BÀI 7: AN TOÀN LAO ĐỘNG
I-
Các quy phạm về an toàn lao động
1- Quy phạm an toàn trong công tác lắp đặt thiết bị điện và mạng lưới
điện (trích TCVN 5308-1991)
a- Yêu cầu chung
- Công nhân vận chuyển, lắp đặt thiết bị điện phải thông hiểu các quy định về
an toàn vận chuyển và lắp đặt thiết bị điện.
- Di chuyển, nâng và lắp đặt các động cơ điện, các máy sử dụng điện, các khí cụ
đóng, cắt điện chỉ được tiến hành khi chúng ở trạng thái cắt điện.
- Di chuyển, lắp đặt các thiêt bị phải dùng các dụng cụ chuyên dùng để neo
buộc, không được dùng các loại dây thép xích, cáp để buộc các bộ phận cách
điện, các tiếp điểm ở chân đế phải có biện pháp ngăn chặn, chống lật, đổ thiết
bị.
- Trước khi lắp đặt phải kiểm tra vị trí và độ ổn định của các gối tựa, các bộ
phận kết cấu công trình ở vị trí lắp đặt trong khi lắp đặt các máy biến thế phải
làm ngắn mạch các đầu ra của máy và nối đất bảo vệ các đầu dây đó.
- Khi sử dụng máy trục để lắp ráp thiết bị điện, các đường cáp trần có điện thế,
mạng điện chiếu sáng và động lực nằm trong vùng làm việc phải được cắt
điện và rào chắn.
- Lắp máy ngắt điện một cực phải bảo đảm chắc chắn và điều chỉnh sự ăn khớp
đồng thời của các tiếp điểm của máy ngắt.
- Cầu chì của các mạng điện nối với thiết bị lắp ráp phải tháo ra trong suốt thời
gian thi công. Chỉ được đặt cầu chì vào mạng điện để điều chỉnh thiết bị sau
khi mọi người đã ở vị trí an toàn.
- Trước khi đóng điện để thử lưới điện và thiết bị điện phải ngừng tất cả các
công việc có liên quan, đồng thời người ở trong buồng phân phối phải ra khỏi
khu vực nguy hiểm.
- Trước khi thử các bộ phận truyền động từ xa bằng dòng điện thao tác hoặc
bằng khí nén phải treo biển báo " Có điện nguy hiểm" trên các thiết bị đó.
- Cho điện áp để thử rơ - le, áp tô - mát máy ngắt và các dụng cụ khác phải làm
được tháo thiết bị nối đất di động dưới sự giám sát của tổ trưởng công tác
đoạn đường dây đó.
- Đường dây điện, đường cáp nâng phải được đặt ở độ cao lớn hơn 4,5m, ở nơi
có xe qua lại phải lớn hơn hoặc bằng 6m.
c- Làm việc ở trạm điện đang hoạt động
- Chỉ sửa chữa lắp ráp các thiết bị điện trong trạm đang hoạt động khi có phiếu
công tác và đã ngắt điện ở thiết bị có liên quan.
- Khi sửa chữa và lắp đặt máy biến áp trong trạm phải ngắt điện phía hạ áp để
khỏi nóng biến thế.
- Tại các chỗ nối thiết bị phân phối kín và hở với dây nối đất bảo vệ phải làm
các kẹp (tai hồng) hoặc đánh sạch sơn ở các chỗ nối đó để kẹp dây nối đất bảo
vệ di động bằng mở kẹp. Khi nối dây đất phải nối với cực nối đất trước rồi
mới nối với vỏ thiết bị và khi tháo dây nối đất phải làm ngược lại
2- Quy phạm lắp đặt và sử dụng điện trong thi công
<Trích tiêu chuẩn Việt Nam 5308-1991>
a- An toàn trong lắp đặt và sử dụng điện trong thi công
- Khi lắp đặt sử dụng, sửa chữa các thiết bị điện và mạng lưới điện thi công trên
công trường, ngoài những quy định dưới đây còn phải tuân theo các quy định
trong tiêu chuẩn "An toàn điện trong xây dựng" TCVN 4036-1985
- Công nhân điện cũng như công nhân vận hành các thiết bị điện phải được học
tập, kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đạt yêu cầu về kỹ thuật an toàn điện,
công nhân nhận làm việc ở khu vực nào trên công trường phải nắm vững sơ
đồ cung cấp điện của khu vực đó, công nhân trực điện ở các thiết bị có điện
áp đến 1000 vôn phải có trình độ bậc 3 an toàn về điện trở lên.
- Sử dụng điện trên công trường phải có sơ đồ mạng điện, có cầu dao chung và
các cầu dao phân đoạn để có thể cắt điện toàn bộ hay từng khu vực công trình
khi cần thiết. Điện động lực và điện chiếu sáng phải làm hai hệ thống riêng rẽ.
- Các phần dây dẫn điện trần của các thiết bị điện (dây dẫn, thanh dẫn, tiếp
điểm của cầu dao, cầu chảy, các cực của máy điện và dụng cụ điện ) phải
bị.
- Tất cả các phần kim loại của thiết bị điện, các thiết bị đóng cắt có thể có điện
áp khi bộ phận cách điện bị hỏng mà người có thể va chạm phải, đều phải
được nối đất hoặc nối không bảo vệ.
- Chỉ có công nhân điện, người được trực tiếp phân công mới được sửa chữa,
đấu hoặc ngắt các thiết bị điện ra khỏi lưới điện, chỉ được tháo mở các bộ
phận bao che, tháo nối các dây dẫn vào thiết bị, sửa chữa các bộ phận dẫn
điện sau khi đã cắt điện. Cấm sửa chữa các bộ phận dẫn điện sau khi đã cắt
điện. Cấm sửa chữa, tháo, nối các dây dẫn trên không khí đang có điện áp.
- Đóng cắt điện để chữa đường dây chính và đường dây phân nhánh cấp điện
cho 2 thiết bị trở lên phải thực hiện chặt chẽ phải có phiếu công tác. Chỉ được
đóng điện trở lại sau khi đã kiểm tra kỹ. Sau khi cắt cầu dao để sửa chữa thiết
bị thì phải khóa cầu dao và treo biển báo "Cấm đóng điện" hoặc cử người
trực.
- Không được tháo và lắp bóng điện khi chưa cắt điện, nếu trường hợp không
cắt điện được thì công nhân phải đeo găng tay cách điện và đeo kính phòng
hộ.
- Cấm sử dụng các nguồn điện trên công trường để làm hàng rào bảo vệ công
trường.
- Các dụng cụ điện cầm tay phải được kiểm tra ít nhất ba tháng một lần về hiện
tượng chạm mát trên vở máy và ít nhất mỗi tháng một lần về cách điện của
dây dẫn, nguồn điện và chỗ hở điện.
- Chỉ được nối các động cơ điện, dụng cụ điện, đèn chiếu sáng và các thiết bị
khác vào lưới điện bằng các phụ kiện quy định, cấm đấu ngoắc, xoắn đầu dây.
- Công nhân điện làm việc phải có các phương tiện bảo vệ cách điện và trang bị
đầy đủ dụng cụ phòng hộ theo quy định hiện hành. Trước khi sử dụng các
dụng cụ phòng hộ bằng cao su, phải xem xét kỹ và lau sạch bụi, tránh ẩm bề
mặt.
b- Quy phạm an toàn trong công tác hàn điện
- Phần kim loại của thiết bị hàn điện cũng như các kết cấu của sản phẩm hàn (
- Tất cả công việc có sử dụng tới thiết bị chạy bằng điện, các thiết bị nâng
chuyển phải thực hiện theo đúng các qui định của ''qui phạm kỹ thuật an toàn
thiết bị nâng''.
- Khi lắp ráp các thiết bị công nghệ và các đường ống dẫn, phải theo đúng trình
tự công nghệ. Việc vận chuyển, việc lắp đặt thiết bị cũng theo đúng thứ tự
từng bộ phận một.
- Tẩy rửa các lớp bảo quản ở thiết bị công nghệ và các đường ống dẫn phải
dùng các dung dịch kiềm không độc hại.
- Chỉ được dùng chổi quét, cấm thổi bằng mồm các phôi và mạt kim loại khi
cưa, cắt, gọt và đánh sạch kim loại.
- Khi phải thi công dưới các thiết bị đang lắp ráp, hoặc các thiết bị đang còn kê
kích tạm thời phải có các giá đỡ đặt ở bên dưới và các giá đỡ đó phải chịu
được tải trọng thiết bị.
- Khi lắp ráp các đường ống nối dài hoặc nối cao lên phải cố định chúng chắc
chắn, không được để ở trạng thái treo lơ lửng.
- Cấm lắp ráp các chi tiết, các khớp nối của thiết bị, các đường ống dẫn vào
những thiết bị, đường ống đang hoạt động.
- Lắp ráp các thiết bị các đường ống đẫn trong điều kiện có nguy cơ cháy nổ
phải đảm bảo:
+ Phải dùng các dụng cụ không có khả năng phát sinh ra tia lửa.
+ Cấm dùng giẻ có tẩm dầu để lau chùi thiết bị.
+ Cấm đi giày đế có đóng đinh hay có sắt.
- Khi tháo dỡ thiết bị, đường ống phải đảm bảo độ ổn định của các cụm thiết bị
còn lại và thường xuyên theo dõi độ ổn định của các thiết bị đó.
- Chỉ được tháo dỡ khi thiết bị, phần đường ống cần tháo đã tách khỏi mạch
điện bên ngoài.
b- Lắp ráp các thiết bị và các đường ống dẫn
- Cấm lắp ráp các thiết bị công nghệ khi không có hộ chiếu kỹ thuật, không có
các hướng dẫn về lắp ráp và vận hành.
- Khi sử dụng các mối nối, việc neo giữ các móc, bắt chặt các bu lông của mối
dùng thanh chống vách hào làm chỗ đỡ ống.
- Nếu đất sụt xuống trong khi đang hạ ống, thì chỉ được phép dọn đất sau khi đã
kê đỡ ống chắc chắn. Đòn kê phải chồm khỏi mép hào ít nhất là 1m. Việc này
phải thực hiện dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của cán bộ kỹ thuật thi công hay đội
trưởng.
- Trước khi hạ ống xuống hào phải kiểm tra thiết bị dụng cụ, đảm bảo đầy đủ về
số lượng và chất lượng mới thi công.
- Xe đặt ống xuống hào phải đi cách mép hào ít nhất 2m
- Khi mở nắp, cửa gông của giếng thăm phải dùng các dụng cụ chuyên dùng,
không được mở trực tiếp bằng tay.
- Đào và đặt ống ngang qua đường giao thông, phải có rào ngăn và biến báo,
ban đêm phải có đèn đỏ báo hiệu.
- Khi đục lỗ tường hay sàn nhà để lắp đường ống, công nhân phải đeo kính
phòng hộ. Trong trường hợp cần thiết phải có tấm chắn bảo vệ xung quanh.
- Lắp ráp các đường ống công nghệ, cấm tháo bỏ những chi tiết của kết cấu
mang tải (điểm tựa, giá treo, con sơn)
- Lắp ráp các đường ống bằng thủy tinh hay sành, sứ hoặc pêrôsilíc cần phải có
biện pháp đề phòng đỗ vỡ làm bị thương công nhân.
- Cấm tháo đỡ cùng một lúc các đường ống ở các độ cao khác nhau trong cùng
một chiều thẳng đứng.
4- Yêu cầu về an toàn đối với đường ống cấp nước và các công trình trên
đường ống cấp nước <Trích TCXD 66-1991>
a- Đối với mạng đường ống cấp nước
- Chỉ được đào đường để sửa chữa đường ống dẫn nước sau khi được phép của
cơ quan quản lý giao thông và đã thông báo cho cơ quan cảnh sát giao thông
khu vực đó, khi đó phải áp dụng các biện pháp an toàn sau đây:
+ Đặt rào chắn xung quanh khu vực sửa chữa, trên rào chắn phải treo biển
ghi rõ tên đơn vị sửa chữa ở nơi để nhận biết.
+ Treo biển cấm " không có nhiệm vụ miễn vào"
nghiệp
- Khi đục lỗ để lắp đường ống trong nhà phải đội mũ cứng đeo kính bảo hộ và
khẩu trang.
- Cấm đục lỗ qua những kết cấu bê tông cốt thép chịu lực để đặt ống. Trong
trường hợp đặc biệt phải có thiết kế bổ sung.
- Khi lắp đặt ống ở độ cao 1,5m trở lên so với sàn nhà phải thực hiện các yêu
cầu về an toàn khi làm việc trên cao.
- Khi kiểm tra các bể xí tự hoại trong nhà phải thực hiện các quy định về sửa
chữa, kiểm tra, thông rửa đường cống và các công trình thoát nước .
- Cấm dùng bệ xí bệt, âu tiểu, chậu rửa làm điểm tựa bắc giàn giáo khi thi công.
5- Yêu cầu an toàn khi vận chuyển - bảo quản và sử dụng CLO
<Trích TCXD66-1991)
a- Quy định chung
- Khi vận chuyển, bảo quản và sử dụng clo phải:
+ Thực hiện các quy định trong "quy phạm kỹ thuật an toàn các bình chịu áp
lực"
+ Tránh đốt nóng chai, bình clo bằng mọi nguồn nhiệt.
+ Tránh va chạm, rơi đổ clo
- Cấm người không có nhiệm vụ vào kho clo và buồng clo hóa nước.
b- Yêu cầu đối với kho bảo quản clo
- Kho bảo quản bình clo phải là công trình 1 tầng biệt lập, không có trần, kho
phải có hệ thống thông gió hút, miệng hút phải đặt sát sàn, miệng xả chìm
trong bể trung hòa. Công tắc điện phải đặt phía ngoài kho và nhiệt độ trong
kho không quá 35
0C
- Khu vực quanh kho không được để nhiên liệu dễ cháy. Phạm vi để cách xa
10m
- Sàn kho phải phẳng, nhẵn và thoát nước tốt.
- Kho phải được trang bị đầy đủ các phương tiện chống cháy và chữa cháy tại
chỗ, tường phải sơn cao lớn hơn 1m
cao, hoặc đổ vật liệu ồ ạt từ trên cao xuống dưới đất.
- Vật liệu, dụng cụ từ trên cao rơi xuống do ở phía trên chỗ làm việc hoặc lối
người qua lại phía dưới không có sàn hoặc lưới đỡ bảo vệ.
- Công nhân vi phạm nội quy an toàn lao động và kỹ thuật lao động: Đi đứng,
làm việc trên đỉnh tường, làm việc trên cao chỗ nguy hiểm không đeo dây an
toàn. Chất quá nhiều vật liệu trên sàn thao tác.
b- Biện pháp an toàn lao động trong công tác xây
* Khi xây móng
Trước khi xây móng phải kiểm tra tình trạng vách đất, hệ thống chống đỡ
vách đất (nếu có) xem có dấu hiệu gì mất an toàn phải khắc phục ngay. Đặc biệt
chú ý hố đào ở nơi đất tơi xốp, đất ẩm ướt, gần đường giao thông chịu tác động
của xe cộ. Kiểm tra xem trên mép bờ hố móng đất đào, vật liệu xây và thiết bị thi
công có thể làm sạt lở vách đất không. Kiểm tra xem trên mép bờ hố móng đất
đào, vật liệu xây và thiết bị thi công có thể làm sạt lở vách đất không.
Dọc theo hố móng phải chừa một dải đất trống ít nhất 0,5m, trên đó không
được chất vật liệu và máy móc thi công.
Đưa gạch xuống hố móng bằng ván trượt, đưa vữa bằng ván nghiêng.
- Khi thi công nếu hố móng bị ngập do mưa hoặc nước ngầm phải có biện pháp
thoát nước, khi cạn nước mới thi công tiếp.
- Khi lấp đất hố móng phải lấp đều 2 bên, lấp đến đâu đầm đến đó.
* Khi xây tường
- Trước khi xây tường phải kiểm tra xem xét tình trạng của móng hoặc phần
tường đã xây trước cũng như tình trạng các phương tiện làm việc trên cao
như: Giàn giáo, kiểm tra việc sắp xếp bố trí vật liệu và vị trí người công nhân
làm việc trên sàn thao tác có ảnh hưởng không.
- Khi xây tường cao dưới 7m phải làm rào ngăn ở phía người dọc theo chu vi
công trình cách tường 1,5m để phòng ngừa dụng cụ vật liệu rơi xuống đầu
người.
- Phải che chắn những lỗ tường từ tầng 2 trở lên nếu lỗ đó người chui qua được.
chắn dao tán mạch, thước dẫn hướng điều chỉnh hợp lý và chắc chắn chưa, không
cưa gỗ có chiều dày lớn hơn chiều cao lưỡi cưa, không tỳ gỗ vào bụng, khi đẩy
đến gần lưỡi cưa, phải dùng tấm đẩy bằng gỗ.
Bộ phận lắp ghép các thanh gỗ, ván gỗ tạo những tấm ván khuôn, phải chú ý
chàng, đục, đinh phải gọn gàng, không để lẫn với vỏ bào, rác bẩn ở lối đi lại. Khi
làm việc, công nhân phải mặc quần áo bảo hộ lao động gọn gàng, phải đeo kính và
khẩu trang chống bụi.
b- An toàn khi lắp dựng
Những tai nạn thường gặp khi lắp dựng ván khuôn là bị ngã từ trên cao
xuống, khi một bộ phận hay toàn bộ ván khuôn bị đổ gẫy, ván khuôn hay dụng cụ
rơi từ trên cao xuống, đinh đóng trồi ra ngoài ván khuôn
Khi lắp dựng giàn giáo cần san phẳng và đầm chặt đất nền để chống lún và
bảo đảm thoát nước tốt, cột hoặc khung giàn giáo phải thẳng đứng, giằng giữ theo
yêu cầu của thiết kế, chân cột phải có ván chống lún, chống trượt, cấm kê chân cột
bằng gạch đá hay mẫu gỗ vụn.
Ván lát sàn công tác phải có chiều dày tối thiểu là 3cm, không mục mọt, nứt
gãy, các tấm phải khít và bằng phẳng, khe hở giữa các tấm ván không được lớn
hơn 1cm, Khi dùng ván rời đặt theo phương dọc của các tấm ván phải đủ để gác
trực tiếp 2 đầu lên thanh đà đỡ, mỗi đầu ván phải vươn ra ngoài thanh đà đỡ một
đoạn ít nhất là 20cm và được buộc hay đóng đinh chắc chắn vào thanh đà. Khi
dùng các tấm ván phải có nẹp bên dưới để giữ cho ván không bị trượt.
Khi lắp ván khuôn tấm lớn theo nhiều tầng thì ván khuôn tầng trên chỉ được
lắp sau khi ván khuôn tầng dưới đã được cố định chắc chắn.
Để đề phòng bị ngã và dụng cụ từ trên cao xuống, khi lắp những tấm ván ở
độ cao 8m trở lên so với mặt đất, phải có sàn công tác bề rộng ít nhất là 0,7m và có
lan can bảo vệ chắc chắn. Ván khuôn sàn đã lắp đặt phải có lan can bao quanh toàn
bộ chu vi.
Khi lắp đặt ván khuôn cột, dầm ở chiều cao dưới 5,5m có thể dùng thang di
động phía trên có sàn công tác với kích thước tối thiểu là 0,7m x 0,7m, có lan can
bảo vệ, nếu lắp đặt ở độ cao trên 5,5m phải dùng giàn giáo chắc chắn.
nào tháo trước, bộ phận nào tháo sau, phải tháo đối xứng, tháo dần dần, nhẹ tay
bằng cách hạ các con nêm làm nhiều lần.
Trong quá trình tháo dỡ ván khuôn phải có biện pháp đề phòng các ván
khuôn nặng rơi từ trên cao xuống gây tai nạn, làm hỏng ván và gẫy các giàn giáo.
Công nhân dỡ ván khuôn trên cao phải đứng trên giàn giáo có lan can bảo vệ, dây
an toàn, các dụng cụ dùng khi tháo dỡ ván khuôn phải gọn gàng trên giàn giáo,
không vứt bừa bãi và để rơi xuống.
Không được tổ chức tháo dỡ ván khuôn ở nhiều tầng khác nhau trên cùng
một đường thẳng đứng, khi đang tháo dỡ ván khuôn cấm người không có phận sự
đi lại ở phía dưới, các tấm ván khuôn dỡ ra phải chuyển ngay xuống đất, không
được xếp đống trên giàn giáo, vì có thể trượt rơi xuống hoặc làm gẫy giàn giáo vì
nặng. Không lao ván khuôn từ trên cao xuống dù dưới đất không có người, không
được để ván khuôn rơi vào đường dây điện.
Ván khuôn được dỡ ra phải phân loại, xếp đống gọn gàng, không gây trở
ngại giao thông, tránh dẫm phải đinh đóng trồi ra ở ván khuôn.
3- An toàn trong công tác cốt thép
a- An toàn khi cạo gỉ cốt thép
- Khi cạo gỉ bằng bàn chải sắt thủ công và kéo cốt thép trên bàn cát phải đeo
găng tay, kính phòng hộ và khẩu trang.
- Khi cạo gỉ bằng phương pháp phun cát, xung quanh xưởng phun cát phải có
tường kín và cao, bên ngoài phải có tường rào và biển báo nguy hiểm để
người qua lại chú ý.
- Khi phun cát phải đeo kính phòng hộ che kín mắt, khẩu trang, găng tay, đi
giầy, mặc quần áo lao động bằng vải dày, tay áo phải cài kín.
- Khi cạo gỉ bằng máy chạy điện phải có thiết bị che chắn các bộ phận chuyển
động như đai truyền, bàn chải
- Trước khi thao tác phải kiểm tra kỹ.
b- An toàn khi cắt thép
- Cắt bằng máy:
- Khi uốn bằng máy:
+ Kiểm tra an toàn trong phạm vi làm việc: Hệ thống điện, diện thao tác, vị
trí xếp vật liệu để uốn và các cây thép sau khi uốn.
+ Kiểm tra máy: Chốt uốn, vận hành thử máy.
+ Đặt thép vào vị trí ổn định mới cho máy uốn, máy dừng hẳn mới lấy thép
ra cấm điều chỉnh các chốt uốn khi máy đang uốn thép.
d- An toàn khi lắp dựng cốt thép
- Lắp đặt cốt thép phải đúng trình tự thiết kế và trình tự theo sự hướng dẫn của
kỹ thuật.
- Những đầu dây thép buộc phải uốn vào trong kết cấu.
- Cấm đi lại trên khung, dàn thép đang lắp dựng.
- Trang bị đầy đủ dụng cụ bảo hộ lao động: Găng tay, quần áo, mũ, kính và giày
bảo hộ.
4- An toàn trong công tác thi công bê tông
a- Khu vực làm việc
Nơi làm việc phải khô ráo, đường đi lại vận chuyển thuận tiện không bị
vướng, khi dùng ván làm cầu lên xuống thì chiều dày ván ≥ 4 cm, đóng gỗ ngang
làm bậc, không được để phẳng và dùng ván mục.
Khi làm việc vào ban đêm phải đủ ánh sáng treo cao ở đường đi lại, cầu
thang lên xuống và nơi để đổ bê tông, những nơi cấm cần phải có đèn đỏ báo hiệu
nguy hiểm
Không được leo theo giáo để lên xuống nơi làm việc, phải có cầu thang
riêng chắc chắn và cách vị trí làm việc ít nhất là 80 cm, cấm không được hút thuốc
lúc đang làm việc hay nghỉ ngơi trên giáo.
Không được lấy gạch đá hoặc những dụng cụ không đảm bảo kê lót dưới
giáo.
Những nơi đổ bê tông cao hơn 2m phải làm giàn giáo có tay vịn.
Khi đổ bê tông sàn phải làm chân ngựa thấp để lót ván làm đường đi lại và
vận chuyển bê tông đến nơi đổ, chân ngựa chắc chắn, không dùng gạch thay chân
Vận chuyển vữa lên cao thường dùng thùng có đáy đóng mở, đựng bê tông
rồi dùng cần trục đưa lên cao, thùng vận chuyển phải bền chắc, không dò nước, dễ
đóng mở. Khi đưa thùng đến phễu đổ, không được đưa qua đầu công nhân đổ bê
tông. Tốc độ quay ngang và đưa lên cao phải chậm vừa sao cho lúc nào dây treo
thùng cũng gần như thẳng đứng. Chỉ khi nào thùng bê tông ở trong tư thế ổn định
và cách miệng phễu một khoảng 1m mới được mở đáy thùng. Nếu dùng cần trục
hay vận thăng để vận chuyển vữa bê tông lên cao thì khu vực làm việc phải rào lại
trong phạm vi 3m
2
, có bảng cấm không cho người không có nhiệm vụ qua lại, ban
đêm phải có đèn báo ở ngay trên bảng cấm.
d- An toàn khi đổ và đầm bê tông
Khi đổ bê tông theo các máng nghiêng hoặc theo ống vòi voi cần phải kẹp
chặt máy và thùng chứa vào ván khuôn, đà giáo hoặc cốt thép để tránh bị dật đứt
khi vữa chuyển động.
Khi đổ vữa bê tông ở độ cao trên 3m không có che chắn, phải đeo dây an
toàn. Thi công ban đêm phải có đèn chiếu sáng.
Công nhân san đầm bê tông phải đi ủng cao su cách nước, cách điện, mặc
quần áo phòng hộ, đeo găng tay, đội mũ cứng.
e- An toàn khi dưỡng hộ bê tông
Công nhân phải có sức khỏe, quen trèo cao, không được bố trí những người
thiếu máu, đau thần kinh và phụ nữ có thai làm việc này.
Khi tưới bê tông ngoài trời nắng phải đội mũ nón, đi giày dép, khi tưới bê
tông trên cao mà không có giàn giáo thì phải đeo dây an toàn.
III-
Các Nghị định, Chỉ thị, Thông tư liên quan đến an toàn vệ sinh lao động
1- Nghị định 06/CP và các Nghị định khác có liên quan
Trong hệ thống các văn bản pháp luật về BHLĐ, các Nghị định có một vị trí
rất quan trọng, đặc biệt là Nghị định 06/CP của Chính Phủ ngày 20/01/1995 quy
chỉ đạo việc đẩy mạnh công tác ATVSLĐ phòng chống cháy nổ.
Trong số các chỉ thị được ban hành trong thời gian thực hiện Bộ Luật Lao
động, có 2 chỉ thị quan trọng có tác dụng trong một thời gian tương đối dài.
- Chỉ thị số 237/TTg (19/4/1996) của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường
các biện pháp thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy. Chỉ thị đã nêu
nguyên nhân tổ chức thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy của các cấp,
các ngành, cơ sở và công dân chưa tốt.
- Chỉ thị số: 13/1998/CT-TTg(26/3/1998) của Thủ tướng Chính phủ về việc
tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác BHLĐ trong tình hình mới.
Đây là một chỉ thị rất quan trọng có tác dụng tăng cường và nâng cao hiệu lực
quản lí Nhà nước, vai trò, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong việc
bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ; duy trì và cải thiện
điều kiện làm việc, bảo đảm sức khỏe và an toàn cho người lao động không
những trong những năm cuối thế kỷ 20 mà cả trong thời gian đầu thế kỷ 21.
Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ những tồn tại của công tác ATVSLĐ. Đó là:
+ Việc thực hiện Luật pháp về BHLĐ ở các cấp, các ngành, của người sử
dụng lao động và của người lao động còn chưa nghiêm.
+ Tình trạng vi phạm các quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao
động, phòng chống cháy nổ còn khá phổ biến, còn để xảy ra các vụ việc
nghiêm trọng.
+ Việc đầu tư để cải thiện điều kiện làm việc và thực hiện các biện pháp
phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và cháy nổ trong nhiều
doanh nghiệp chưa thực sự được quan tâm và coi trọng đúng mức, đặc
biệt là trong các cơ sở sản xuất kinh doanh của tư nhân.
Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho các bộ, ngành, các cấp, địa phương,
doanh nghiệp thực hiện nhiều công tác, biện pháp cụ thể nhằm khắc phục các tồn
tại trên. Tuy nhiên do những khó khăn về nhiều mặt, luật pháp, chế độ chính sách
BHLĐ; nhận thức và ý thức chấp hành luật pháp; khó khăn về cơ sở vật chất, kỹ
thuật, công nghệ, tài chính những tồn tại trên không thể khắc phục trong một
thời gian ngắn.
- Thông tư số: 23/LĐTBXH-TT (18/11/1996) của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội hướng dẫn thực hiện chế độ thống kê báo cáo định kì tai nạn lao
động.
- Thông tư số: 10/1999/TTLT-BLĐTBXH - BYT của Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội - Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện
vật đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc
hại.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1- Quy phạm an toàn trong lắp đặt thiết bị điện, mạng lưới điện.
2- Quy phạm an toàn trong lắp đặt và sử dụng điện trong thi công.
3- Quy phạm an toàn công tác lắp ráp đường ống dẫn và thiết bị công
nghệ.
4- Yêu cầu an toàn đối với đường ống cấp, thoát nước và các thiết bị
trên đường ống cấp thoát nước.
5- An toàn lao động trong thi công xây dựng công trình.