Kế toán thực chứng: Hướng đúng phát
triển ngành kế toán Việt Nam?
Trong hai năm gần đây, 2008 và 2009, tình trạng khác nhau rất lớn giữa số
liệu trong báo cáo tài chính chưa được kiểm toán với số liệu sau kiểm toán
phát sinh rất nhiều đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Trường hợp điển hình là số liệu lợi nhuận của Vinaconex (VCG) năm 2009 sau
kiểm toán giảm gần 257 tỷ đồng so với số liệu lợi nhuận trước kiểm toán. Hay sự
kiện gần đây nhất là Công ty Du lịch Dầu khí Phương Đông (PDC) có lợi nhuận
trước kiểm toán là 3 tỉ đồng nhưng kết quả kiểm toán cho thấy Công ty lỗ gần 60 tỉ
đồng. Vậy câu hỏi được đặt ra là tại sao lại có sự chênh lệch lớn như vậy? nguyên
nhân cốt lõi là gì?
Bài viết có tính chất giới thiệu với bạn đọc, người nghiên cứu kế toán, người sử
dụng thông tin kế toán và những người ban hành các chuẩn mực và quy định về kế
toán tại Việt Nam Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory). Hy
vọng lý thuyết nghiên cứu kế toán thực chứng là tiền đề giải thích các sự kiện kế
toán phát sinh trong thực tế, đặc biệt trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi số
liệu báo cáo tài chính tác động rất lớn đến các quyết định và lợi ích của nhà đầu tư.
Lý thuyết kế toán thực chứng là gì?
Trước tiên ta cần hiểu về định nghĩa một dòng lý thuyết. Dòng lý thuyết được định
nghĩa là một chuỗi liên tục các định đề hoặc các nguyên lý thiết lập ra các khung
nguyên tắc chung nhất cho một lĩnh vực nhất định. Các dòng lý thuyết kế toán
khác nhau đưa đến các kết quả, cách thức nghiên cứu và ứng dụng khác nhau.
Lý thuyết kế toán chuẩn tắc (Normative Accounting Theory) diễn giải cho chúng
ta các quy định của khung nguyên tắc kế toán (Accounting Framework) và các
chuẩn mực kế toán. Lý thuyết kế toán chuẩn tắc quy định các nghiệp vụ phát sinh
thì cần phải được ghi nhận và công bố như thế nào. Điều đó có nghĩa là lý thuyết
kế toán của chúng ta áp dụng lý thuyết kế toán thực chứng thì biết đâu có thể kiểm
chứng và đúc kết các sự kiện biến động giá cổ phiếu dưới tác động của thông tin
kế toán như của Vinaconex, hay Công ty Cổ phần Đầu tư và Vận tải Dầu khí
Vinashin (VSP) từ quán quân lãi năm 2008 trở thành quán quân lỗ năm 2009
nhưng giá cổ phiếu đang tăng rất nóng trong thời gian gần đây.
Nghiên cứu các hành vi phù phép lợi nhuận, biết lỗ thành lãi và ngược lại, dường
như gần gũi hơn đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Hàng loạt các hành
động “cố tình” che dẫu lãi/lỗ của các doanh nghiệp niêm yết được kiểm toán viên
điều chỉnh. Lý thuyết kế toán thực chứng nghiên cứu nguyên nhân và giải thích
cho các hành động trên.
Thông thường kế toán thực chứng nghiên cứu các hành vi cơ hội dựa trên lợi ích
của các nhóm người khác nhau, có thể kể đến mối quan hệ giữa chủ sở hữu - nhà
quản lý doanh nghiệp - người cho vay (Owner-Manager-Lender), hay còn gọi là lý
thuyết người đại diện (Agency Theory). Mỗi nhóm người có lợi ích khác nhau và
hành động của họ thường phục vụ lợi ích của nhóm. Có thể lãnh đạo của các
doanh nghiệp như Vinaconex hay PDC nêu trên có những lợi ích riêng khi công
bố kết quả lợi nhuận chưa kiểm toán cao hơn thực tế. Theo các nghiên cứu về phù
phép lợi nhuận, ban lãnh đạo thường công bố lợi nhuận cao nhằm đạt mức lương
thưởng gắn với kết quả kinh doanh và đồng thời giữ giá cổ phiếu khi họ cũng là
những cổ đông lớn.
Lý thuyết kế toán thực chứng đồng thời còn nghiên cứu về lợi nhuận bị tác động
dựa trên các yếu tố phí tổn chính trị (Political cost). Yếu tố phí tổn chính trị đối
với doanh nghiệp được coi là các phí tổn phi hợp đồng. Ví dụ như công đoàn công
ty sẽ gây sức ép với ban lãnh đạo để được trả lương cao hơn khi công ty có lãi cao.
Đó là động lực để ban lãnh đạo phù phép giảm lợi nhuận thông qua các thủ thuật
kế toán. Ví dụ cụ thể hơn trên thị trường chứng khoán Việt Nam là trường hợp
Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết phù phép lỗ thành lãi trong hai năm trước khi
nghiên cứu được coi là kinh điển năm 1968 “
An Empirical Evaluation of
Accounting Income Numbers
”. Công trình nghiên cứu này được đăng trên tạp chí
nổi tiếng trong giới kế toán “Journal of Accounting Research”, đại bản doanh của
Ray Ball sau này tại Đại học Chicago, Mỹ. Một điều thú vị là Ray Ball và Phillip
Brown hoàn thành công trình của mình khi đang còn là sinh viên Đại học New
South Wales (Úc). Ngoài ra, theo một số thảo luận không chính thức, công trình
nghiên cứu này đã bị tạp chí The Accounting Review (Mỹ) từ chối đăng vì cho
rằng nó không liên quan đến kế toán. Công trình của hai ông đến thời điểm này đã
được trích dẫn bởi 2554 công trình nghiên cứu và bài báo khoa học khác nhau
trong (Nguồn: Google Scholar). Cho đến bây giờ nhắc đến nghiên cứu kế toán,
người ta vẫn sẽ nhắc đến Ball & Brown cho dù cũng trong năm 1968, Beaver
(1968) cũng đưa ra công trình nghiên cứu kế toán thực chứng của mình “The
Information Content of Annual Earnings Announcement”. Công trình của
Ball&Brown và Beaver là những công trình đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết
kế toán thực chứng.
Sau Ball và Brown, cùng với sự phát triển của Watts và Zimmerman, các nghiên
cứu kế toán theo trường phái thực chứng đã phát triển mạnh mẽ và dường như lấn
át trường phái kế toán chuẩn tắc. Các đề tài nghiên cứu của những sinh viên cao
học cho đến các luận án tiến sỹ hay các công trình nghiên cứu của các giáo sư tại
các trường đại học và viện nghiên cứu quốc tế thường áp dụng các phương pháp
nghiên cứu thực nghiệm. Trong thời gian gần đây, tại Việt Nam đã xuất hiện một
số bài báo nghiên cứu khoa học áp dụng lý thuyết kế toán thực chứng, mặc dù chất
lượng vẫn chưa được đánh giá. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là các bài báo này lại
được thực hiện bởi các nghiên cứu sinh người Việt tại nước ngoài và chưa lấy bối
cảnh và dữ liệu tại Việt Nam.
Sự cần thiết của lý thuyết kế toán thực chứng
lúng túng trong xử lý. Kiểm toán viên phải tranh luận với kế toán trong việc thống
nhất xử lý. Và thậm chí, chương trình thi cấp chứng chỉ kiểm toán viên quốc gia
năm 2010 sẽ không bao gồm Thông tư 201 vì chưa thống nhất với chuẩn mực kế
toán. Bộ Tài chính đang phải xem xét tác động của sự chưa thống nhất này.
Thông tư 244/2009/TT-BTC sửa đổi và bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp.
Thông tư 244 cho phép ghi nhận chênh lệch đánh giá lại tăng tài sản khi góp vốn
vào thu nhập trong kỳ. Điều này có thể chưa phù hợp với chuẩn mực kế toán, đặc
biệt chưa phù hợp với nguyên tắc thận trọng ghi cho phép ghi nhận thu nhập chưa
thực hiện do đánh giá lại tài sản.
Hiện tại chưa có bất kỳ nghiên cứu về tác động trong thực tế của các quy định kế
toán trên đối với nền kinh tế và thị trường vốn được công bố. Người viết đề xuất
rằng một nghiên cứu thực nghiệm tác động trong thực tiễn sẽ là cơ sở tốt nhất cho
những nhà hoạch định chính sách trong việc đưa ra các chính sách kế toán và tài
chính mới hoặc sửa đổi và hoàn thiện các chính sách hiện hành.
Hi vọng rằng sự phát triển của nghiên cứu kế toán thực chứng, cho dù mới bắt đầu,
sẽ là một tiền đề quan trọng trong sự phát triển của kế toán Việt Nam, hướng tới
một hệ thống kế toán ngày càng hoàn thiện hơn. ./.
Phan Lê Thành Long (2010)
Tài liệu tham khảo
Ball, R & Brown, P (1968), “An Empirical Evaluation Of Accounting Income
Number”, Journal of Accounting Research, Vol.6, No.2, Autumn, pp.159-178
Beaver, W, (1968), “The Information Content Of Annual Earnings
Announcement”, Journal of Accounting Research, Supplement, pp.67-92
Watts,L & Zimmerman, J (1979), “The Demand For And Supply Of Accounting
Theory: The Market For Excuses”, The Accounting Review, Vol.LIV, No.2, Apr
Watts,L & Zimmerman, J (1986), “Positive Accounting Theory”, Prentice-Hall
Inc., 1986
Watts,L & Zimmerman, J (1990), “Positive Accounting Theory: A Ten Year
Perspective”, The Accounting Review, Vol.65, No.1, Jan