất khẩu. Nhiều người cho
rằng đây là hướng sai lầm nhưng thực tế không phải vậy.
Nông nghiệp là ngành sản xuất có đặc trưng là sản phẩm của nó cần thiết cho mọi
cuộc sống hàng ngày.
Phát triển sản xuất nông nghiệp cung cấp sản phẩm đủ trong nước rồi mới xuất
khẩu là một lẽ đương nhiên những công cụ sản phẩm chỉ trong nước còn với xã hội là
một lẽ đương nhiên bởi ta không thể nhập lương thực mà lại không tự sản xuất được ra.
Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp cần được quá trình đầu tư khoa học - công nghệ
để đem lại chất lượng sản lượng cao cho sản phẩm. Công nghiệp nhẹ cần được phát
triển trong lĩnh vực nông nghiệp là công nghệ để sản xuất thuốc trừ sâu phân bón vi sinh

quyết định.
20
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã xây dựng nhiệm vụ chiến lược chế độ nhằm xây
dựng một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng thành thạo chuyên môn nghiệp
vụ có khả năng và trình độ để đáp ứng nhu cầu của tình hình nhiệm vụ trong thời kỳ
mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Trong quá trình tiến hành cách mạng có những lúc thuận lợi, bên cạnh đó có rất
nhiều khó khăn đòi hỏi chúng ta phải có cách nhìn nhận và phương pháp khoa học sáng
tạo, phải có quan điểm khách quan toàn diện phát triển đưa chính sách cụ thể là thực
tiễn.
Luôn luôn đề cao vai trò thực tiễn nhiều không coi nhẹ lí luận. Phải luôn xây dựng
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng của Đảng làm kim
chỉ nam cho công nghiệp ta, cho cách mạng nước ta, cho dân tộc, phát triển đổi mới
kinh tế tư duy ở nước ta, đưa nước ta lên con đường xã hội chủ nghĩa.
Một điều quan trọng nữa là phải khắc phục một số tư tưởng hữu khuynh không
tiến hành cách mạng, tả khuynh chủ quan nóng vội, duy ý chí
Bệnh chủ quan, duy ý chí là sai lầm khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều nước xã
hội chủ nghĩa trước đây, gây tác hại nghiêm trọng với xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Sai lầm là ở lối suy nghĩ và hình thức giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng
chủ quan thể hiện trong một số chủ trương và chính sách xã hội với hiện thực khách
quan. Để khắc bệnh này cần sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp. Trước hết là đổi mới tư
duy, lý luận, nâng cao nhân lực trí tuệ trình độ lý luận của Đảng. Trong hoạt động trực
tiếp phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Phải đổi mới cơ chế quản lý
và đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, chống bảo thủ, trì
trệ quan liêu.
21
Song để làm được tất cả những chính sách đề ra, phải có một Nhà nước chuyên
chính vô sản, một nhà nước thực sự của dân do dân và vì dân.
Cho đến nay, không phải mọi vấn đề về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội hoá ở
nước ta đều được hoàn toàn làm rõ, thậm chí nhiều vấn đề còn trở nên phức tạp hơn so


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status