TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
TIỂU LUẬN
Đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư
gián tiếp (FPI)
MỤC LỤC
Lời mở đầu: 2
Khái quát về đầu tư gián tiếp nước ngoài: 4
Khái niệm đầu tư gián tiếp nước ngoài: 4
Đặc điểm của đầu tư gián tiếp nước ngoài: 4
Tính bất ổn định: 4
Dòng FPI tỷ lệ thuận theo cấp số nhân cũng với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa
các doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
đang hoạt động hiệu quả ở trong nước, cùng với việc mở rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phần
của các nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp 14
Thực trạng đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam: 14
Sự cần thiết thu hút FPI ở Việt Nam: 14
Nhìn chung, nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FPI) là một tiềm năng rất lớn đối với thu
hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Với các yếu tố thuận lợi khách quan, Việt
Nam hoàn toàn có khả năng khai thác tiềm năng dòng chảy vốn FII của thế giới
phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 17
Đặc điểm của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam: 17
Các giải pháp nhằm thu hút FPI ở Việt Nam: 28
Định hướng thu hút FPI của Việt Nam trong thời gian tới: 28
Những ưu thế và trở ngại trong việc tăng cường thu hút FPI vào Việt Nam: 29
Các giải pháp cho việc thu hút vốn FPI vào Việt Nam: 30
Kết Luận: 34
Lời mở đầu:
Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài ngày càng giữ vai trò
quan trong đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này bao gồm
Từ khái niệm trên ta có thể thấy, trong hoạt động đầu tư gián tiếp nước
ngoài, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát hành
chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành
chứng khoán. Theo đó, nhà đầu tư đầu tư nhưng không kèm theo cam kết
chuyển giao tài sản vật chật, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm
quản lý. Một cách đơn giản hơn, FPI là đầu tư tài chính thuần tùy trên thị
trường tài chính.
Đặc điểm của đầu tư gián tiếp nước ngoài:
Tính bất ổn định:
Mục tiêu của các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư gián tiếp là tỷ suất lợi
tức cao mà không quan tâm đến quá trình kinh doanh sản xuất. Vì vậy, các
nhà đầu tư luôn có xu hướng thay đổi các chứng khoán hoặc tài sản mình
đang sở hữu, nhằm tìm kiếm mức lợi tức cao nhất họ có thể đạt được với độ
rủi ro thấp nhất. Việc này dẫn tới tính mất ổn định của dòng vốn FPI. Sự bất
ổn định, trong một giới hạn nào đó có thể có lợi do nó làm cho thị trường tài
chính nội địa hoạt động năng động và hiệu quả hơn, vốn đầu tư không ngừng
được phân bổ lại, dịch chuyển từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nơi có tỷ
suất lợi nhuận cao. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra với tốc độ quá nhanh,
những ảnh hưởng xấu đến hệ thống tài chính và dễ xảy ra tình trạng mất ổn
định trong nền kinh tế, đặc biệt là đối với những nước có thị trường tài chính
mới hình thành, còn non kém, chưa sẵn sàng với những biến đổi đột ngột và
bất ngờ như thị trường tài chính Việt Nam.
2.2. Tính dễ đảo ngược:
Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FPI thực sự gây tác động xấu đến nền
kinh tế và là hệ quả tất yếu của tính bất ổn định. Chỉ trong một thời gian
ngắn, luồng vốn FPI có thể chuyển sang một thị trường khác để lại hậu quả
khôn lường cho nền kinh tế. Kinh nghiệm khủng hoảng kinh tế tài chính của
Châu Á vào cuối thập niên 90 của thế kỷ 20 đã cho thấy tác hại của sự đảo
ngược dòng vốn FPI khi nền kinh tế của các quốc gia này xuất hiện các
khoảng trống khó bù đắp, hậu quả là những nền kinh tế bong bóng nhanh
tăng yêu cầu và hiệu quả áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước
hết trên thị trường chứng khoán Tất cả những điều này trực tiếp và gián tiếp
góp phần phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận và tổng thể thị trường tài
chính nói riêng, các thể chế và cơ chế thị trường nói chung trong nền kinh tế
chuyển đổi Việt Nam.
Thứ ba, góp phần tăng cường cơ hội và đa dạng hoá phương thức đầu
tư, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và thu nhập của đông đảo người dân.
Việc phát triển thị trường vốn đầu tư gián tiếp cả về bề rộng và bề sâu sẽ
mang lại những cơ hội mới và sự đa dạng hoá trong lựa chọn các phương
thức đầu tư cho các nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài và trong nước.
Thứ tư, góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo
các nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Sự gia tăng
dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và phát triển thị trường tài chính sẽ đặt
ra những yêu cầu mới và cũng tạo các công cụ, khả năng mới cho quản lý
nhà nước nói chung và quản lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng. Việc quản lý
và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiện nghiêm
túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh bạch
hoá, cập nhật hoá thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp
đã và sẽ phát hành. Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ lựa chọn đầu
tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển
vọng, phát triển tốt trong tương lai. Chính điều này sẽ cho phép quá trình
“chọn lọc nhân tạo”, “bỏ phiếu” cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp
này trở nên khách quan và phù hợp cơ chế thị trường hơn (còn những doanh
nghiệp khác mà chứng khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại
định hướng và chất lượng quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể). Hệ
thống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân tỏng hệ thống
quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài chính, nhất là đến đầu tư gián
tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt
động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng như theo các cam
kết hội nhập quốc tế. Đồng thời, thông qua tác động vào thị trường tài chính,
hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp.
Thứ ba, làm tăng quy mô, tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình
trạng tội phạm kinh tế quốc tế. Đầu tư gián tiếp quốc tế không chỉ làm gia
tăng cácnguy cơ và tác hại của các hoạt động đầu cơ, lũng đoạn kinh tế vi
phạm các quy định pháp lý của nước tiếp nhận đầu tư, mà còn là mảnh đất
màu mỡ sinh sôi và phát triển các loại tội phạm kinh tế có yếu tố nước ngoài,
thậm chí xuyên quốc gia, như hoạt động lừa đảo, hoạt động rửa tiền, hoạt
động tiếp vốn cho các kinh doanh phi pháp và hoạt động khủng bố, cùng các
loại tội phạm và các đe doạ an ninh phi truyền thống khác. Sự cộng hưởng
của các hoạt động tội phạm và tác động mặt trái của dòng vốn đầu tư gián
tiếp nước ngoài kể trên, nhất là khi chúng diễn ra một cách “có tổ chức” của
giới đầu cơ hay lực lượng thù địch chính trị quốc tế, sẽ ít nhiều, trực tiếp hay
gián tiếp, trước mắt và lâu dài gây tổn hại tới hoạt động kinh tế lành mạnh và
làm tăng tính dễ tổn thưởng của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư trong bối
cảnh toàn cầu hoá hiện nay; Thậm chí trong một số trường hợp, chúng còn
làm mất uy tín nhà nước và gây sụp đổ một nội các Chính phủ.
Ngoài ra, sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt
Nam còn đặt ra yêu cầu Chính phủ và các cơ quan Trung ương phải chủ động
đổi mới và sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế của mình theo
nguyên tắc thị trường hơn, trong đó có việc sử dụng bảo lãnh nhà nước, quy
định tỷ lệ và sử dụng các công cụ dự phòng, dư nợ cũng như các công cụ
khác của các định chế tài chính - tiền tệ quốc gia và địa phương. Tất cả
những điều này là cần thiết để đảm bảo sự thu hút và khai thác có hiệu quả
các tác động tích cực của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
2. So sánh FPI và FDI:
Theo Luật đầu tư 2005, “đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là việc nhà
đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản
nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định”.
Từ đó, ta có thể rút ra những điểm giống và khác nhau của FPI và FDI
như sau:
nhiên, nếu nắm giữ một số cổ phần nhất định, FPI có thể chuyển thành FDI,
nhà đầu tư có quyền ra quyết định với công ty họ đang bỏ vốn.
Đặc điểm nổi bật nhất của FPI là tính bất ổn định. Việc bán chứng
khoán diễn ra đơn giản hơn nhiều so với việc hủy bỏ một dự án đầu tư trong
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó, tốc độ luân chuyển vốn của FPI cao hơn
nhiều so với FPI. Điều này có thể giúp các nền kinh tế mới nổi tăng tính linh
hoạt, thúc đẩy quá trình phát triển của mình. Tuy nhiên, trong thời kỳ kinh tế
suy thoái, lượng vốn ra và vào quá nhanh lại khiến cho nền kinh tế mất tính
cân bằng, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất. Ngược lại, FPI là
nguồn bổ sung vốn dài hạn cho nước chủ nhà, không dễ bị rút đi trong thời
gian ngắn vì gắn liền với hoạt động của dự án. Nước chủ nhà sẽ được tiếp
nhận một nguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không phải
lo trả nợ.
FDI không chỉ gắn liền với việc di chuyển vốn mà còn đi kèm với hoạt
động chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm, tạo thị
trường mới cho cả bên đầu tư và bên tiếp nhận đầu tư. Vốn FDI không chỉ
bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà
còn bao gồm cả vốn vay doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng
như vốn đầu tư trích từ lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của
doanh nghiệp. Thông thường, FDI thường đi kèm với ba yếu tố: hoạt động
thương mại (xuất, nhập khẩu), chuyển giao công nghệ và di cư lao động quốc
tế. Trong khi đó, FPI chỉ đơn thuần là luân chuyển vốn từ nước đầu tư sang
nước tiếp nhận đầu tư.
Cuối cùng, để thực hiện được FPI, cần có một hệ thống tài chính hoạt
động hiệu quả. Trong khi đó, các nước kém phát triển lại có hệ thống tài
chính yếu, nên FPI có xu hướng luân chuyển giữa các nước phát triển với
nhau, hoặc giữa nước đang phát triển sang nước phát triển, hơn là luân
chuyển sang các nước đang phát triển. Trái lại, FDI có xu hướng chuyển từ
nước phát triển sang các nước đang phát triển nhằm tìm kiếm thị trường,
nguồn nhân công rẻ và lợi nhuận cao.
hàng. Loại quỹ này có tiềm lực tài chính mạnh, quay vòng vốn nhanh nên
khả năng đầu tư vào thị trường cao. Tuy nhiên để tiếp cận được nguồn vốn
này thì các doanh nghiệp phải đáp ứng các nhu cầu khắt khe hơn từ phía nhà
đầu tư.
Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Funds): đầu tư mạo hiểm là việc
các chuyên gia đầu tư tiến hành bỏ vốn vào các công ty có tiềm năng mặc dù
còn mới. Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh của
công ty mà đóng vai trò cố vẫn, hỗ trợ các giải pháp điều hành tiên tiến để
thúc đầy sự phát triển kinh doanh. Những lĩnh vực mà nhà đầu tư lựa chọn
thường là những lĩnh vực có khả năng phát triển cao. Nhà đầu tư mạo hiểm
thường đầu tư vào những lĩnh vực mới, lĩnh vực công nghệ cao nên quỹ đầu
tư mạo hiểm trở thành người đỡ đầu cho các công ty mới hình thành, thiếu
vốn và uy tín. Các quỹ đầu tư mạo hiểm thường được thành lập tư các công
ty hoặc tập đoàn kinh tế lớn nên có tiềm lực kinh tế mạnh, đội ngủ chuyên
gia đầu tư hung hậu, có khả năng phân tích tình hình đầu tư. Các chiến lược
đầu tư thường là dài hạn và đã có sự tính toán tỉ mỉ. Các quỹ đầu tư mạo
hiểm thường thu lợi rất lớn nếu dự án thành công, nhưng rủi ro, nếu xảy ra,
cũng có hậu quả nặng nề hơn các hình thức đầu tư khác.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn FPI.
Nguồn vốn FPI chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
- Bối cảnh quốc tế (hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và
môi trường pháp lý quốc tế thuận lợi).
- Nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài.
- Mức độ tự do hóa và cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự thân
thiện, sự thuận tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường
đầu tư trong nước.
- Sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói
riêng, của các thể chế thị trường nói chung ở nước tiếp nhận đầu tư.
Ngoài ra dòng FPI cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố khác
như:
2010) để xây dựng, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng
xã hội. Các doanh nghiệp Việt Nam đang trong quá trình cải cách và cổ phần
hóa nhằm gia tăng năng lực và hiệu quả cạnh tranh khi gia nhập WTO. Cổ
phần hóa phải đi đôi với việc hình thành các thị trường vốn, các kênh huy
động vốn (hạt nhân là thị trường chứng khoán (TTCK). Các mối quan hệ
kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyển nhanh sẽ góp phần tạo ra các hiệu ứng
tốt tác động đến các doanh nghiệp. Lợi ích của hội nhập không những được
đánh giá thông qua sự luân chuyển (vào, ra) dễ dàng của dòng hàng hóa,
dòng người mà còn có cả dòng vốn.Việc tham gia của các nhà đầu tư FII sẽ
có tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính, giúp cho thị trường tài chính
minh bạch và hoạt động hiệu quả hơn, xác lập giá trị thị trường của các cổ
phiếu niêm yết một cách chuyên nghiệp, giảm thiểu những dao động “phi thị
trường” và góp phần giải quyết một cách cơ bản các mối quan hệ kinh tế
(vốn, công nghệ, quản lý…).
Hơn nữa, FPI có thể giúp vốn cho doanh nghiệp trong nước, giúp doanh
nghiệp tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, do vậy FPI rất quan
trọng đối với các doanh nghiệp trong nước đang thiếu vốn.
Tuy nhiên, dòng vốn FPI cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh
huy động vốn từ nước ngoài khác. Do vậy, thúc đẩy thu hút FPI ổn định,
tương xứng với tiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển thị trường vốn,
nâng cao năng lực quản trị của nhà doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam
thời kỳ hậu WTO là vấn đề cần được quan tâm.
2. Các giai đoạn thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ở Việt
Nam:
- Giai đoạn 1(1995-1998): Là thời kỳ mở đầu cho dòng vốn FPI vào
Việt Nam theo xu hướng mở cửa và hội nhập, tạo động lực, hy vọng chung
cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn này Việt Nam có 7 quỹ đầu
tư nước ngoài được thành lập với tổng số vốn huy động được khoảng 400
triệu USD.
- Giai đoạn 2 (1998-2002): là thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng
chứng khoán và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, FPI từ tháng 5-2008 đến
khoảng tháng 3-2009 đã có giảm rõ rệt, lần lượt các nhà đầu tư rút ra khỏi thị
trường Việt Nam, đỉnh điểm là vào cuối năm 2008, giao dịch gần như đóng
băng. Tuy nhiên, theo một số nhận định của các chuyên gia kinh tế, kế từ
quý II/2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã quay trở lại thị trường Việt Nam,
tuy nhiên còn khá dè dặt.
3. Tiềm năng thu hút vốn FPI ở Việt Nam:
Theo khảo sát của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) gần đây cho thấy, vào năm
2001 lợi nhuận từ vốn FPI thế giới tăng gấp 2 lần vốn FDI. Trong vòng 4
năm, đầu tư gián tiếp toàn cầu đã tăng 2 lần; nước có tỷ trọng đầu tư gián tiếp
lớn nhất là Mỹ chiếm 24,5%, tiếp đó là Anh chiếm 10%. Dòng vốn FII đang
trỗi dậy mạnh mẽ sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997 và đang chuyển
hướng đầu tư sang các quốc gia đang phát triển có tiềm năng, nhằm hạn chế
các rủi ro đầu tư.
Hiện có khoảng trên 100 định chế đầu tư tài chính chuyên nghiệp trên
thế giới đang quản lý một khối lượng tài sản khổng lồ, khoảng 300 tỷ USD.
Chỉ cần họ chấp nhận đầu tư vào Việt Nam 0,1% là chúng ta đã có khoảng
300 triệu USD.
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, các yếu tố sản xuất trong quá trình tái
sản xuất hàng hóa, dịch vụ được dịch chuyển tự do hơn từ nơi này sang nơi
khác, nhằm phát huy lợi thế so sánh của mỗi quốc gia thông qua các cam kết
mở cửa thị trường. Việt Nam đang nổi lên như một quốc gia có nhiều tiềm
năng thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh vị trí địa lý thuận lợi, chính trị ổn
định, tiềm năng tăng trưởng kinh tế dài hạn, Việt Nam còn là một quốc gia có
nhiều lợi thế so sánh hấp dẫn nhà đầu tư như: nguồn lao động, thị trường, tài
nguyên. Hơn nữa, vận nước đang lên, Việt Nam ngày càng khẳng định vai
trò, vị trí và tầm quan trọng của mình trên bản đồ kinh tế khu vực và thế giới.
Sự quan tâm của khu vực và thế giới tới Việt Nam, đặc biệt là thời điểm Việt
Nam gia nhập WTO, cộng với sự thành công của các nhà đầu tư hiện hữu tại
đây sẽ mở ra cơ hội lớn trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
rủi ro nhất định cho nhu cầu nhập khẩu và trả nợ nước ngoài của Việt Nam
hiện còn khá lớn.
Trong thời gian qua, đặc biệt từ đầu năm 2007, đã xuất hiện ngày càng
nhiều đánh giá mang tính nhận định, phân tích về vai trò và hoạt động của
các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, đáng chú ý là diễn biến hoạt động của
họ vẫn còn là một ẩn số lớn. Những bài phân tích tuy có đề cập đến xu hướng
vận động chung của nhà đầu tư nước ngoài nhưng rất ít thông tin cụ thể về
hoạt động của một nhà đầu tư nước ngoài cụ thể nào.
Nói tóm lại, toàn bộ các hoạt động mua bán của nhà đầu tư nước ngoài,
mối quan hệ giữa khối lượng mua và khối lượng bán, thời điểm mua vào và
thời điểm bán ra, và tất nhiên phải kể đến những tính toán phương án chiến
thuật “lướt sóng” của nhà đầu tư nước ngoài, đã hầu như chưa được nghiên
cứu và phân tích, dù chỉ mang tính tổng lược.
Cũng bởi thế, trong nhiều trường hợp, từ hoạt động đấu giá cổ phần cho
đến những tác động vào sự lên hoặc xuống của thị trường chứng khoán, mặc
dù nhiều người đoán chắc là có bàn tay của nhà đầu tư nước ngoài, thậm chí
tác động rất sâu, nhưng cũng không có một minh chứng nào được dẫn ra.
Vậy thì những câu hỏi cần được đặt ra là trong tương lai không quá xa
(vào cuối năm 2007 và trong năm 2008) là vai trò của nhà đầu tư nước ngoài
sẽ ra sao tại thị trường chứng khoán Việt Nam? Và cùng với vai trò có thể
mang tính thượng phong ấy, nhà đầu tư nước ngoài sẽ “nắm giữ” thị trường
thông qua những động thái nào? Và đương nhiên, yếu tố đầu cơ của nhà đầu
tư nước ngoài sẽ lộ diện đến mức nào và tạo được ảnh hưởng ra sao đối với
sự lên xuống của thị trường chứng khoán? Hoặc một khía cạnh tiêu cực khác
không thể không dự liệu: trong những trường hợp nào và kèm theo những
điều kiện gì, nhà đầu tư nước ngoài có thể rút một phần vốn hoặc toàn bộ vốn
ra khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam, dẫn đến nguy cơ đổ vỡ của thị
trường này.
Tóm lại, trong thời gian qua, có thể rút ra một vài nhận định đối với nhà
đầu tư nước ngoài như sau:
dạng hoá ngành nghề), REE (cơ điện lạnh, địa ốc, tài chính ), SAM (vật liệu
viễn thông), IFS (nhiên liệu), GLI (thương mại), STB (ngân hàng) và CII (cơ
sở hạ tầng).
Những doanh nghiệp trên phần lớn thương hiệu đã được nhà ĐTNN biết
đến trước khi đầu tư vào TTCK Việt Nam và thông tin, tình hình tài chính
của họ khá minh bạch.
Riêng TYA (doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đầu tiên niêm yết)
chưa phải là một “blue-chip” đúng nghĩa nhưng được ưa chuộng do cổ đông
nước ngoài muốn nắm quyền “kiểm soát” nên tăng cường mua vào rất lớn
trong thời gian qua.
Từ trước đến nay, các nhà ĐTNN chưa bao giờ đầu tư mạnh vào những
cổ phiếu cao giá nhất nhì hay tăng quá nóng trên sàn TPHCM. Vì vậy, do đầu
tư lâu dài và không chạy theo phong trào nên nhà ĐTNN luôn tránh những
loại cổ phiếu có dấu hiệu bị đẩy giá hay tăng quá giá trị thực dù lợi nhuận
trước mắt khá cao.
Trong số 10 loại cổ phiếu trên thì không có cổ phiếu nào vượt quá giá
160.000 đồng (SAM cao nhất hiện chỉ 156.000 đồng/cổ phiếu), thậm chí CII,
IFS, TYA, GLI đang ở mức dưới 80.000 đồng/cổ phiếu.
“Gu” của nhà ĐTNN và NĐT trong nước đôi khi khác biệt và nhiều
trường hợp còn trái ngược. Trong danh sách 20 loại cổ phiếu mà SSI đưa ra
với nhận định có tính thanh khoản tốt, đang “chiếm lĩnh” TTCK Việt Nam
thì chỉ có 4 loại cổ phiếu có sức hút lớn đối với nhà ĐTNN (hết room) là
SAM, GMD, REE và STB, còn nhiều loại vẫn còn room khá nhiều như FPT,
PPC, VHS, ITA, PVD,VIP
Hiện nay, không ít loại cổ phiếu đang được nhiều nhà ĐTNN “dòm
ngó” và cũng sắp hết room như VNM (còn 4,2%), TDH (chỉ còn 0,64%),
BMP (0,45%), TMS (còn 1,32%).
Việc các loại cổ phiếu trên đang được các nhà ĐTNN ưa chuộng do kết
quả kinh doanh, lợi nhuận khá khả quan từ năm 2006 đến nay, hơn nữa các
loại cổ phiếu này đều có triển vọng khá tốt do ngành hàng (như VNM, BMP)
tăng sức cầu, nhất là trong các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO) của
nhiều đại gia sắp tới.
Nhìn chung, NĐTNN là những người có kinh nghiệm, hiểu biết và đã
có kinh nghiệm ở một số TTCK đi trước Việt Nam nên sẽ dễ thành công hơn
các NĐT cá nhân trong nước.
5. Hoạt động của một số công ty quản lý quỹ tại Việt Nam:
Theo thống kê của Công ty quản lý quỹ chứng khoán VN (VFM), hiện
có gần 30 quỹ đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam với tổng vốn
rót vào nội địa khoảng 2 tỷ USD.
Hiện nay, hàng loạt quỹ đầu tư nước ngoài đang đổ vốn vào thị trường
chứng khoán Việt Nam.
Các quỹ đầu tư là phương tiện để nhà đầu tư đưa các khoản tiền của họ
vào nhằm có được yếu tố đầu tư đa dạng và điều kiện quản lý chuyên nghiệp.
Nhà đầu tư không hưởng lợi trực tiếp từ các cổ phiếu được mua bán trên thị
trường chứng khoán mà sẽ chia sẻ hiệu quả sau quá trình mua bán chứng
khoán tập trung của quỹ đó.
Lợi ích trước hết và quan trọng hơn cả khi tham gia vào quỹ đầu tư là
khả năng đầu tư đa dạng. Lợi ích khác do các quỹ đầu tư mang lại là trình độ
quản lý chuyên nghiệp. Một lợi ích nổi bật nữa của quỹ đầu tư là các cổ phần
góp vốn vào quỹ này có tính thanh khoản (nhà đầu tư muốn rút lui khỏi tổ
chức đầu tư này có thể bán lại phần tài sản của họ với giá phải chăng để
chuyển thành tiền mặt trong thời gian ngắn).
Hiện nay, nhiều công ty quản lý quỹ đầu tư tập chung chính vào thị
trường Việt Nam như Vina Capital, Mekong Capital, Dragon Capital.
5.1. Một số công ty Quản lý quỹ chủ yếu
5.1.1. Dragon Capital
Dragon Capital là điển hình về sự kiên trì “bám trụ” ở VN. Đây là công
ty quản lý quỹ thành lập ở Anh năm 1994. Năm 1997-1998, khi cuộc khủng
hoảng tài chính khu vực xảy ra, nhiều quỹ đầu tư đã ra đi. Nhưng Dragon
Capital thì ở lại, và đã thành công. Dragon Capital lập Quỹ Vietnam
Ngày 5/7/2007, Vina Captial đã chính thức đưa Quỹ Cơ sở hạ tầng Việt
Nam (Vietnam Infrastructure Limited – VIL) lên niêm yết trên sàn chứng
khoán thứ cấp London (Alternative Investment Market – AIM). Đây là quỹ
đầu tiên giao dịch trên thị trường AIM tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng cơ
sở then chốt của Việt Nam, bao gồm năng lượng, vận tải, nước và viễn thông.
Sự kiện này đã nâng số quỹ đầu tư mà Vina Capital mở tại Việt Nam lên
thành bốn quỹ với tổng số vốn đầu tư gián tiếp đã thu hút vào Việt Nam lên
tới 1,8 tỷ USD.
VinaCapital cũng đang đẩy mạnh đầu tư vào các công ty công nghệ.
Công ty quản lý quỹ này đã liên doanh với Tập đoàn Draper Fisher Jurveton -
tập đoàn đầu tư mạo hiểm với tổng vốn đầu tư trên 3,5 tỷ USD để lập quỹ
đầu tư DFJ VinaCapital với tổng số vốn đầu tư ban đầu là 50 triệu USD.
5.1.3. Mekong Capital
Mekong Capital là công ty quản lý quỹ đầu tư tập trung vào Việt Nam
do các cá nhân có kinh nghiệm về mảng quản lý đầu tư cả ở Việt Nam và
quốc tế thành lập năm 2001.
Phần lớn các vị trí cao cấp trong công ty là do người Việt Nam nắm giữ
và cũng là cổ đông của công ty.
Công ty bắt đầu hoạt động từ năm 2002 tại Việt Nam với việc thành lập
Quỹ đầu tư Mekong Enterprise Fund đầu (tổng vốn đầu tư 18,5 triệu USD).
Mekong Capital chọn những công ty thuộc khu vực tư nhân ở các địa phương
với quy mô nhỏ làm đối tác.
Đến nay, quỹ đã đầu tư hết vào 10 công ty Việt Nam như Công ty Xây
dựng và Kiến trúc AA, Công ty tin học Lạc Việt, Công ty nhựa Tân Đại
Hưng, Công ty gỗ Đức Thành.
Ngày 5/6/2006, công ty đã chính thức khai trương quỹ đầu tư cổ phần
thứ 2 (Mekong Enterprise Fund II) tại TP.HCM. Quỹ có tổng vốn 50 triệu
USD, tập trung đầu tư vào các công ty tư nhân Việt Nam phục vụ cho thị