84
BỤI VÀ CÁC BỆNH PHỔI DO BỤI
MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1. Nêu được những đặc tính và cách phân loại bụi trong sản xuất.
2. Liệt kê được các loại tác hại của bụi.
3. Trình bày được phương pháp phòng chông bụi trong xắn xuất.
4. Giải thích được cơ chế bệnh sinh và bệnh cảnh lâm sàng, cận lâm
sàng của bệnh bụi phổi - silic.
5. Trình bày được phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh bụi ph
ổi -
silic và biện pháp phòng chống.
1. Bụi trong sản xuất
Bụi là những phần tử nhỏ bé, đa số ở thể rắn tập hợp rải rác trong môi
trường, là tác hại phổ biến nhất trong các tác hại nghề nghiệp của môi
trường không những bởi tính độc hại của nó mà còn do chúng rất phổ biến,
có mặt ở mọi nơi, mọi chỗ trong môi trường lao động, môi trường sống.
Do đặc điểm c
ủa hoạt động lao động và sinh hoạt cũng như các tác
động nên bụi sinh ra có nhiều trạng thái và kích thước khác nhau. Tác hại
của bụi phụ thuộc vào bản chất lý hóa của nó song trạng thái và kích thước
cũng đóng vai trò quan trọng do nó tạo điều kiện cho bụi tồn tại lâu hay
chóng trong môi trường rồi từ đó khuếch tán vào phổi gây bệnh. Hiện nay
các ngành công nghiệp hầm mỏ, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dự
ng và
may mặc là những ngành công nhiên có nhiều người lao động chịu tác động
của bụi với các mức độ khác nhau như viêm nhiễm, co thắt hoặc xơ hóa các
tế bào nhu mô phổi
Đối với từng loại bụi khác nhau chúng thường gây nên các tác hại đặc
trưng song do phát triển công nghiệp với trình độ cao nên các loại bụi hỗn
- Bụi hỗn hợ
p: có thể có ở nhiều nơi, trong đó có thể nhiễm lẫn 30 -
50% bụi khoáng chất. Loại bụi này dễ gây bệnh hơn bụi đơn thuần, thí dụ
có nhiều silic, amiăng sẽ tác hại nhiều lên cơ thể so với các bụi khác.
1.1.2. Theo kích thước hạt bụi.
Phân loại bằng cách này rất quan trọng vì gắn liền với khả năng phân
tán của bụi trong môi trường.
- Bụi cơ bản (trên 10µm).
86
- Bụi dưới dạng mây (0,1 - 10 µm).
- Bụi dưới dạng khói (< 0,1 µm).
Hoạt động của các loại bụi trong môi trường cũng như sự tồn tại của
nó phụ thuộc vào kích thước của hạt bụi to hay nhỏ.
Thời gian tồn tại của hạt bụi ở dạng khí dung loãng là tuỳ theo tác
dụng qua lại giữa hai chiều khác nhau.
- Trọng lực.
- Trợ lực cọ xát giữa hạt bụi vớ
i lớp không khí xung quanh hạt bụi.
Đối với các hạt bụi cơ bản (>10µm), sức cọ xát tuy có tăng theo tỷ lệ
thuận với tốc độ rơi xuống của hạt bụi nhưng ở trong không khí yên tĩnh
vẫn rơi với tốc độ nhanh hơn theo định luật Newton vì sức cọ xát với không
khí của hạt bụi là tương đối nhỏ và không thăng bằng với trọng lực nên bụ
i
này tồn tại trong không khí chỉ một thời gian ngắn.
Khi hạt bụi < 10µm (loại mây) thì thăng bằng với R, do đó vận động
của hạt bụi không tăng tốc độ và không theo định luật Niutơn nữa, mà vận
động theo tốc độ đều.
Hạt dạng khói (< 0,1 µm) không vận động theo ảnh hưởng của 2 lực
trên, vì vậy hạt bụi này hình như bay đi bay lại, hoàn toàn không bị các
phân tử không khí chống l
nguyên sinh chất tế bào, thành một nội dung dịch keo làm cho bụi có thể
tác động mạnh cục bộ, cụ thể là làm thay đổi cấu tạo của tế bào, thay đổi
tính thực khuẩn của tổ chức lymphô và bạch cầu, ảnh hưởng đến tính chất
miễn dịch của tổ chức nội bì, võng mạc và kích thích tế bào củ
a tổ chức
liên kết.
Loại bụi tan được bao gồm:
- Bụi thạch anh (SiO
2
) có tác dụng đặc biệt đối với cơ chế phát sinh và
phát triển của bệnh phơi nhiễm bụi.
- Bụi lò Thomas có tác dụng đối với bệnh nhân viêm phổi nặng do
nghề nghiệp.
1.2. Tác hại chung của các loại bụi
Trong sản xuất tác hại của bụi đối với cơ thể không giống nhau bao
gồm các tác hại sau:
- Gây độc toàn thân: bụi chì, mangan, asen, Clo, Flo, ôxit kẽm.
- Gây kích thích cục bộ, tổn thương ở da và niêm m
ạc. Ngoài các chất
trên còn có xi măng, calci ô xít, clorua vôi, bụi thuốc lá
- Gây phản ứng dị ứng: bụi đay, bột sơn, phấn hoa
- Gây tác dụng quang lực học: bụi hắc ín.
88
- Gây nhiễm khuẩn: bụi giẻ rách, lông súc vật, thóc lúa
- Gây ung thư: bụi của một số chất quang học và chất cơ năng phóng
xạ.
- Gây tác dụng đặc biệt trên cơ quan hô hấp có 6 loại:
+ Gây viêm nhiễm đường hô hấp, thậm chí viêm phổi nói chung với
tỷ lệ cao đối với người tiếp xúc.
+ Tác dụng với đường hô hấp trên: các loại bụi sợi, bụi động vật và
3
không khí.
Lượng có hại: 20 mg/m
3
không khí.
89
Lượng nhiều: 30 mg/m
3
không khí.
Lượng rất nhiều: 100 mg/m
3
không khí.
Phương pháp này chỉ tính đến lượng bụi, không đề cập đến độ phân
tán và tác dụng hóa học của bụi. Trong việc nhận định độ bụi, không thể có
một tiêu chuẩn duy nhất, áp dụng chung cho các loại bụi, mà phải xét đến
tác dụng, tỷ trọng độ phân tán và nhận định theo từng loại bụi và từ đó xét
đến kỹ thuật sản xuất và thông gió.
Dưới đây là tiêu chuẩn nồng độ
bụi không làm nhiễm độc ở nơi sản
xuất (tiêu chuẩn tối đa cho phép):
Bụi thạch anh, cát từ 1 - 4mg/m
3
.
Các loại bụi khác 4 - 15 mg/m
3
.
Tính theo số hạt bụi, dưới đây là tiêu chuẩn tối đa.
Bụi không có bioxitsilic (SiO
2
) 1000 hạt/1cm
t đầy ra ngoài
hoặc bị niêm mạc dạ dày hấp thụ nếu là loại tan được. Có loại sau khi tan
hoặc bị dịch vị phân giải có thể gây độc hại như bụi lân, bụi thuốc lá.
Một số bụi nhỏ (bụi dạng khói) vào trong phổi nhưng không lắng
90
xuống mà lại theo hơi thở hoặc được ho ra ngoài ngay; có khi loại bụi đó ở
lại một thời gian ngắn rồi bị khạc ra ngoài theo đờm.
Như vậy chỉ còn một số rất nhỏ bụi ở lại trong phổi. Theo Lehmann
chỉ có 1/3 - 1/10 (theo trọng lượng) bụi hít vào bị lắng trong phổi. Theo
Weber chỉ có khoảng 10% bụi ôxit kẽm ở lại trong cơ thể.
Độ phân tán, lượng và thành phần của b
ụi hít vào là những điểm quan
trọng.
Hạt càng to thì tỷ lệ bụi giữ lại ở đường hô hấp càng cao (3,25% bụi
kim loại, 55,4% bụi thuốc lá). Mặt khác cùng một độ bụi trong không khí,
lượng bụi hít vào của từng người có thể khác nhau tuỳ theo thể chất của
từng người và tính chất công việc. Thí dụ nếu hô hấp đều, hạt ở lại trong cơ
thể chỉ ở
khoảng 25%, nhưng nếu hô hấp sâu tỷ lệ đó lên 80%.
1.6. Một số bệnh phổi nhiễm bụi
Trong các tác hại do hít phải bụi, nghiêm trọng nhất là bệnh ở phổi.
Hạt bụi lắng trong phổi gây nên các bệnh phổi vì chất xơ tăng sinh.
Tuỳ theo tính chất của các loại bụi hít vào sẽ gây những loại bệnh như
sau:
- Phổi nhiễm bụi silic (Silicose).
- Phổi nhiễm bụi than (Anthracose).
- Phổi nhiễm bụi sắt (Siderose).
- Phổi nhiễm bụi amiăng (Asbestose).
- Phổi nhiễm bụi bery (Berylose).
- Phổi nhiễm bụi mangan.
mía, có nhiều mao quản và một lớp thượng bì, vì bụi đọng ở đấy nhiều.
1.7.2. Viêm phổi
Công nhân tiếp xúc với bụi mangan (như bã lò đúc thép Thomas, có
5% mangan) dễ bị viêm phổi và tỷ lệ tử vong khá cao. Nguyên nhân là
mangan có thể ảnh hưởng đến tính miễn dịch sinh vật học của cơ thể đối
với nhân tố gây bệnh viêm phổi và làm tôn phương đến lưới mao quản của
phổi.
1.7.3. Ung thư phổi
Công nhân mỏ lâu năm hay bị bệnh phổi nhiễm bụi rất nặng, kèm theo
ung thư. Khi bị phối nhiễm bụi, hạch Lympho phế quản và trong phổi sẹo
hóa có thể là cơ sở đầu tiên cho ung th
ư. Nói chung, các loại bụi "Dicromat,
sắt ôxit, cát " đều có thể ít nhiều góp phần sinh ung thư phổi, vì nó kích
thích phổi và phế quản.
Hiện tượng thượng bì hình trụ biến thành bì dẹt và bệnh viêm phế
quản biến hình cũng có thể gây ung thư phổi. Thanh phế quản biến hình do
đó hư hỏng, sau đó hạch lympho tích tụ lại trong phế quản tạo thành sẹo.
92
1.7.4. Phản ứng dị ứng
Một số bụi có tác dụng gây dị ứng ở một số người và có thể gây bệnh
hen suyễn, viêm mũi, viêm phế quản và nhức nửa đầu. Thường gặp ở các
trường hợp dưới đây:
- Công nhân làm việc tiếp xúc với da, lông động vật.
- Công nhân làm khuy trai, bột, bánh mì.
- Dược sĩ tiếp xúc với bụi thuốc.
- Công nhân làm đay, tơ, một vài loại bông, công nhân nông nghiệ
p
(bệnh hen mùa xuân).
1.7.5. Gây nhiễm khuẩn
Bệnh có thể mang theo các vi khuẩn gây bệnh lao, bệnh nhiễm khuẩn
- anilin phải chế thành vữa để bán, không được làm thành bột vì độc.
1.9.2. Cải tiến kỹ thuật
Mục tiêu cơ bản của cải tiến kỹ thuật là nhằm giảm tối đa sự phát sinh
bụi và khuyếch tán bụi ra môi trường lao động.Trong nhiều xí nghiệp sản
xuất hiện đại không có các công việc gây nên bụi như nghiền, mài, đánh
bóng và ít dùng các đồ khuôn, mà thay thế bằng cách đúc khuôn, dập khuôn
tiên tiến hơ
n. Nhiên liệu thể đặc dần dần thay thể lỏng, thể khí, cho nên
không có khói và bụi nữa, bằng phương pháp phun nước đào than sẽ triệt
tiêu được nhiều bụi.
Cơ giới hóa và làm thật kín dây chuyền cung cấp các nhiên liệu vào
lò; xếp dỡ, cân đong, đóng gói các chất bột. Nếu vận chuyển nhiều chất bột,
dùng máy tự động để xếp dỡ. Ngoài ra, dùng máy nghiền tròn, (dùng quả
cân bằng gang, bằng sứ
để nghiền, tán) ống quay nhanh và kín để nghiền
vật đúc thay cho dũa, mài. Máy giặt tự động, máy trải ngũ cốc vv sẽ giảm
được nhiều bụi.
Việc áp dụng cát nhân tạo một cách rộng rãi thay cho cát thiên nhiên
giảm nhiều khả năng sinh ra bệnh phổi nhiễm silíc, đá mài sa thạch
(memeri) có rất ít SiO
2
tự do và rất cứng nên có ít bụi. Những phương pháp
dưới đây, cũng làm giảm nhiều bụi.
- Buồng máy trải bông trong nhà máy dệt không khí nén để quạt răng
lược làm sạch vật gia công và chế phẩm (như rửa sạch lông súc vật) trước
khi làm.
- Sau khi lấy vật đúc ở máy gọt sửa ra, cần rửa xong rồi mới cho vào
máy gọt mài. Các chất bột nên chuyển, đưa vào máy hút.
94
1.9.3. Cách đề phòng bụi nổ
Bệnh bụi phổi - silic được biết đến từ lâu,vào năm 400 - 300 trước
công nguyên Hypocrater đã quan sát thấy những người thợ mỏ thường chết
sớm bởi những cơn khó thở, lúc đó ông gọi là "cơn khó thở của những
người thợ mỏ". Ngày nay ta biết nó là bệnh bụi phổi - silic, một bệnh quan
95
trọng nhất trong các bệnh bụi phổi nghề nghiệp. Nó là trạng thái bệnh lý do
hít phải bụi có chứa nhiều bioxit silic tự do (SiO
2
). Đặc trưng của bệnh là
một sự xơ hóa lan tràn tổ chức phổi và với những hạt xơ kích thước khác
nhau ở hai phổi. Về lâm sàng có nhiều triệu chứng: như đau tức ngực, ho và
khó thở. Các xét nghiệm cận lâm sàng có thể thấy rõ những tổn thương X
quang đặc biệt, suy giảm chức năng hô hấp, trao đổi khí ở phổi và tế bào bị
ảnh hưởng.
2.1. Những ngành nghề
có thể mắc bệnh bụi phổi - silic
Có nhiều ngành nghề trong quá trình sản xuất và thao tác công nhân
thường xuyên tiếp xúc với bụi có tỷ lệ SiO
2
tự do cao, bệnh bụi phổi - silic
có khả năng xuất hiện. Người ta thường gặp bệnh silicose ở công nhân khai
thác các mỏ như mỏ than, mỏ sắt, mỏ mangan vì SiO
2
tự do có nhiều
trong các lớp đất đá. Trong xây dựng đường bộ và đường xe hoả bụi silíc
cũng toả ra nhiều khi công nhân phá đá bằng mìn, đập đá, đào hầm thông
trong núi đá. Ngành kỹ nghệ làm đồ sứ cũng có thể mắc bệnh silicose. Theo
Leosbardy và Pasquet thì tỷ lệ mắc bệnh silicose ở xí nghiệp Limonin ở
Pháp là 18,8%.
Theo tài liệu của Viện Vệ sinh dịch tễ học thì ở một số các mỏ than
Silic tự do có tác dụng độc hại rõ rệt đối với thực bào. Những đại thực
bào này bị tan rã sau khi đã ăn những phần tử bụi. Sự tiêu huỷ
đại thực bào
do thạch anh là do sự tạo thành những mối liên kết hydrô giữa các nhóm
SiOH thấy ở trên bề mặt thạch anh và những phần tử nhận hydrô (ôxy, nitơ,
lưu huỳnh) nằm trong cấu trúc lipoprotein của màng tế bào, do đó có tổn
thương của màng này. Những tổn thương này xảy ra khi những phân tử
thạch anh tiếp xúc với màng ngoài của tế bào, nhưng những tổn thương còn
nặng hơn nhiều
ở trong tiêu thể chứa những phần tử bụi bị thực bào. Thực
vậy những tổn thương của màng túi làm cho những men thuỷ phân chứa
trong tiêu thể (lysosomes) thoát ra và khuyếch tán trong tương bào và màng
tế bào gây nên sự tự tiêu của đại thực bào.
2.3. Triệu chứng bệnh lý bệnh bụi phổi silic
2.3.1. Lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh silicose ở giai đoạn đầu rất nghèo nàn
và kín đáo. Dấu hiệu chủ yếu c
ủa bệnh là khó thở. Lúc đầu khó thở chỉ xuất
hiện khi gắng sức làm cho bệnh nhân hơi khó chịu nhưng chưa mất khả
năng lao động. Về sau khó thở ngày càng tăng, đến giai đoạn nặng nó trở
thành thường xuyên, đôi khi có những cơn kịch phát kiểu hen. Lúc này
bệnh nhân đi lại hoặc nằm nghỉ cũng thấy khó thở và hoàn toàn mất khả
năng lao động. Đặc biệt c
ũng có những trường hợp khó thở nặng ngay từ
giai đoạn đầu. Một bệnh nhân khai thác đá ở Bình Định bị bệnh bụi phổi -
silic cấp tính, ngay từ giai đoạn tổn thương ở thể 1 p đã có suy hô hấp nặng
nên mặc dù được điều trị ngay nhưng bệnh nhân vẫn tử vong sau khi phát
hiện bệnh vài tháng.
Ho là một triệu chứng bình thường nhưng không thường xuyên, có thể
97
- Để chẩn đoán bệnh silicose chủ yếu người ta dựa vào hình ảnh
Xquang phổi, trên phim Xquang người ta có thể thấy hình ảnh những hạt
silic kích thước và số lượng khác nhau cho đến những khối giả
u to nhỏ
khác nhau trên nhu mô phổi do bị xơ hóa, và thường thấy ở cả hai bên phế
trường không nhất thiết là ở bên phải. Tuy nhiên cũng cần ghi nhớ là có rất
nhiều hình ảnh có tổn thương trên phim X quang giống bệnh bụi phổi - silic
mà ta cần phân biệt (có hơn 40 bệnh như vậy). Ví dụ hình ảnh Hemosiderose
trong bệnh hẹp van tim biến chứng, bệnh lao phổi giai đoạn đầu
98
Để thống nhất các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh silicose trên thế giới,
tháng 12/1968 Tổ chức lao động quốc tế (ILO) họp ở Gieneve đã quy định
các tiêu chuẩn phân loại bệnh bụi phổi trên hình ảnh Xquang theo các ký
hiệu dưới đây:
O: không có hình ảnh của bệnh bụi phổi nhưng không nhất thiết phải
là hình ảnh X.quang bình thường.
Những đám mờ nhỏ: những đám mờ này được sắp x
ếp theo 3 giai
đoạn tuỳ theo số lượng và kích thước của hạt silic trên phim (dựa vào phim
mẫu).
Giai đoạn 1: có những hạt mờ tròn nhỏ, nhưng số lượng ít, thường
thấy ở vùng giữa của hai phổi, ít khi ở một bên phổi.
Giai đoạn 2: nhiều hạt mờ tròn nhỏ ở cả hai phổi.
Giai đoạn 3: rất nhiều hạt mờ tròn nhỏ ở cả hai phổi. Trong giai
đoạn
này hình lưới phổi bình thường bị mất hẳn.
Có 3 loại hạt mờ tròn tuỳ theo kích thước (của đường kính).
- Hình chấm nhỏ (punctiformes) lấy ký hiệu là p, có đường kính tới
1,5 mm.
- Hình hạt nhỏ (micronodulaires) lấy ký hiệu là m hoặc q, có đường
thiết tìm tế bào xơ vừa tìm tế bào đại thực bào phổi nhằm xác định hiện
tượng giảm tuổi thọ và khả năng thực bào kiểu hoa hồng trong bệnh bụi
phổi - silic.
2.4. Các biến chứng của bệnh bụi phổi - silic
Có rất nhiều biến chứng xảy ra, đặc biệt là hiện tượng bội nhiễm. Ở
giai đoạn nặng thường sinh ra nhữ
ng biến chứng nguy hiểm như giãn phế
nang, tâm phế mãn, lao Phổi và tràn khí Phế mạc
2.4.1. Nhiễm trùng
Hiện tượng nhiễm trùng bội nhiễm trong bệnh bụi phổi - silic là rất
phổ biến. Nguyên nhân của hiện tượng này là do ứ đọng trong phế nang
phổi xơ hóa tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh phát sinh, phát triển.
Tỷ lệ nhiễm trùng bội nhiễm gặp tới hơn 70% nên đôi khi người ta dùng
cụ
m từ "Viêm xơ phế quản phổi" để chỉ tình trạng này. Bội nhiễm cũng
là nguy cơ làm tăng nhanh quá trình xơ hóa ở phổi và phế quản làm bệnh
nặng lên.
2.4.2. Giãn phế nang
Giãn phế nang là một biến chứng thường thấy nhất, hầu như bao giờ
cũng có ở bệnh silicose giai đoạn nặng. Các thành phế nang bị xơ hóa, phế
nang kém đàn hồi lớp khí cặn tăng lên nhiều, gõ l
ồng ngực thấy tiếng kêu
trong. Chụp phim phổi thấy các xương sườn nằm ngang, các khoảng liên
sườn rộng ra, hình ảnh phổi rất sáng.
100
2.4.3. Tâm phế mãn
Tâm phế mãn thường xuất hiện ở giai đoạn muộn. Bệnh nhân khó thở
nhiều, khó thở cả khi bệnh nhân không hoạt động. Rồi tim dần dần to ra,
gan cũng to và đau. Bệnh nhân chết rất nhanh trong một bệnh cảnh suy thất
phải. Nguyên nhân của tình trạng này là do phổi xơ hóa, mất hoặc giảm
nhân có sử dụng những trang bị phòng hộ cá nhân để bảo vệ đường hô hấp
không. Sự hiểu biết hàm lượng silic tự do là điều kiện rất cần thiết để chẩn
đoán chính xác. Có trường hợp một thợ mỏ
chỉ làm công việc khoan đá khô
trong một vài tháng đã có thể bị mắc bệnh vì ở đây có tỷ lệ SiO
2
cao.
101
Ngược lại có người làm việc 30 năm, tiếp xúc với bụi đất đá mà không có
một dấu hiệu nào của bệnh silicose vì ở đó tỷ lệ SiO
2
thấp. Tuy nhiên cơ
địa cũng đang góp một phần quan trọng. Trong y văn có một người tiếp xúc
với bụi 42 ngày đã bị bệnh (người Pháp) người này bị bệnh tim nên người
ta cho rằng có thể bệnh tim là yếu tố dẫn đường cho bụi phổi.
Khám lâm sàng chủ yếu là để phát hiện các bệnh khác hơn là chính
bản thân bệnh silicose vì triệu chứng của nó rất kín đáo trừ thầy thuốc có kỹ
năng lâm sàng tốt, có thể phát hiện được sự giảm của rì rào phế nang ở
những vùng xơ hóa cho nên người ta có thể chẩn đoán là mắc bệnh silicose
khi mà dấu hiệu lâm sàng chưa rõ, khi bệnh chưa quá nặng và chưa có biểu
hiện suy hô hấp. Khám lâm sàng và làm các xét nghiệm sẽ cho biết rõ thêm
về bệnh viêm phế quản mạn tính, bệnh lao phổi, các rối loạn tim mạch
Chụp Xquang phổi làm với kỹ thuật chính xác, nếu không thì k
ết luận sẽ sai
và sẽ không phát hiện được bệnh. Trong những trường hợp mới mắc bệnh
silicose phải chụp Xquang với kỹ thuật tốt kèm theo hỏi kỹ về tiền sử nghề
nghiệp là cơ hội tốt cho việc chẩn đoán. Muốn chụp Xquang tốt, phải làm
với máy có cường độ ít nhất là 1,5m và có thời gian chụp dưới 1/10 giây.
Có nhiều bệnh có hình ảnh Xquang giống như hình
ảnh của bệnh
2.7. Biện pháp phòng chống bệnh bụi phổi - silic
Giảm tiếp xúc với bụi b
ằng mọi cách là phương pháp dự phòng hữu
hiệu nhất đối với bệnh bụi phổi - silic.
Ở các nơi khai thác, khoan đất, đá, bắn mìn cần dùng phương pháp
khoan ướt. Các cơ sở công nghiệp trong quá trình sản xuất có toả ra
nhiều bụi, cần tìm các biện pháp hạn chế bụi tới mức thấp nhất. Nơi làm
việc phải rộng rãi, thoáng khí, có nhiều cửa sổ. Các máy móc như máy
đập, máy nghiền, sàng cần đượ
c bao che kín. Phải trang bị hệ thống hút
bụi chung và hút bụi tại chỗ. Công nhân phải sử dụng đủ các trang thiết
bị phòng hộ cá nhân cần thiết như quần áo, mũ làm việc, kính, khẩu
trang, ủng. Sau giờ làm việc phải tắm giặt sạch sẽ, mùa rét phải được tắm
nước nóng.
Khi khám tuyển cần loại trừ các bệnh đường hô hấp kéo dài như viêm
xoang, viêm mũi dị ứng, các bệnh phổi m
ạn tính, hen phế quản, viêm phế
quản mạn tính, lao phổi
Cần khám sức khỏe thường kỳ cho công nhân tiếp xúc với bụi ít nhất
mỗi năm một lần có chụp Xquang phổi và đo chức năng hô hấp.
Những người được phát hiện mắc bệnh bụi phổi silicose phải được
gửi đi điều trị và điều dưỡng, sau đó chuyển họ sang làm công tác khác
không tiế
p xúc với bụi và thường xuyên theo dõi sự tiến triển của bệnh,
phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân.
103
TỰ LƯỢNG GIÁ
1. Công cụ tự lượng giá
Phân biệt đúng sai các câu từ câu số 1 đến câu số 15 bằng cách đánh
dấu X vào cột A cho câu đúng và cột B cho câu sai:
11 Hạt bụi silic có khả năng phá vỡ màng tiêu thể của các đại
thực bào.
12 Bệnh bụi phổi - silic luôn luôn tiến triển từ từ
13 Nguyên nhân gây đau tức ngực của bệnh nhân bụi phổi - silic
là do các cơ hô hấp phải tăng hoạt động và gắng sức.
14 Phổi bị xơ hóa, khả năng đàn hồi kém là nguyên nhân gây
khó thở ở bệnh nhân bụi phối - silic.
15 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh bụi phổi - silic thời kỳ
đầu thường rất nghèo nàn, không đặc trưng. 104
Chọn câu trả lời đúng nhất trong các câu sau bằng cách đánh dấu X
vào cột tương ứng với với chữ cái đứng đầu câu trả lời được lựa chọn.
Câu hỏi A B C D E
16. Tác hại của bụi đối với sức khỏe người tiếp xúc không
phụ thuộc vào:
A. Bản chất lý hóa của hạt bụi.
B. Kích thước của hạt bụi
C. Trạng thái của hạt bụi.
D. Nồng độ bụi trong không khí.
E. Nguyên nhân gây ra bụi.
17. Mức độ phân tán của bụi trong lao động sản xuất phụ
thuộc vào các yếu tố sau ngoại trừ
E. Trên 5 cm. 2. Hướng dẫn tự lượng giá
Đọc kỹ nội dung bài học theo từng phần để trả lời các câu hỏi, cụ thể:
- Phần "Tính chất và phân loại bụi" để trả lời câu 1- 4
- Phần "Tác hại chung của bụi" để trả lời câu 16
- Phần " Quá trình bụi vào cơ thể" để trả lời câu 5 -7 và câu 17.
- Phần "Phương pháp chống bụi trong sản xuất" để trả lời câu 18.
- Phần "B
ệnh bụi phổi - sihc" để trả lời các câu 8 - 15 và 19; 20
Sau khi tự nghiên cứu để trả lời các câu hỏi hãy đối chiếu với phần
đáp án ở cuối cuốn sách.
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU VÀ VẬN DỤNG THỰC TẾ
1. Phương pháp học
Tự nghiên cứu tài liệu học tập trước khi đến lớp. Các tài liệu đọc
thêm, tài liệu tham khảo có thể tìm đọc tại thư vi
ện Trường Đại học Y khoa
Thái Nguyên.
2. Vận dụng thực tế
Bụi có ở mọi nơi mọi lúc, rất dễ dàng xâm nhập cơ thể, có thể gây
106
nhiều bệnh đặc biệt các bệnh đường hô hấp. Phòng chống bụi, giảm bụi
trong môi trường sống cần được quan tâm ở mọi lúc mọi nơi. Hiện nay việc
dùng nước và làm ẩm là biện pháp chống bụi hiệu quả và phù hợp trong đời
sống hàng ngày do vậy cần chú ý áp dụng biện pháp này ở những điều kiện
cần thiết và có thể. Phòng tránh bụi trên đường giao thông khi đi xe máy xe
đạp bằng
đeo khẩu trang đúng cách là việc làm hữu hiệu để bảo vệ mũi
họng và đường hô hấp dưới.