Tài liệu Tiểu luận "Kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". - Pdf 97

BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài "Kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
Sau năm 1991 cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước
xã hội chủ nghĩa(XHCN) ở Đông Âu, nền kinh tế – chính trị thế giới đã
chuyển từ trạng thái hai cực đối đầu sang nền kinh tế chính trị đa cực, đa
phương hoá, đa dạng hoá theo xu hướng hoà bình, đối thoại, hợp tác phát
triển cùng có lợi.
Trong bối cảnh đó, từ việc nhận thức đúng đắn trong thực tiễn và lý
luận với mục tiêu đưa nước ta phát triển hội nhập với khu vực và thế giới.
Ngay từ đại hội Đảng VI, Đảng ta đã xác định “Chuyển đổi mô hình kinh tế
chỉ huy mang nặng tính bảo thủ trì trệ sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần và vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng XHCN ”. Hiện nay nền kinh tế nước ta bao gồm 6 thành phần
kinh tế trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với
các thành phần kinh tế tập thể tạo nên một nền tảng vững chắc cho nền kinh
tế quốc dân.
Sau 17 năm đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,
nền kinh tế hàng hoá phát triển rất sôi động mở ra cho nước ta nhiều vận hội
mới, đồng thời cũng phát sinh không ít khó khăn và thách thức. Trên cơ sở
những thành tựu đã đạt được và những khó khăn trước mắt. Báo cáo chính
trị đại hội Đảng IV một lần nữa khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà
Nước ta “thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần” và nói rõ thêm “Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều
là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

đối. Nên xét về khía cạnh hình thức tổ chức, thì khu vực KTNN bao gồm:
- Các DNNN hoạt động kinh doanh và các DNNN hoạt động công ích
- Các doanh nghiệp có cổ phần Nhà nước chi phối hoặc có cổ phần
đặc biệt của Nhà nước (theo quy định của Luật DNNN)
- Các doanh nghiệp có vốn đóng góp của Nhà nước
- Các tổ chức sự nghiệp kinh tế của Nhà nước

Còn nếu xét về khía cạnh của lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế thì khu
vực KTNN bao gồm các hoạt động của Nhà nước trong việc.
- Quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên
- Đầu tư, quản lý và khai thác các công trình hạ tầng kỹ thuật (đường
xá , bến bãi, cảng, các khu công nghiệp tập trung vv…)
- Các tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nông
nghiệp, thương mại, dịch vụ, trong lĩnh vực tài chính, tính dụng, ngân hàng

1.2 Cơ sở hình thành kinh tế nhà nước
KTNN mà trước tiên là các DNNN được hình thành trên cơ sở:
- Nhà nước đầu tư xây dựng
- Quốc hữu hoá các doanh nghiệp tư bản tư nhân
- Góp cổ phần khống chế với các doanh nghiệp tư nhân
Ngoài ra với bản chất XHCN của mình Nhà nước ta đã xác định: Đất
đai, tài nguyên thiên nhiên, tài chính, ngân hàng …Do Nhà nước nắm giữvà
quản lý với mục đích chi phối và điều tiết dịnh hướng sự phát triển kinh tế
xã hội
1.3 Đặc điểm của TPKTNN
Đặc điểm cơ bản, nổi bật nhất của thành phần KTNN là nó thuộc sở
hữu của Nhà nước. Tuy nhiên ở đây ta phải phân biệt ro ràng giữ phạm trù
sở hữu Nhà nước với phạm trù quyền sử dụng của thành phần KTNN.
Sở hữu Nhà nước là một phạm trù rộng lớn hơn nếu ta đem so sánh với
phạm trù KTNN với lý do: Đã nói đến thành phần KTNN thì trước hết nó

nhận thức và vận dụng những quy luật kinh tế khách quan vào nền kinh tế,
đồng thời Nhà nước đưa ra các chính sách vĩ mô nhằm khắc phục nhưng hạn

chế của cơ chế thị trường tạo ra động lực mới cho phát triển kinh tế vv…Vì
thế mà Samuelson đã nhận định “Thiếu sự can thiệp của Nhà nước vào nền
kinh tế chẳng khác nào vỗ tay bằng một bàn tay”. Dựa trên những chế độ
chính trị xã hội khác nhau mà vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế và
những công cụ điều tiết nền kinh tế của Nhà nước cũng khác nhau. Nếu
KTNN ở Việt nam là đặc trưng của nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN thì KTTB độc quyền Nhà nước lại là đặc trương của nền kinh tế thị
trường của các nước TBCN. Giữa chúng có những điểm khác nhau căn bản
sau đây:
Thứ nhất, quan điểm lý luận của các nước XHCN thừa nhận rộng rãi
tính chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế là đặc trưng cơ bản để phân biệt
thể chế kinh tế thị trường XHCN và kinh tế thị trường TBCN. Trên cơ sở đó
KTNN hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực quan trọng, then chốt
của xã hội. Không những thế KTNN còn nắm vai trò chủ đạo trong những
ngành hoạt động khác, vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu là phục vụ cho lợi
ích toàn xã hội như: quốc phòng, giáo dục, y tế vv…Ở các nước TBCN ở
thời kỳ độc quyền Nhà nước thì Nhà nước luôn phụ thuộc vào các tổ chức
độc quyền, các hoạt động của Nhà nước tác động vào các quá trình kinh tế
nhằm đêm lại lợi nhuận độc quyền, các tổ chức này luôn hoạt động trong
lĩnh vực độc quyền của mình và thu được lợi nhuận độc quyền cao.
Thứ hai, nếu xét về bản chất sự ra đời của tư bản độc quyền Nhà
nước không làm thay đổi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà chỉ là sự kết
hợp về con người giữa tổ chức độc quyền và Nhà nước, các tổ chức độc
quyền chỉ đem lại lợi ích chủ yếu cho một số người trong xã hội. Còn KTNN
ở nước ta là thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
trong đó Nhà nước là người đứng ra đại diện sở hữu cho toàn dân. Do đó các
thành phần KTNN được tổ chức sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc hạch

nghiệp quốc doanh, tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp và sản xuất nhỏ ở
thành thị. Kết quả đến năm 1960 đã có:
-Trong công nghiệp:
+ Số xí nghiệp quốc doanh thuộc KTNN: 1012
+ Các xí nghiệp quốc doanh tạo ra 53,3% giá trị tổng sản lượng
công nghiệp.
- Trong nông nghiệp:
+ Số nông trường quốc doanh: 56
+ Sử dụng 74800 ha đất nông nghiệp.
+ Kinh tế quốc doanh tạo ra 2% giá trị tổng sản lượng nông
nghiệp.
- Thương nghiệp quốc doanh chiếm:
+ 93,6% tổng mức bán buôn.
+ 51% tổng mức bán lẻ.
Kinh tế quốc doanh đã thu hút và sử dụng lực lượng lao động gồm
477000 người. Như vậy, kinh tế quốc doanh từ chỗ rất nhỏ bé vươn lên trở
thành lực lượng kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Với chủ trương
xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đi lên CNXH, vai trò chủ đạo, chủ lực
đã được giao cho kinh tế quốc doanh.
2. Giai đoạn từ 1960-1975
Với chủ trương công nghiệp hoá XHCN ở miền Bắc “ưu tiên phát
triển công nghiệp nặng một cách hợp lý” nhà nước tiếp tục đầu tư xây dựng
kinh tế quốc doanh ngày càng lớn mạnh về số lượng. Bên cạnh các khu công

nghiệp cũ đã được cải tạo ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, 1 loạt các khu
công nghiệp mới ra đời như Thượng Đình, mỏ Minh Khai, Đông Anh Hà
Nội, Việt Trì, Thái Nguyên, Vinh…Trong giai đoạn này KTQD phát triển
mạnh mẽ trong các ngành điện lực, cơ khí, hoá chất khai thác. Đến năm
1975 lĩnh vực sản xuất công nghiệp đã có 1357 xí nghiệp quốc doanh, lĩnh
vực sản xuất nông nghiệp có 72 nông trường quốc doanh, tổng số cán bộ

Trong những năm 1980-1985 mặc dù nền kinh tế nước ta gặp rất
nhiều khó khăn so với trước, năng lực sản xuất của kinh tế quốc doanh nói
riêng và sức sản xuất xã hội nói chung không được sử dụng hết do thiếu vật
tư một cách nghiêm trọng song xuất phát từ quan niệm truyền thống về quan
hệ sản xuất XHCN nên các giải pháp tháo gỡ trong giai đoạn này vẫn tập
trung chủ yêu vào cải tiến quản lý đối với xí nghiệp quốc doanh. ở giai đoạn
này cơ chế kế hoạch hoá tập trung thuần tuý đã được cải tiến dần trên
nguyên tắc phi tập trung hoá trong quản lý kinh tế, song kinh tế quốc doanh
vẫn giữ vai trò tuyệt đối đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
các xí nghiệp quốc doanh nắm toàn bộ các nghành then chốt như : điện,
luyện kim, khai thác, xi măng, gang thép, hoá chất cơ bản…Tuy nhiên đóng
góp của các xí nghiệp quốc doanh vào tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân đã giảm, tính đến năm 1985 kinh tế quốc doanh chỉ tạo ra được
37% tổng sản phẩm xã hội và 28% thu nhập quốc dân.
5. Giai đoạn từ 1985-1990.
Giai đoạn bắt đầu thực hiện đổi mới kinh tế, tư tưởng xây dựng một
nền kinh tế nhiều thành phần được đưa ra. Trong quá trình hình thành kinh
tế nhiều thành phần công tác quản lý kinh tế quốc doanh vẫn tiệp tục được
cải tiến theo hướng phi tập trung hoá, kế hoạch hoá và quản lý đối với kinh

tế quốc doanh. Điểm nổi bật trong cải tiến quản lý ở giai đoạn này là việc
tách bạch giữa quyền quản lý nhà nước về kinh tế và quyền quản lý sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, quan điểm mới nổi bật ở giai
đoạn này là quan niệm không phải nền kinh tế quá độ nên CNXH ở nước ta
chỉ có kinh tế quốc doanh, chủ trương của đảng và nhà nước ta không chỉ bó
hẹp trong phạm vi cải tiến quản lý đối với kinh tế quốc doanh mà còn phát
huy sức sản xuất của kinh tế tư nhân, cá thể cũng như các thành phần kinh tế
khác. Trong cơ chế kinh tế mới đó kinh tế quốc doanh vẫn đóng vai trò chủ
đạo nhưng không phải độc tôn. Năm 1990, kinh tế quốc doanh tạo ra 66%
tổng sản phẩm xã hội.

như trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thành phần kinh tế tư bản
tư nhân giữ vai trò thống trị thì trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN như ở nước ta thì thành phần KTNN giữ vai trò chủ đạo và KTNN
cùng với kinh tế tập thể được xây dựng và phát triển để ngày càng trở thành
nền tảng vững chắc cho sự đi lên và phát triển của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta sở dĩ thành
phần KTNN giữ vai trò chủ đạo bởi vì những lý do chính sau:
Thứ nhất, chúng ta đều biết “chính trị là biểu hiện tập trung của kinh
tế ”. Nền chính trị của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo với
mục tiêu dưa nước ta tiến lên CNXH, thực hiện “dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ văn minh”. Thành phần KTNN của nước ta mà trước hết
là các doanh nghiệp Nhà nước cũng phải phục vụ cho nhiệm vụ này.
Trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta do hạn chế của trình
độ lực lượng sản xuất phát triển còn thấp, các quan hệ sở hữu còn tồn tại
dưới nhiều hình thức, do đó nền kinh tế nước ta ở giai đoạn này là một nền
kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường. Tuy vây,
cơ chế thị trường không phải là hiện thân của sự hoàn hảo. Bên cạnh những
ưu điểm to lớn của nó mà không ai có thể phủ nhận thì nó cũng tồn tại
những khuyết tật như: gây ra sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, khủng
hoảng kinh tế, các tệ nạn xã hội vv… điều đó đòi hỏi cơ chế thị trường phải

có bàn tay quản lý, điều tiết của Nhà nước. Và công cụ hữu hiệu nhất mà
thông qua nó nhà nước thể hiện vai trò điều tiết của mình đó là thành phân
KTNN. Chỉ có KTNN mới có thể bảo đảm vững chắc định hướng XHCN,
đảm bảo cho lợi ích của người lao động, khắc phục những tiêu cực, khuyết
tật và hạn chế của cơ chế thị trường, phân phối lại thu nhập quốc dân một
cách công bằng là động lực thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế, gắn
liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công băng xã hội. Vai trò
đó của KTNN đã được chứng minh qua thưc tiễn phát triển kinh tế và ổn
định xã hội ở nước ta sau đổi mới đến nay:

trong nền kinh tế quốc dân do đó chỉ có KTNN mới có khả năng chi phối,
dẫn dắt các thành phần kinh tế khác, đảm bảo được các mục tiêu phát triển
KT-XH, thực hiện CNH-HĐH trong điều kiện thị trường vẫn chưa hoàn
thiện, người dân có thu nhập thấp, tích luỹ không đủ tạo nguồn đầu tư cơ
bản, kinh tế tư nhân còn nhỏ bé thì DNNN có vai trò huy động vốn đầu tư
xây dựng những công trình lớn, hiện đại. Mặt khác với sự phát triển ngày
càng cao của nền kinh tế đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng tốt để bảo đảm
cho nền kinh tế phát triển nhanh, mạnh và bền vững. Nhưng thường thì
những ngành này đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm
hoặc có lãi suất thấp như các ngành: giao thông vận tải, giáo dục, y tế, năng
lượng vv…Để thực hiện được điều đó đòi hỏi Nhà nước phải đầu tư trực tiếp
vào các lĩnh vực này nhằm củng cố thêm nội lực cho thành phần KTNN để
đạt được các mục đích: dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo định hướng
XHCN, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển một cách toàn diện, vững chắc,
chống khủng hoảng kinh tế, ngăn ngừa những đột biến xấu trong nền kinh
tế. Ngoài ra DNNN là lực lượng vật chất chủ lực để nhà nước can thiệp, bình

ổn thị trường, hạn chế ảnh hưởng xấu của ngành nghề độc quyền tự nhiên có
tác hại lớn cho nền kinh tế.
Thứ ba, trong xu thế toàn cầu hoá hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ có
DNNN là những đơn vị tổ chức kinh tế lớn của quốc gia là có đủ khả năng
hợp tác liên doanh với các công ty lớn quốc tế đồng thời làm đối trọng với
họ trên thị trường trong nước và vươn ra thị trường quốc tế, góp phần quan
trọng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ của đất nước.
Không chỉ riêng Việt Nam mà Trung Quốc cũng là nước chủ trương
xây dựng CNXH thông qua phát triển nền kinh tế thị trường mà KTNN giữ
vai trò chủ đạo, với tỉ trọng trên70% của chế độ công hữu trong toàn bộ nền
kinh tế song Trung Quốc vẫn giữ mức tăng trưởng kinh tế vào loại cao nhất
thế giới, đạt khoảng trên dưới 10% liên tục trong nhiều năm và đang có dự
báo cho rằng trong tương lai không xa Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế

công cụ xã hội khác nhau trong đó DNNN là công cụ thiết yếu.
Ở nước ta các DNNN được hình thành ở các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh
được coi là không hấp dẫn bởi khả năng sinh lời thấp. Chẳng hạn là khu vực
sản xuất sản phẩm công cộng. Thực hiện chức năng điều tiết của DNNN
theo hướng này tạo ra tính cân đối giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân.
Với tư cách là công cụ điều tiết, việc hình thành và tồn tại của các DNNN
trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào đó không cố định, luôn được nhà
nước thực hiện theo phương châm: ở đâu, khi nào nền kinh tế kinh quốc dân
dang cần mở rộng sản xuất kinh doanh một mặt hàng cụ thể nào đó mà các
doanh nghiệp dân doanh hoặc không đủ sức kinh doanh hoặc chối từ thì ở đó
và khi đó cần có sự có mặt của DNNN. Đến một lúc nào đó khi các doanh
nghiệp dân doanh đã đủ sức đáp ứng nhu cầu thị trường, DNNN có thể rút

khỏi thị trường đó nhường chỗ cho các doanh nghiệp dân doanh, quá trình
đó diễn ra một cách liên tục, lặp đi lặp lại ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế
hình thành vai trò điều tiết của DNNN.
Chức năng điều tiết của DNNN còn thể hiện ở việc điều tiết kinh tế
trong phạm vi từng vùng. Ở từng vùng cũng diễn ra hiện tượng các doanh
nghiệp dân doanh chỉ đổ xô vào kinh doanh các mặt hàng dễ sinh lợi nhuận
nên dẫn đến những mất cân đối trong sản xuất kinh doanh của từng vùng.
Chính DNNN cũng phải xuất hiện ở các ngành mà những vùng kinh tế của
đất nước đang đòi hỏi nhằm điều tiết cung cầu ở các vùng đó. Chức năng
điều tiết vùng của DNNN đặc biệt quan trọng đối với các vùng xa, vùng sâu
và vùng nông thôn.
Nội dung thứ hai. Do KTNN nắm giữ phần lớn tài sản của nền kinh
tế nên tạo ra giá trị hàng hoá và dịch vụ công cộng khả dĩ chi phối được giá
cả thị trường, dẫn dắt giá cả thị trường bằng chính chất lượng và giá cả của
sản phẩm và dịch vụ do mình cung cấp đồng thời tạo ra các sản phẩm và
dịch vụ có tác dụng thúcđẩy các ngành và các thành phần kinh tế khác phát
triển.

DNNN đạt 11,7%. tỉ lệ đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân GDP đạt
40,3%. Đồng thời quá trình tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước đã
mở rộng quy mô vốn của các doanh nghiệp, giảm được sự tài trợ đáng kể
của ngân sách nhà nước, một số ngành mới đã và đang áp dụng công nghệ
cao thực sự mang lại hiệu quả đáng kể như: dầu khí, năng lượng, bưu chính
viễn thông vv… Trong đó quyền chủ động của các sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được phát huy.

Tuy vậy cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay còn
tồn tại nhiều bất cập, hạn chế như việc doanh nghiệp hoạt động chông chéo
về ngành nghề kinh doanh, cấp quản lý. Còn các doanh nghiệp cùng thuộc
một ngành thì phân bố rất phân tán, manh mún thuộc nhiều cơ quan quản lý
khác nhau. Ví dụ như ở địa bàn Hà Nội các ngành sản xuất thiết bị có 35 đơn
vị, trong đó có 27 doanh nghiệp do Trung ương quản lý nhưng lại được tập
trung vào 7 đầu mối quản lý khác nhau. Bộ Công nghiệp có 8 doanh nghiệp,
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có 8 doanh nghiệp và Bộ Xây dựng
có 7 doanh nghiệp.
2. Kỹ thuật và công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước
Kể từ khi chúng ta chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hoá tập
trung quan liêu bao cấp (mô hình kinh tế chỉ huy hướng nội) sang cơ chế thị
trường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước. Đảng ta đã nhanh
chóng vận dụng những bài học thành công về công nghiệp hoá - hiện đại
hoá của các nước trên thế giới để chuyển sang mô hình kinh tế hướng ngoại.
Điều này đã tạo cho KTNN nói riêng và tổng thể nền kinh tế nước ta có
nhiều thuận lợi trong vấn đề chuyển giao công nghệ. Song nhìn chung hiện
nay trình độ khoa học công nghệ nước ta còn lạc hậu, thấp kém. So với các
nước láng giềng chúng ta còn kém xa, chúng ta chậm 10 năm so với Trung
Quốc, chậm từ 20-30 năm so với Đài Loan ở thời điểm bắt đầu công nghiệp
hoá.
Đồng thời với quá trình tiếp nhận và chuyển giao công nghệ KTNN ở

xí nghiệp kinh tế quốc doanh sang vai trò một phát nhân có quyền tổ chức và
kinh doanh hàng hoá độc lập. Tuy nhiên cơ chế quản lý mới còn vướng ở
một số điểm như cơ chế thực khi sở hữu nhà nước vẫn tỏ ra chưa hiệu quả

do vẫn tồn tại các mảnh của chế độ chủ quản hành chính trước kia ( như
duyệt dự án đầu tư mới, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt, kiểm tra chức năng của
cơ quan chủ quản…) đồng thời lại buộc phải thừa nhận quyền tự chủ quá
rộng rãi của doanh nghiệp, do đó dẫn đến doanh nghiệp vừa làm vừa lo, còn
cơ quan quản lý nhà nước vẫn thích can thiệp trực tiếp quá nhiều vào công
việc của doanh nghiệp mà không phải chịu trách nhiệm
Điển hình cho tình trạng này là vụ việc của công ty Dệt Nam Định.
Một phần hoạt động sai nguyên tắc tài chính của Dệt Nam Định là đầu tư
vào 26 dự án không hiệu quả song cả 26 dự án này đều được Bộ Công
Nghiệp ký duyệt, các cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra thanh tra vừa phân
tán vừa chồng chéo ( do các văn bản pháp quy cũ mâu thuẫn với nhau song
không được sàng lọc ) Nhưng đồng thời lại không có một cơ quan nhà nước
nào chịu trách nhiệm cho sự mất mát tài sản của nhà nước. Cuối cùng phó
mặc cho doanh nghiệp phải tự bảo toàn vốn. Song chúng ta quên rằng trong
nền kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp, dù là DNNN đi chăng nữa đều đại
diện cho một lợi ích độc lập, đó là lợi ích doanh nghiệp. Nếu nhà nước
không quản lý tốt ( mà điều này khó làm được nếu không có những tiêu
chuẩn tốt về kế toán, thống kê, kiểm toán ) thì doanh nghiệp sẵn sàng biến
lợi nhuận thành chi phí hợp pháp dưới dạng lương thưởng cho cán bộ và
công nhân. Ngoài ra còn có những khó khăn trong việc phân định thua lỗ do
rủi ro hay do sự thiếu trách nhiệm của những người có liên quan chính vì thế
có thể thấy tình trạng tài chính không rõ ràng và cực kỳ bê bối của DNNN
hiện nay thể hiện qua nợ khó đòi trở thành phổ biến, doanh nghiệp không thể
phá sản vì chủ nợ không đệ đơn… Là hậu quả của chính tình trạng thể chế
hoá sở hữu nhà nước chưa tìm được hình thức hợp lý.
4. Hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước.

các DNNN có đến 70% là hoạt động có lãi và khi lãi khi lỗ. Số DNNN thua
lỗ tuy còn nhiều nhưng chỉ là thiểu số. Ở Trung Quốc có 500 doanh nghiệp
hàng đầu là các DNNN lớn sản xuất kinh doanh có hiệu quả làm đầu tầu
thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển. ở nhiều nước khác cũng đều có DNNN
hoạt động có hiệu quả và doanh nghiệp tư nhân bị thua lỗ phải phá sản.
Như vậy thua lỗ, hiệu quả thấp là đồng hành của cả DNNN và doanh
nghiệp tư nhân. Có nhiều nguyên nhân không liên quan đến sở hữu doanh
nghiệp trong đó có nguyên nhân rất cơ bản là điều kiện sản xuất kinh doanh
của nước ta còn gặp nhiều khó khăn, biến động rủi ro lớn các doanh nghiệp
còn nhiều hạn chế yếu kém, nhất là trình độ quản lý, kinh nghiệm thương
trường.
5. Những cơ hội và thách thức mới đối với doanh nghiệp nhà nước trong
thời gian tới.
Trong tương lai không xa DNNN phải đối mặt với hai sức ép cạnh
tranh lớn, sức ép cạnh tranh thứ nhất là cạnh tranh với các doanh nghiệp
thuộc thành phần kinh tế khác và chuẩn bị cho một cuộc cạnh tranh với các
doanh nghiệp nước ngoài, các tập đoàn kinh tế mạnh, các tập đoàn kinh tế
siêu quốc gia sau khi chúng ta hoàn thành tiến trình ra nhập vào AFTA hay
sau khi hiệp định tự do thương mại Việt-Mỹ có hiệu lực thi hành.
Về các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác: ở nước ta sau khi
có luật doanh nghiệp ra đời chỉ trong một thời gian ngắn, các doanh nghiệp
thuộc thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất phát
triển một cách rầm rộ người ta ví như hình ảnh “ nấm mọc sau cơn mưa” cả
nước có khoảng 23000 doanh nghiệp loại này đầu tư một khoản vốn khoảng
25000 tỉ đồng vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Ngoài một số
lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước, còn lại các

Trích đoạn Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổng công ty nhà nước; hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh. Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện giao bán, khoán kinh doanh, cho thuê, sáp nhập, giải thể, phá sản doanh nghiệp nhà nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status