Tài liệu KHÁI NIỆM CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH doc - Pdf 97

MỤC LỤC
2.Các biện pháp can thiệp thị trường, giải cứu ngân hàng của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương
(NHTW) các nước và các tổ chức tài chính quốc tế 3
1.Đối với nền kinh tế Việt Nam 4
2.Đối với thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng ở Việt Nam 6
I. KHÁI NIỆM CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH:
Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc
đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính là:
- Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền.
- Các khách hàng vay vốn , gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể
hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
II. VỀ TÌNH HÌNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI
1. Diễn biến và nguyên nhân cuộc khủng hoảng tài chính thế giới
Để giúp nền kinh tế thoát khỏi sự trì trệ kéo dài (một phần lớn bị tác động bởi sự kiện
11/09/2001 nước Mỹ bị khủng bố và Mỹ tấn công Afghanistan, Iraq), Thống đốc Hệ thống Dự
trữ liên bang Mỹ Fed liên tục điều chỉnh hạ thấp lãi suất từ 6% xuống còn 1% vào ngày
25/06/2003.
Từ đó dẫn đến các ngân hàng thương mại cũng hạ lãi suất cho vay (từ 9-10%/năm xuống
còn 4-5%/năm). Chính sách tiền tệ của NHTW được nới lỏng, dư nợ tín dụng của hệ thống
NHTM cũng được mở rộng theo, nhiều khoản vay mua nhà dưới chuẩn được thực hiện với sự
tiếp sức của các môi giới tín dụng và môi giới bất động sản.
Theo ước tính của các chuyên gia thì dư nợ cho vay dưới chuẩn tăng từ 160 tỉ USD năm
2001 lên 540 tỉ vào năm 2004 và trên 1.300 tỉ vào năm 2007. Trong 22.000 tỷ USD giá trị bất
động sản tại Mỹ thì có tới hơn 12.000 tỷ USD là tiền đi vay, trong đó khoảng 4.000 tỷ USD là
nợ xấu.
Chính sách nới lỏng tiền tệ đã dẫn đến lo ngại về lạm phát, FED đã liên tục điều chỉnh lãi
suất từ 1% lên 1.25, 1.5, …và 5.25% vào ngày 30/06/2006, kéo theo lãi suất NHTM tăng từ 4%
1
lên 8-9%/năm. Các khoản tiền lãi vay phải trả của những người mua nhà đã gia tăng mạnh và đe
dọa khả năng trả nợ. Thị trường bất động sản Mỹ bắt đầu đóng băng và sụt giảm giá trị,… nợ

(1) Đến tháng 12/2008, có 25 nước rơi vào suy thoái (Mỹ, Nhật Bản, khu vực đồng Euro,
các nước Đông Âu); suy thoái kinh tế ở nhiều nước tiếp tục diễn ra trong những tháng đầu năm
2009; IMF dự báo năm 2009, kinh tế thế giới giảm - 1,4% (các nước phát triển giảm - 3,8%,
riêng Trung Quốc tăng 7,5%, Ấn Độ tăng 5,4%);
(2) Lạm phát ở các nước có xu hướng giảm, hiện nay ở mức thấp;
(3) Thương mại toàn cầu sụt giảm, IMF dự báo năm 2009 giảm 12,2%;
(4) Thị trường chứng khoán thế giới chao đảo và suy giảm mạnh (chỉ số chứng khoán
DownJones của Mỹ giảm 24%, Anh giảm 19%, Nikkei giảm 20%);
- Chính phủ các nước G7 và G20 đều tuyên bố sẽ sử dụng tất cả các biện pháp để ổn định
thị trường tài chính - tiền tệ, bảo đảm thanh toán tiền gửi tiết kiệm của người dân, tiến hành
quốc hữu hoá các ngân hàng có nguy cơ phá sản, cung cấp vốn vay không giới hạn bằng USD
cho các ngân hàng. IMF cam kết cho các nước đang phát triển vay 175 tỷ USD để ổn định thị
trường tài chính (Iceland, Ukraina, Pakistan, Hungari ); ngày 02/4/2009, các nước G20 đồng ý
cho IMF vay 750 tỷ USD để hỗ trợ các nước.
Chính phủ Mỹ đã triển khai kế hoạch giải cứu thị trường trị giá 700 tỷ USD. Hiện nay
Chính phủ Mỹ cũng đang bàn biện pháp hỗ trợ ngành sản xuất ô tô trong nước để tránh bị phá
sản với 14 tỷ USD. FED thực hiện trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ
bắt buộc cho các ngân hàng để tăng tiền dự trữ bắt buộc của các ngân hàng tại FED, bảo lãnh
các ngân hàng vay trên thị trường liên ngân hàng để ổn định thị trường tiền tệ trong điều kiện
các ngân hàng không thực hiện cho vay lẫn nhau do lo ngại rủi ro mất vốn.
- Chính phủ các nước EU tuyên bố đưa ra các kế hoạch tổng cộng khoảng 3.000 tỷ USD và
giải cứu thị trường bằng biện pháp mua lại nợ xấu, cơ cấu lại tài sản của các ngân hàng.
NHTW nhiều nước bơm thêm các khoản tiền lớn nhằm tăng thanh khoản cho thị trường
đưa ra thị trường khoảng 2.200 tỷ USD, NHTW các nước phát triển (Mỹ, Đức, Pháp, Anh,
Nhật ) và các nước đang phát triển cũng tuyên bố sẽ cung ứng tiền không có giới hạn, phối hợp
điều chỉnh giảm lãi suất chủ đạo để tác động trực tiếp làm giảm lãi suất thị trường nhằm tháo gỡ
khó khăn cho nền kinh tế: FED giảm từ 2%/năm xuống 1,5%/năm, ECB giảm từ 4,25%/năm
xuống 3,75%, BOE giảm từ 5%/năm xuống 4,5%/năm. Đồng thời thực hiện các biện pháp sau
để tăng khả năng thanh khoản và mở rộng tín dụng, hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng và công
ty tài chính:

cân đối lớn, cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt ở mức thấp, thu chi ngân sách nhà nước đạt
khá so với dự toán cả năm hoạt động sản xuất - kinh doanh giảm dần khó khăn và tiếp tục phát
triển; an sinh xã hội được bảo đảm; sức mua của thị trường nội địa tăng ở mức cao, thị trường
tiền tệ tương đối ổn định và hoạt động ngân hàng đảm bảo an toàn; thị trường bất động sản và
chứng khoán hồi phục. Tuy nhiên do vị thế đặc biệt của Mỹ:
4
- Là trung tâm tài chính lớn nhất của thế giới.
- Là nhà đầu tư hàng đầu vào Việt Nam chiếm tới 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng năm.
- Là nơi có lượng Việt kiều đông nhất trên thế giới.
Nên xét về mặt tổng thể, khủng hoảng tài chính Mỹ cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền
kinh tế Việt Nam :
Thứ nhất, về xuất khẩu, tính chung 11 tháng đầu năm 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt
58,5 tỷ USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm trước nhưng chủ yếu là do tăng giá. Năm 2009,
2010 xuất khẩu sẽ bị giảm sút do các nước Mỹ, EU, Asean, Úc,… bị ảnh hưởng nặng nề nhất
của cuộc khủng hoảng tài do đó nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam cũng sẽ bị suy giảm.
Khủng hoảng tài chính của Mỹ có thể làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ giảm
mạnh vì hai lý do:
- Là hàng xuất khẩu của Việt Nam một phần lớn vẫn là các loại hàng thô,
trong khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm. Giá dầu
mỏ và các mặt hàng xuất khẩu giảm, kéo theo thâm hụt ngân sách tăng lên
(năm 2009 dự kiến dưới 7%); kim ngạch xuất khẩu giảm (7 tháng đầu năm
2009 giảm 13,4)
- Sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng
hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm đi.
Thứ hai, Giải ngân vốn FDI, ODA và thu hút kiều hối đều giảm so với cùng kỳ năm 2008
do phần đông Việt kiều sinh sống ở Mỹ, EU bị giảm thu nhập.
Thứ ba, nguồn tín dụng trên thị trường tài chính quốc tế bị thu hẹp do các nhà đầu tư nước
ngoài gặp khó khăn về tài chính và cả sự thận trọng hơn khi đưa ra những quyết định đầu tư.
Điều này đã anh hưởng trực tiếp đến Việt Nam.

Năm 2008 dự trữ ngoại hối của Việt Nam vẫn rất an toàn do 82% dự trữ ngoại hối đang
được gửi ở ngân hàng trung ương các nước như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF;
18% còn lại gửi đầu tư các ngân hàng thương mại nước ngoài nhưng những ngân hàng này đều
có mức độ tín nhiệm cao, xếp hạng 3A và 2A.
6
Các ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam cũng khá linh hoạt trước cú sốc tài chính thế
giới. Thanh khoản trong hệ thống đang ở mức cao, thậm chí còn dư thừa tới 40.000 tỷ đồng.
Nhiều ngày nay, vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng đều thừa 15.000-30.000 tỷ đồng mỗi
ngày. Do tính thanh khoản cao, lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức thấp, chỉ khoảng 12%.
9 tháng đầu năm 2008, tốc độ tăng trưởng huy động vốn của các ngân hàng thương mại đạt
11,01%. Trong đó, đáng chú ý là sự gia tăng nguồn vốn huy động từ dân cư, vốn nội tệ tăng
28,5% và ngoại tệ tăng gần 35%. Tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng đạt mức
19,15%. Trong đó, dư nợ cho vay với bất động sản đạt 115.000 tỷ đồng, chiếm 9,15% tổng dư
nợ cho vay nền kinh tế.
Thực tế cho thấy, cho đến hết tháng 11/2009 vừa qua, không ít ngân hàng đã có những
kết quả kinh doanh hết sức khả quan. Có nhiều ngân hàng đã có lợi nhuận dự kiến:
- Vượt 2.000 tỷ đồng như: Vietcombank, VietinBank, ACB và Techcombank
- Trên 1.000 tỷ đồng gồm: Sacombank, Eximbank, Ngân hàng Quân đội;
- Dưới 1.000 tỷ đồng gồm: Ngân hàng Hàng Hải, Ngân hàng cổ phần Sài
Gòn, Ngân hàng Quốc tế, Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Liên Việt
Tất nhiên, những khó khăn của năm 2008 cũng khiến các ngân hàng dè chừng hơn trong
việc đưa ra các mục tiêu cho năm 2009 nên thường họ chỉ đưa ra mục tiêu vừa phải, và tập trung
vào việc củng cố hoạt động để phát triển vững chắc hơn. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
(ROE) của năm 2009 dự kiến đạt 19%, tăng so với năm 2007 là 17,8% và vượt xa con số 11,9%
năm 2008.
Mặc dù hiện tại hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam chưa chịu tác động mạnh từ
cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vì hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam mới chỉ ở giai
đoạn đầu của hội nhập; nhưng trước mắt sẽ có những hạn chế trên một số lĩnh vực như:
- Mức độ liên thông giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam với thị trường tài chính bên
ngoài và với ngân hàng Mỹ sẽ gặp khó khăn.

định hệ thống, tiếp tục chống lạm phát, vừa góp phần kích cầu nền kinh tế theo Nghị quyết số
30 của Chính phủ, bảo đảm an toàn của các tổ chức tín dụng, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương
tiện thanh toán và dư nợ tín dụng năm 2008 ở mức hợp lý, bảo đảm khả năng thanh khoản cho
các tổ chức tín dụng ở mức cao, giảm dần lãi suất cho vay; điều hành tỉ giá phù hợp với quan hệ
cung – cầu của thị trường nhằm thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu.
Các biện pháp cụ thể đã được triển khai:
8
- Ngày 17/03/2008, Phát hành tín phiếu bắt buộc 20,300 tỷ đồng.
- Ngày 1/04/2008 tỷ lệ dự trữ bắt buộc nâng lên 11%, lãi suất cơ bản điều chỉnh
tăng từ 8.75 lên 12%.
- 19/05/2008, lãi suất tái chiết khấu tăng từ 11 lên 13%.
- Ngày 1/06/2008, lãi suất tái cấp vốn tăng từ 13 lên 15%, lãi suất cở bản điều chỉnh
tăng lên 14%.
- Lạm phát trung bình năm 22.97%, lãi suất cho vay trung bình trong năm 13.46%.
Tăng trưởng tín dụng 25.4%, tăng trưởng GDP 5.19%.
Đến 10/2008, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chuyển hướng điều hành chính sách tiền
tệ từ “thắt chặt” sang “nới lỏng” một cách thận trọng bằng các biện pháp:
1. Hạ lãi suất cơ bản giảm từ 14%/năm xuống 13%/năm hiện nay là 8/năm, lãi suất tái cấp
vốn giảm từ 15%/năm xuống 14%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 13%/năm xuống
12%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay
bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng giảm từ
15%/năm xuống 14%/năm, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND từ
11% xuống 3%; điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở và hoán đổi ngoại tệ để hỗ
trợ thanh khoản cho các NHTM; điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc từ
10%/năm xuống 1,2%/năm.
2. Điều hành linh hoạt tỷ giá USD/VND (điều chỉnh tăng tỷ giá giao dịch USD/VND bình
quân thị trường liên ngân hàng, tăng biên độ tỷ giá giữa VND với USD từ +3% lên +5%
đối với giao dịch mua bán của các NHTM); can thiệp mua bán ngoại tệ và thực hiện các
biện pháp chống đầu cơ ngoại tệ.
3. Giám sát chặt chẽ việc thực hiện các tỷ lệ bảo đảm an toàn, hoạt động kinh doanh, chất

thụ hưởng các khoản tín dụng được hỗ trợ lãi suất, nếu có, cũng sẽ xuất hiện vào năm tới. Đây là
điểm các ngân hàng cần hết sức lưu tâm trong năm 2010.
Thứ ba, bài toán vốn .Áp lực tăng vốn điều lệ đối với các NHTM cổ phần trong năm
2010 là không nhỏ. Theo quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành
ngày 22/11/2006 mức vốn điều lệ áp dụng cho các NHTM cổ phần đến cuối năm 2010 phải là
3.000 tỷ đồng, điều này quả thực gian nan đối với không ít ngân hàng. Tăng vốn là cần thiết
nhưng phải tính toán hết sức thận trọng bởi quy mô vốn lớn lại có thể dẫn tới hiệu suất sử dụng
trên từng đồng vốn thấp, do vậy, kế hoạch tăng vốn phải gắn liền với chiến lược phát triển hợp
lý.
Thứ tư, bài toán về cạnh tranh. Rõ ràng, mức độ cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt khi các
ngân hàng không chỉ phải cạnh tranh với nhau mà cả với các ngân hàng ngoại. đến nay đã có 5
ngân hàng con 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là HSBC, Standard Chartered,
ANZ, Hong Leong và Shinhan nhưng chắc chắn sẽ không dừng lại ở con số 5. Không chỉ phải
cạnh tranh nội ngành, các ngân hàng còn phải cạnh tranh với các kênh đầu tư khác như chứng
khoán, vàng, bất động sản trong việc thu hút vốn để đảm bảo khả năng thanh khoản vì hiện nay
tiền gửi vẫn là nguồn vốn huy động chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn tổng vốn tín dụng của các ngân
hàng.
Thách thức càng nhiều, nỗ lực càng phải lớn hơn để không chỉ tồn tại mà còn phải phát
triển. Những bài học từ tài chính Mỹ có lẽ là bài học đắt giá cho ngành Ngân hàng Việt Nam.
Lợi nhuận cao luôn đi kèm với rủi ro cao là bài học muôn thuở, luôn được các ngân hàng nói
đến nhưng các ngân hàng cũng rất khó bỏ qua những “khoản lợi nhuận cao” này. Vì thế, thận
10
trọng luôn là cần thiết, không nên lấy ngắn nuôi dài, không nên lấy tiền thực để nuôi các tài sản
ảo, không nên cho vay dựa trên các quan hệ thân hữu, không nên mù quáng theo đuổi lợi nhuận,
nhất là trong bối cảnh hiện nay.
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status