Quy trình Xây dựng và Nội dung Kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2007-2009 - Pdf 97

Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
Lời mở đầu
---------------------
Kế hoạch tài chính và chi tiêu trung hạn giai đoạn 2007-2009 có ý
nghĩa quan trọng trong việc tổ chức triển khai thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội trong kế hoạch 5 năm 2006-2010 mà Đại hội Đảng và
Nghị quyết của Quốc hội đã thông qua.
Đây là kế hoạch huy động và đưa vào sử dụng các nguồn lực tài
chính quốc gia, đặc biệt là nguồn lực từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp
phát triển của đất nước trong giai đoạn trung hạn 2007-2009, hướng tới
việc hoàn thành mục tiêu chiến lược đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Kế hoạch tài chính và chi tiêu trung hạn giai đoạn 2007-2009 được
xây dựng trong bối cảnh đất nước chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ nước
ta tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa một cách toàn diện và sâu sắc;
không những Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết đã ký kết với
các nước và các tổ chức quốc tế mà còn hòa đồng vào một sân chơi đầy
thách thức và cũng nhiều cơ hội. Toàn cầu hóa sẽ làm tăng sức ép cạnh
tranh, nhất là sức ép đối với những nước có trình độ phát triển thấp như
nước ta.
Hòa nhập với cộng đồng quốc tế, việc xây dựng kế hoạch tài chính
và chi tiêu trung hạn là yêu cầu khách quan hết sức cần thiết với mục đích
cải thiện và nâng cao hiệu quả công tác xây dựng kế hoạch ngân sách nhà
nước năm 2007, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của quốc gia, phân bổ
nguồn lực vào các mục tiêu ưu tiên; chủ động hợp tác và tạo ra những điều
kiện để tận dụng các cơ hội phát triển.
Giáo dục và Đào tạo là một trong bốn Bộ ngành Trung ương ( Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
1
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46

tiêu trung hạn (MTEF)
1.1. Nhược điểm của ngân sách truyền thống
Cách lập ngân sách truyền thống sau thời gian dài thực hiện đã bộc
lộ những khuyết điểm của mình, nó không những không trở thành công cụ
hữu hiệu của nhà nước về quản lý ngân sách như mục đích vốn có của
mình mà những bất cập do nó tạo ra đã góp phần làm trầm trọng thêm bài
toán rắc rối về ngân sách. Những bất cập thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất là sự tách rời giữa chính sách, việc lập kế hoạch và lập
ngân sách. Trong khi Chính phủ tập trung vào việc xây dựng và thực hiện
các kế hoạch trung hạn 5 năm, và các chính sách do Chính phủ đề ra
thường có tác dụng kéo dài nhiều năm thì ngân sách lại chỉ được xây dựng
cho từng năm một. Mối liên hệ giữa ngân sách hàng năm với việc thực
hiện mục tiêu kế hoạch 5 năm là không rõ rang. Vì thế, các mục tiêu kế
hoạch trung hạn không được gắn với khả năng nguồn lực sẵn có và cũng
không được phản ánh thường xuyên trong ngân sách. Kết quả là, chính
sách có thể được tài trợ trong một vài năm nhưng sau đó có thể bị cắt bỏ
tùy tiện khi tình hình ngân sách không cho phép. Mối liên hệ giữa ngân
sách, chính sách và kế hoạch trung hạn vì thế rất lỏng lẻo. Kết quả tất yếu
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
3
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
của điều này là hiệu lực của kế hoạch trung hạn rất kém, khiến nó không
trở thành công cụ quản lý vĩ mô đắc lực, mang tình nhìn xa trông rộng của
nhà nước được.
Thứ hai, không đảm bảo tính kế thừa giữa kế hoạch và ngân sách
các năm. Ngay cả khi soạn lập ngân sách có tham chiếu đến các chỉ tiêu
của kế hoạch 5 năm hay các chương trình, chiến lược của chính phủ,
nhưng kế hoạch trung hạn hiện nay mang tính định kỳ 5 năm, tức là hết
thời kỳ 5 năm này thì chuyển qua xây dựng kế hoạch 5 năm tiếp theo. Điều
này hạn chế tính liên tục của các chính sách. Nếu thay cách lập kế hoạch

xong. Tuy nhiên, với cách lập ngân sách truyền thống, hai loại chi tiêu này
được xây dựng độc lập với nhau. Chẳng hạn, ở cấp trung ương, trong khi
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm quản lý và phân bổ các chương
trình chi đầu tư công cộng thì chi thường xuyên lại do Bộ Tài chính đảm
nhiệm. Kết quả là, trong các khoản chi thường xuyên hàng năm thiếu hẳn
phần dự toán chi vận hành bảo dưỡng cho các công trình công cộng đã và
đang được đưa vào hoạt động. Đây là một sự lãng phí nguồn lực vốn eo
hẹp của đất nước, vì các công trình công cộng không thể phát huy tối đa
công suất của mình, thậm chí còn xuống cấp rất nhanh chóng ngay sau khi
được xây dựng xong.
Tất cả những nhược điểm trên đều có thể được khắc phục được nếu
chuyển từ cách lập ngân sách truyền thống sang lập ngân sách theo khuôn
khổ chi tiêu trung hạn(MTEF).
1.2. Cơ sở lý luận về khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF)
a. Khái niệm
MTEF là một quy trình soạn lập và xây dựng kế hoạch ngân sách
minh bạch, trong đó đề ra giới hạn nguồn lực trung hạn được phân bổ từ
trên xuống nhằm đảm bảo kỷ luật tài khóa tổng thể và đòi hỏi việc xây
dựng các dự toán chi phí thực hiện chính sách từ dưới lên, thống nhất với
các chính sách chi tiêu theo các ưu tiên chiến lược.
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
5
Thảo luận chính sách
và xây dựng hạn
mức chi tiêu chính
thức
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
Nói một cách đơn giản, MTEF là quá trình kết hợp giữa việc xác
định các hạn mức chi tiêu chung cho toàn bộ nền kinh tế (hay còn gọi là kỷ
luật tài khóa tổng thể) ở cấp trung ương với việc phân bổ hạn mức đó cho

chính thức
Đánh giá lại các
cấp mục tiêu
trong chiến lược
hoạt động
Dự toán và sắp
xếp thứ tự ưu
tiên các hoạt
động
Xây dựng các
dự toán trung
hạn thống nhất
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
như mục tiêu tiết kiệm ngân sách… để xác định tổng nguồn lực có thể sử
dụng để chi tiêu trong thời kì trung hạn.
(2) Các cơ quan phân bổ ngân sách TW sẽ sơ bộ xác định các hạn
mức chi tiêu cho các ngành theo các mục tiêu ưu tiên của chính phủ.
Những hạn mức này sẽ được chính phủ thông qua.
(3) Các bộ, ngành, địa phương sẽ xác định nhu cầu chi tiêu của mình
trong thời kì trung hạn(thường là 3 năm). Muốn làm được như vậy, các bộ
ngành, địa phương trước hết phải đánh giá lại chiến lược hoạt động của
đơn vị mình, rà soát lại các mục tiêu lâu dài, mục tiêu trước mắt, các đầu ra
dự kiến cũng như các hoạt động dự kiến cần thực hiện để có được đầu ra
mong muốn đó. Việc đánh giá này nhằm giúp các bộ, ngành, địa phương
nhận thức rõ ràng mối quan hệ logic giữa những hoạt động của đơn vị
mình với viêc thực hiện các đầu ra và các mục tiêu dự kiến. Nó sẽ đảm bảo
hoạt động của mỗi đơn vị đều có hướng đích đến một mục tiêu cụ thể nào
đó.
(4) Trên cơ sở đánh giá lại chiến lược hoạt động, các Bộ ngành địa
phương sẽ sắp xếp thứ tự ưu tiên các mục tiêu chiến lược và dự toán kinh

Ôxtrâylia, Niu Zilân và bước đầu được áp dụng ở một số quốc gia đang
phát triển như Malaysia, Malauy hay Thái Lan. Ở Việt Nam phương pháp
này đang được thực hiện thí điểm ở 4 Bộ ngành trung ương là Bộ Giáo dục
– Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Giao
thông vận tải. Kế hoạch tài chính và kế hoạch chi tiêu trung hạn giai đoạn
2007-2009 được mở rộng thí điểm tại 4 tỉnh, thành phố Vĩnh Long, Bình
Dương, Hà Tây và Hà Nội, qua đó sẽ hỗ trợ các địa phương này khai thác
huy động nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển theo mục tiêu nhiệm vụ
kinh tế - xã hội, đồng thời cải thiện quy trình nâng cao chất lượng công tác
xây dựng kế hoạch và ngân sách nhà nước hàng năm của địa phương.
c. Ưu điểm của MTEF so với ngân sách truyền thống
Như vậy quy trình MTEF này đã thể hiện những ưu điểm hơn hẳn so
với quy trình lập nganh sách truyền thống, thể hiện ở chỗ:
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
8
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
Ngân sách hàng năm luôn được đặt trong bối cảnh trung hạn, do đó
khi Quốc hội hay Chính phủ thông qua dự toán hàng năm, họ đều nhận
thức được rõ những gì sẽ tiếp tục được chi tiêu một cách nhất quán với kế
hoạch trung hạn của ngành và quốc gia trong những năm tiếp theo.
Nguồn lực khan hiếm luôn được đảm bảo phân bổ cho những lĩnh
vực ưu tiên. Việc tái phân bổ ngân sách cũng được thực hiện một cách
minh bạch, có những luận chứng chứ không phải là sự cắt giảm tùy tiện.
Các bộ ngành, địa phương chỉ được cấp ngân sách, để thực hiện
được các đầu ra hay mục tiêu đã dự kiến. Vì thế, việc quản lý ngân sách sẽ
chuyển từ kiểm soát đầu vào sang kiểm soát đầu ra và kết quả hoạt động
của các đơn vị thủ hưởng ngân sách. Điều này còn góp phần nâng cao tính
minh bạch và trách nhiệm giải trình của các đơn vị.
Việc phân bổ ngân sách sẽ căn cứ theo chiến lược và mục tiêu hoạt
động của các ngành và địa phương, vì vậy khắc phục được nhược điểm

thiếu sự hậu thuẫn chính trị của các nhà lãnh đạo cấp cao.
Cần có sự liên kết chặt chẽ giữa quy trình lập, thực hiện, giám sát,
báo cáo và đánh giá ngân sách.
Phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan phân bổ ngân sách
trung ương như Bộ Tài chính, Bộ KH và ĐT, và giữa các cơ quan này với
các bộ, ngành, địa phương thụ hưởng ngân sách.
Phải tăng them quyền chủ động cho các bộ, ngành, địa phương trong
việc xây dựng các chiến lược hoạt động nhằm thực hiện kết quả đầu ra của
mình.
Phải có một đội ngũ cán bộ hoạch định kế hoạch và ngân sách có
trình độ cao từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Điều này không thể
ngay một lúc mà có được, mà nó đòi hỏi phải có kế hoạch nâng cao năng
lực cán bộ lập ngân sách ngay từ bây giờ, với việc tranh thủ sự ủng hộ và
trợ giúp của các chuyên gia quốc tế.
Tóm lại, MTEF là một quy trình soạn lập và quản lý ngân sách hiệu
quả, nâng cao được tính minh bạch về ngân sách, đảm bảo được kỷ luật tài
chính tổng thể và phân bổ được các nguồn lực khan hiếm của ngân sách
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
10
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
vào các lĩnh vực được ưu tiên. Thực hiện MTEF đòi hỏi phải có sự chuẩn
bị chu đáo và chuyển đổi dần dần từ quy trình soạn lập ngân sách truyền
thống hàng năm. Tuy nhiên, với quyết tâm cao từ phía các nhà lãnh đạo,
việc chuyển đổi đó là có thể thực hiện được, giống như nhiều quốc gia
xung quanh chúng ta đã và đang thử nghiệm.
2. Vai trò của giáo dục với phát triển kinh tế
2.1. Giáo dục và Đào tạo và vai trò quyết định của nó trong đào tạo
nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế
Con người là trung tâm của sự phát triển, nó vừa là mục tiêu vừa là
động lực của phát triển. Tuy nhiên, nhân tố con người vốn nằm ở dạng

Nhưng cả hai yếu tố trên đều có chung những đặc điểm. Một, nếu phải vay
hoặc mua ở nước ngoài thì phải trả cả vốn lẫn lãi, thậm chí còn là lãi
kép( gồm lãi của bản thân vốn và lãi do tỷ giá tăng). Hai, đều phải qua sự
sử dụng của con người mới phát huy được hiệu quả, nếu để lãng phí, thất
thoát thì chẳng những TTKT không tương ứng, mà còn làm cho gánh nặng
nợ nần gia tăng. Khác với hai yếu tố trên , lao động là thứ mà nước ta sẵn
có tức là nội lực. Tuy lao động nước ta rất nhiều nhưng lại thiếu hụt lao
động có tay nghề, trình độ cao. Đòi hỏi phải đầu tư cho giáo dục đáp ứng
nhu cầu lao động tạo điều kiện thúc đẩy TTKT.
Bắt đầu những năm 1990 là sự công nhận một giai đoạn mới trong
sự phát triển kinh tế toàn cầu: “ nền kinh tế tri thức” hay kinh tế được tri
thức thúc đẩy. Sự công nhận này xuất phát từ thực tế là các quốc gia quan
tâm phát triển tri thức thông qua đầu tư mạnh vào giáo dục. Hơn nữa, ngày
nay các nước nghèo có thể “nhảy vọt “ trong quá trình phát triển của mình
với điều kiện có thể tiếp thu các tri thức tiên tiến của toàn cầu và điều
chỉnh nó phù hợp với nhu câu phát triển của nền kinh tế nước họ. Lực
lượng lao động được đào tạo tốt và có khả năng thích ứng là yếu tố trung
tâm để thực hiện mục tiêu này.
Hầu hết vốn con người được tạo dựng thông qua giáo dục hoặc đào
tạo để giúp tăng năng suất kinh tế của cá nhân- tức là tạo điều kiện cho
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
12
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
người đó sản xuất các hàng hoá và dịch vụ ngày càng có giá trị hơn và nhờ
đó kiếm được thu nhập cao hơn. Chính vì vậy các Chính phủ, công nhân va
các chủ doanh nghiệp đầu tư vào vốn con người thông qua vịêc đầu tư tiền
bạc và thời gian vào giáo dục và đào tạo. Chính phủ chi tiêu công quỹ cho
giáo dục vì họ tin rằng người dân được đào tạo tốt hơn sẽ đóng góp vào sự
phát triển nhanh hơn và bền vững hơn của đất nước. Các ông chủ trả tiền
đào tạo cho người lao động vì họ hy vọng sẽ bù đắp chi phí và có thêm lợi

Thứ hai, giáo dục tạo ra một lực lượng lao động có trình độ, có kỹ
năng làm việc với năng suất cao là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững.
Vai trò của giáo dục thường được các nhà kinh tế đánh giá bằng chỉ
tiêu ”tỷ suất lợi nhuận cho giáo dục”. Về lý thuyết , tỷ suất lợi nhuận từ
đầu tư giáo dục cũng giống lợi nhuận đầu tư vào bất kỳ dự án nào khác. Đó
là tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận đầu tư ở một mức độ giáo dục nhất định
với tổng các chi phí. So sánh chỉ số này giữa các cấp giáo dục có thể giúp
cho việc đánh giá lợi ích kinh tế của đầu tư giáo dục ở cấp nào có hiệu quả
hơn.
Kết quả nghiên cứu ở các nước cho thấy tỷ suất lợi nhuận đầu tư
vào cấp tiểu học là cao hơn các cấp học khác. Chẳng hạn, tỷ suất lợi nhuận
chung của thế giới (đầu thập niên 90) ở cấp tiểu học là 18,4% trung học là
13,1%, Đại học là 10,9%. Các số liệu tương ứng của Việt Nam là 10,8%,
3,8% và 3,0%. Như vậy có thể thấy rằng giáo dục tiểu học và giáo dục cơ
bản là có hiệu quả hơn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Do
vậy chính sách giáo dục của các nước đang phát triển cũng tập trung nhiều
và ưu tiên nhiểu hơn cho giáo dục tiểu học.
Thứ ba, giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông
tin để người dân đặc biệt là phụ nữ có thể có thể sử dụng những công nghệ
nhằm tăng cường sức khoẻ,dinh dương. Chẳng hạn tỷ lệ tử vong trẻ em
giảm xuống, tỷ lệ dinh dương trẻ em tăng lên cùng với học vấn của cha
mẹ, đặc biệt của người mẹ vì biết sinh hoạt về sinh hơn hay biết cách sử
dụng những thức ăn giầu dinh dưỡng hơn… Với ý nghĩa trên giáo dục còn
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
14
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
góp phần vào việc bổ sung cho các dịch vụ y tế ( giảm nhu cầu về những
dịch vu y tế).
Như vậy, giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng, bên cạnh y tế và

chính
quy
Thạc sĩ
(2 năm)
24
21
18
18
15
11
6
6
3
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
Nhìn vào sơ đồ có thể thấy rõ hệ thống giáo dục Việt Nam được
phân cấp rất rõ ràng từ cấp nhà trẻ cho trẻ em từ 3 tuổi cho đến cấp thạc sỹ,
tiến sỹ từ 24 tuổi trở lên sau khi đã tốt nghiệp bậc đại học, cao đẳng. Các
bậc giáo dục tăng dần theo cấp học và theo độ tuổi của học viên, và tại
từng mỗi cấp học đều có quy định số năm đào tạo cụ thể. Học viên hoàn
thành phổ cập giáo dục theo từng cấp và được cấp bằng tương ứng với cấp
giáo dục đó theo đúng quy chế. Hệ thống giáo dục Việt Nam bao gồm có 4
cấp cơ bản : giáo dục mầm non(trong độ tuổi từ 3-5 tuổi), giáo dục phổ
thông(trong độ tuổi từ 6-15), giáo dục chuyên nghiệp(trong độ tuổi từ
15-18) và giáo dục đại học (từ 15-24 tuổi) và sau đại học(trên 24 tuổi).
Tương ứng với các cấp giáo dục và cũng là điều kiện cho việc chuyển từ
cấp giáo dục thấp lên cấp giáo dục cao thì cũng có thêm quy định về hệ
thống văn bằng chứng chỉ.
b. Thành tựu
Mặc dù đất nước còn nghèo, thu nhập quốc dân còn thấp, lại trải
qua mấy chục năm chiến tranh nhưng giáo dục Việt Nam đã đạt được

đúng đắn.
* Giáo dục đang có những bước đi đúng hướng, đón đầu trong bối
cảnh đất nước bước sang giai đoạn mới.
Chúng ta vừa gia nhập WTO, trong giai đoạn trước mắt, một số
lượng khổng lồ các dự án sẽ được đầu tư ở Việt Nam, bạn bè quốc tế công
nhận Việt Nam là điểm đến hấp dẫn và đầy tiềm năng. Việc chuẩn bị lực
lượng lao động sẽ là yếu tố quyết định tới việc Việt Nam có trở mình để
trở thành một con rồng hay không. Nhận thức rõ điều này, chính phủ và Bộ
Giáo dục đã và đang có những chiến lược, kế hoạch phát triển những
ngành học phù hợp với xu hướng phát triển trong thời đại mới, cải cách sâu
rộng nền giáo dục vốn đã quá nặng nề và lạc hậu của chúng ta.
c. Hạn chế
- Hạn chế chung
Bên cạnh các thành tích đó, hệ thống giáo dục Việt Nam còn nhiều
khó khăn. Chất lượng giáo dục còn chưa cao, cơ sở vật chất giáo dục còn
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
17
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
thiếu thốn, nghèo nàn lạc hậu, giáo trình thiếu cập nhật, trình độ giáo viên
chưa cao và chưa được quan tâm đúng mức, công tác quản lý giáo dục còn
kém hiệu quả... Đặc biệt hiện vẫn còn hàng triệu trẻ em không được đến
trường.
Những hạn chế của nền giáo dục Việt Nam bắt nguồn từ những
nhược điểm có tính truyền thống của văn hóa Việt Nam và những hạn chế
của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhiều cuộc cải cách giáo dục đều diễn ra
nhưng hầu như đều thất bại do chỉ cải cách trên phương diện lý thuyết.
Chương trình giáo dục thiếu tính đa dạng, vẫn nặng lý thuyết, tính ứng
dụng thực tế thấp. Bên cạnh đó nặng về thi cử với nhiều kỳ thi kéo dài gây
áp lực cho thí sinh, sinh ra tâm lý học đối phó ở một bộ phận học sinh, sinh
viên. Và một trong những sai lầm cơ bản của hệ thống giáo dục Việt Nam

tượng và năng lực sáng tạo, đó là những đặc trưng chất lượng lao động
khiến sức cạnh tranh rất thấp.
• Nhân tài tuy không đến nỗi quá thiếu nhưng phát hiện và bồi
dưỡng kém, thiếu cơ hội và điều kiện phát triển. Chất xám bị lãng phí
nghiêm trọng dưới nhiều hình thức khác nhau.
HTGD Việt Nam cũng như cơ cấu giáo dục của ta có nhiều hạn chế
và bất hợp lý hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt
là trong GDĐH. Ở đây ta xét nhiều GDĐH vì nó có tác động trực tiếp đến
lao động- một nhân tố quan trọng của tăng trưởng.
- Hạn chế ở giáo dục phổ thông
Mâu thuẫn lớn trong GDPT hiện nay là một mặt ta lên án học vẹt,
học vì bằng, luôn hô hào cải tiến phương pháp dạy học, phát huy chủ động
của học sinh, học đi đôi với hành,… nhưng mặt khác vẫn duy trì cách thi
cử cổ lỗ, vẫn dung túng dạy thêm, học thêm tràn lan. Chính những việc đó,
cộng thêm chương trình và sách giáo khoa bất cập, là nguyên nhân trực
tiếp gây ra môi trường học đường ngày càng bị ô nhiễm, nền giáo dục của
ta ngày càng lạc hậu.
- Hạn chế ở giáo dục đại học
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
19
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
Trong thời đại cách mạng công nghệ, đại học có vai trò chủ đạo
trong toàn bộ hệ thống giáo dục của một nước. Nhưng so với thế giới và
khu vực, GDĐH của ta còn quá yếu kém, tụt hậu còn xa hơn GDPT. Trước
đây ta xây dựng đại học theo mô hình Liên xô cũ, nó không còn thích hợp
với giai đoạn phát triển mới của đất nước, song những biện pháp sửa đổi
chắp vá thời gian qua đã phá vỡ tính hệ thống của nó, rốt cuộc tạo ra cảnh
tượng lộn xộn, không còn chuẩn mực, không theo quy củ, tuỳ tiện, và kém
hiệu quả. Cụ thể là :
Chương trình học ở Việt Nam quá dài. Nên GDĐH Việt nam vẫn

(năm 2007 đã được quốc hội phê duyệt) và dự báo cho thời kỳ trung hạn 3
năm 2007-2009 trên cơ sở kế hoạch 5 năm 2006-2010.
Mục tiêu nhiệm vụ phát triển của các ngành trong tổng thể mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được hoạch định trong bản kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được Quốc hội thông qua.
Các nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách, được thể hiện trong
Luật Ngân sách đã được ban hành.
Các định mức chi tiêu công, trong đó chi thường xuyên và chi đầu
tư phát triển, những nội dung chi tiêu, những danh mục công trình đầu tư.
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
21
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
Các chính sách ưu tiên, các ngành ưu tiên và các nội dung chi tiêu
ưu tiên được xác định trong kế hoạch nhà nước.
1.2.Khuôn khổ chi tiêu ngân sách trung hạn 2007-2009 cho giáo dục
Ta có mức trần trong cân đối ngân sách được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 1: Mức trần trong cân đối ngân sách chi tiêu cho ngành Giáo
dục và Đào tạo
( Đơn vị: Tỷ đồng)
Khuôn khổ chi
Thực hiện
2005
Thực hiện
2006
Thực hiện
2007
Dự báo
2008
Dự báo
2009

đối được để lại cho ngành theo cơ chế hiện hành và theo những quyết định
riêng của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, trong lĩnh vực giáo dục, còn có
thêm nguồn vốn trái phiếu chính phủ, công trái giáo dục… Do vậy, ngành
cũng gộp vào nguồn vốn đề xuất chung cho chi tiêu trong ngân sách của
mình.
Bảng 2: Tổng chi thường xuyên và chi đầu tư cho ngân sách cơ sở
và các nhiệm vụ và chính sách mới đề xuất của ngành Giáo dục và
Đào tạo.
(Đơn vị: Tỷ đồng)
Khuôn khổ chi
Thực hiện
2005
Thực hiện
2006
Thực hiện
2007
Dự báo
2008
Dự báo
2009
Tổng chi NS cho
ngành giáo dục đào
tạo
45.023 51.271 66.103 72.000 81.200
% so với tổng chi
NSNN
17% 19,4% 18,5% 18,9% 18,9%
Trong đó
Chi đầu tư 7.423 10.109 11.530 13.100 15.200
Chi thường xuyên 37.600 41.162 54.573 58.900 66.000

Trong đó
Chi thường xuyên 70.626 80.633 91.459
Chi đầu tư 19.673 18.653 17.720
(Nguồn: Kế hoạch tài chính ngành Giáo dục 2006-2010)
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
24
Chuyên đề thực tập Nguyễn Quang Tiến - KTPT 46
2.2.Vốn đề xuất chi tiêu cho các sáng kiến mới của ngành Giáo dục và
Đào tạo trong tái khóa trung hạn 2007-2009
Căn cứ vào mục tiêu phát triển của ngành, các cơ chế chính sách
mới sẽ đưa vào thực hiện trong thời kỳ trung hạn; ngành giáo dục đã dự
báo nhu cầu chi tiêu cho các sáng kiến mới trong MTEF 2007-2009 như
sau:
Bảng 4: Vốn đề xuất chi tiêu cho các sáng kiến mới của ngành giáo
dục.
(Đơn vị: tỷ đồng)
Năm 2007 2008 2009
Tổng 15.673 15.759 17.043
% so với tổng nhu cầu
đề xuất chi của ngành
14,8 14,0 13,5
Trong đó
Chi thường xuyên 4.462 4.957 8.197
Chi đầu tư 8.661 3.370 804
(Nguồn: Kế hoạch tài chính ngành Giáo dục 2006-2010)
3. So sánh mức đề xuất chi tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo
với mức trần chi tiêu đặt ra
So sánh mức trần trong cân đối ngân sách, việc đề xuất chi tiêu của
ngành Giáo dục và Đào tạo tăng khá cao. Bảng dưới đây chứng mình điều
đó:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status