Một cách nhận diện ca dao hiện đại
Nguyễn Hằng Phương
TS.Khoa Ngữ văn.Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên - Đại học Thái
Nguyên
Văn học dân gian hiện đại đã từng là vấn đề gây nhiều ý kiến tranh luận trong giới nghiên
cứu nước ta. Đã có không ít ý kiến khẳng định sự tồn tại tự nhiên và vai trò quan trọng
của nó trong đời sống của xã hội hiện đại. Song, bên cạnh đó cũng có một số ý kiến phân
vân, thậm chí phủ nhận cả sự tồn tại của văn học dân gian hiện đại. Nhiều năm đã trôi
qua kể từ khi vấn đề văn học dân gian hiện đại, trong đó có ca dao hiện đại được chính
thức nêu ra tranh luận với tư cách là một thông tin khoa học mang tính thời sự, ca dao
hiện đại vẫn tồn tại và vận động theo quy luật của nó. Chứng cớ là vẫn có một số cuốn
sách sưu tầm, nghiên cứu và những bài viết quan tâm đến thể thơ dân gian này ra đời.
Như vậy, những ý kiến khẳng định sự tồn tại của văn học dân gian hiện đại trong đó có ca
dao hiện đại đã được thử thách qua thời gian.
Ca dao là một thể loại có sức sống lâu bền của sáng tác dân gian. Nhưng trên thực tế, ca
dao đã có sự vận động, biến đổi. Để có thể tiếp cận ca dao với tư cách là một thể loại văn
học dân gian trong thời kỳ hiện đại, việc trước tiên là tìm ra những cơ sở khoa học để tiến
tới nhận diện nó. Đó cũng chính là mục đích chúng tôi đặt ra trong bài viết này.
Tuy nhiên, nghiên cứu một hiện tượng văn học nói chung, ca dao hiện đại nói riêng là
vấn đề không đơn giản, cần dựa trên quan điểm khoa học duy vật biện chứng và phải có
trong tay một số lượng tư liệu nhất định về nó. Do vậy, trước khi tìm cơ sở để định ra tiêu
chí nhận diện ca dao hiện đại thì việc xác định quan điểm nghiên cứu và tập hợp, sử lý hệ
thống tư liệu là những thao tác khoa học cần thiết phải đặt ra.
nhân vật trữ tình mới, ngôn ngữ, thể thơ cũng có những đặc điểm mới và đặc biệt, nhiều
lời ca dao hiện đại có ghi tên tác giả. Giải thích hiện trạng này, chúng ta không thể không
xem xét sự vận động của hiện thực lịch sử, của quan niệm nghệ thuật dân gian. Như quan
điểm đã nêu ở trên, không thể giữ cái nhìn bất biến về thể loại ca dao. Không thể lấy
những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật của ca dao cổ truyền làm tiêu chuẩn xem xét
ca dao hiện đại. Ca dao hiện đại có những điểm không tương đồng với ca dao cổ truyền là
một hiện tượng bình thường, hợp quy luật. Có điều là trong giai đoạn hiện nay, nhiều
sáng tác văn học quần chúng và chuyên nghiệp chịu ảnh hưởng rõ rệt nghệ thuật ca dao
truyền thống, cho nên phải xem xét ca dao hiện đại như thế nào để vừa không bỏ qua
những tác phẩm ca dao đích thực, vừa không lầm lẫn nó với thơ ca quần chúng và những
sáng tác của các tác giả chuyên nghiệp mang phong cách dân gian.
Rõ ràng là, sự vận động, biến đổi của văn học nghệ thuật nói chung và ca dao hiện đại nói
riêng diễn ra đa dạng, phức tạp dưới sự chi phối mạnh mẽ của đời sống xã hội và các hình
thái ý thức xã hội khác. Do vậy, quan điểm nhìn nhận khoa học và phù hợp ở đây là: coi
văn học nghệ thuật nói chung và ca dao nói riêng như một thực thể có vận động, có biến
đổi trong tiến trình lịch sử. Quan điểm trên sẽ chi phối việc nghiên cứu để định ra tiêu chí
nhận diện ca dao hiện đại.
Song, ở bất cứ lĩnh vực khoa học nào, việc cần thiết trước khi tiến hành nghiên cứu là
xem xét hệ thống tư liệu. Hệ thống tư liệu được xác định rõ và càng phong phú bao nhiêu
thì độ tin cậy khoa học càng chắc chắn bấy nhiêu. Điều khó khăn đối với tác giả bài viết
này là sự chưa phong phú về tư liệu và tình trạng chưa thật thống nhất của giới nghiên
cứu về hệ thống tư liệu ca dao hiện đại.
Hệ thống tư liệu về ca dao hiện đại chưa phong phú. Đó là một thực tế. Nếu thống kê trên
các đầu sách chúng tôi hiện có thì số lời ca dao hiện đại là 1.170 lời. So với 11.825 lời ca
dao cổ truyền đã được sưu tập trong Kho tàng ca dao người Việt, đó quả là con số ít ỏi,
chưa kể khi đã đưa ra được tiêu chí nhận diện ca dao hiện đại, có thể có một số lời được
gọi là ca dao trong các sách sưu tầm không đủ tiêu chuẩn cơ bản để xếp vào hệ thống
những lời ca dao hiện đại với tư cách là một thể loại của sáng tác dân gian. Song, thực ra,
xuất bản ( ) Chúng tôi nghĩ rằng một người sáng tác hàng trăm bài ca dao mà có vài ba
bài có giá trị phổ biến, được lưu truyền trong nhân dân đã là một thành công ”(3) Điều
đó hé mở cho chúng tôi suy nghĩ: nhiều lời ca dao có ghi tên tác giả nhưng có thể do
đồng đội sưu tầm trong quần chúng gửi đến nhà xuất bản và biết đâu đó đã là dị bản.
Trong tập ca dao này, có một số lời rất đáng để chúng ta lưu ý, chẳng hạn: Con kiến mày
leo cành đa của Nguyễn Thế Vinh, Mắt em sắc như dao cau của Nguyễn Ngọc Lý, Cưới
xưa thách lợn thách vàng của Việt Cường, Hoa thơm thơm cả cánh đồng của Nguyễn Thị
Ngân Hà
Hai cuốn sưu tập ca dao xuất bản gần đây mà chúng tôi sử dụng làm tư liệu nghiên cứu là
Ca dao Việt Nam 1945-1975 (4) và Cụ Hồ ở giữa lòng dân. (5) Đây cũng là những cuốn
tư liệu có cơ sở để tin cậy. Trong cuốn Ca dao Việt Nam 1945-1975, tác giả Nguyễn
Nghĩa Dân đã tập hợp được 745 lời ca dao từ nhiều nguồn và sắp xếp theo trật tự chữ cái.
Và chính cách sắp xếp đó đã giúp chúng ta phần nào nhận thức rõ hơn về diện mạo ca
dao hiện đại. Cuốn Cụ Hồ ở giữa lòng dân do hai tác giả Lê Tiến Dũng và Trần Hoàng
sưu tầm, biên soạn cũng là một tư liệu rất đáng trân trọng. Chỉ sưu tầm riêng ca dao về đề
tài Bác Hồ lưu truyền ở Bình Trị Thiên đã có tới gần 200 lời.
Một số tư liệu chúng tôi điểm qua ở trên là cơ sở để chúng ta tin tưởng và hy vọng vào sự
tồn tại và vận động của thể loại ca dao trong đời sống hiện tại. Tuy nhiên, chúng ta sẽ
phải thực hiện thao tác rà soát lại tư liệu khi đã đưa ra được những tiêu chí cơ bản dùng
để nhận diện ca dao hiện đại. Những vấn đề nêu trên mới là kết quả bước đầu của tác giả
bài viết trong việc tập hợp và sử lý hệ thống tư liệu về ca dao hiện đại trước khi tiến hành
xem xét những cơ sở khoa học để định ra tiêu chí nhận diện nó.
2. Vấn đề tiêu chí nhận diện ca dao hiện đại
Trong một bài viết về vấn đề nghiên cứu văn học dân gian hiện đại, tác giả Chu Xuân
Diên đã nêu quan điểm: "Nếu xem xét văn học dân gian hiện đại hay văn học dân gian
mới là giai đoạn phát triển của văn học dân gian truyền thống trong những điều kiện lịch
sử mới sau cách mạng, thì trước tiên cần phải thống nhất nhận định về bản chất thẩm mỹ,
phải là một thứ "công ty vô danh". Lịch sử folklore các dân tộc ghi nhận vai trò của các
nghệ nhân dân gian ngay từ thời cổ" (7).
Do đó, một mặt không thể phủ nhận vai trò quan trọng là những phương thức sáng tác,
lưu truyền của tính tập thể và tính truyền miệng, mặt khác, không thể không đi sâu tìm
hiểu bản chất thẩm mỹ của các đặc trưng này.
Với tư cách là những phạm trù thẩm mỹ của văn học dân gian, tính tập thể và truyền
miệng sẽ được nhìn nhận từ góc độ sâu hơn, với diện bao quát hơn, trong sự vận động xa
hơn. Trên cơ sở đó, chúng ta có điều kiện xem xét văn học dân gian đúng như sự tồn tại
của bản thân nó - một thực thể sống và vận động trong quá trình lịch sử.
Tính tập thể được nhìn nhận với tư cách là một phạm trù thẩm mỹ thể hiện rõ nét ở chỗ:
những hiện thực đời sống khách quan được phản ánh trong tác phẩm là những hiện tượng
đời sống gây được tác động mạnh mẽ vào nhận thức không chỉ của một cá nhân nào đó
mà của cả một cộng đồng người nhất định. Từ nhận thức đó sẽ nảy sinh những sáng tác
dân gian tập thể. Theo các nhà nghiên cứu, những sáng tác dân gian đó mang tâm lý sáng
tác tập thể. Như vậy, đặc trưng tập thể không chỉ phản ánh thực tế sáng tác (sáng tác tập
thể) mà còn bộc lộ những giá trị thẩm mỹ (là một phạm trù thẩm mỹ) của tác phẩm dân
gian. Những giá trị thẩm mỹ dân gian này không mang dấu ấn nghệ thuật độc đáo cá
nhân mà mang dấu ấn nghệ thuật độc đáo tập thể.
Có thể nói, ở ca dao cổ truyền , tính tập thể thường thể hiện ở cả hai phương diện: là
phương thức sáng tác lưu truyền và là phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm. Chẳng hạn, thống
kê những lời ca dao cổ truyền bắt đầu bằng “Đêm khuya” trong Kho tàng ca dao người
Việt (56 lời), chúng ta thấy hầu hết các lời đều có dung lượng ngắn (2 đến 4 dòng lục bát)
phù hợp với sự sáng tác và lưu truyền tập thể, song vẫn phản ánh được những hiện tượng
đời sống gây tác động mạnh mẽ vào cộng đồng những người sáng tạo ra nó.
Chúng tôi xin đơn cử vài ví dụ:
Đêm khuya có tiếng gọi đò,
Có phải thóc thuế thì cho xuống thuyền.
Thóc thuế xin chở trước tiên,
Có nước nóng uống chèo liền sang ngay.
Mặc dù gió rét đêm nay,
Thịt da tê buốt cứng tay cũng chèo.(10)
Tính truyền miệng với tư cách là một phạm trù thẩm mỹ cũng cần được xem xét. Vẫn còn
có người quan niệm tính truyền miệng ở văn học dân gian là hệ quả tất yếu của trình độ
văn hóa của nhân dân lao động trước Cách mạng hoặc tính truyền miệng đơn thuần là
phương thức sáng tác và lưu truyền văn học dân gian. Quan niệm như vậy sẽ dẫn đến chỗ
lạc hậu hóa văn học dân gian, đơn giản hóa một đặc trưng quan trọng của văn học dân
gian, thậm chí phủ nhận cả sự tồn tại của văn học dân gian hiện đại. Như đã nêu, tính
truyền miệng của văn học dân gian có liên quan tới những điều kiện sống của nhân dân
lao động thời xưa, đặc biệt, nó có quan hệ mật thiết với hoàn cảnh lịch sử của hình thức
văn học sơ khai buổi đầu. Nhưng, tính truyền miệng không chỉ là một phương thức sáng
tác và lưu truyền mà còn là một đặc trưng thẩm mỹ của văn học dân gian. Có thể nói,
càng ngày ý nghĩa thẩm mỹ của tính truyền miệng càng đóng vai trò quan trọng trong sự
tồn tại và phát triển của văn học dân gian. Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên còn cho rằng
đến văn học dân gian hiện đại, ý nghĩa thẩm mỹ trở thành ý nghĩa duy nhất của tính
truyền miệng và "ý nghĩa thẩm mỹ của tính truyền miệng trong văn học dân gian làm cho
văn học dân gian trong phần lớn trường hợp mang tính chất là một thứ nghệ thuật biểu
diễn "(11). Điều đó phần nào lý giải hiện tượng: đã có chữ viết, thậm chí ngày nay có rất
nhiều phương tiện, cách thức chuyển tin, song văn học dân gian vẫn chủ yếu lưu truyền
bằng truyền miệng. Ca dao chống Mỹ là một ví dụ tiêu biểu.Nó không chỉ xuất hiện trên
báo tường, trong các cuộc thi sáng tác ca dao mà còn được cất lên trên đường hành quân,
bên đôi bồ tiếp vận, trong những dịp thanh niên nam nữ gặp gỡ nhau khi sản xuất và
chiến đấu Chính trong những thời điểm giao tiếp trực tiếp sinh động cảm tính ấy, ca dao
hiện đại mới phát huy tối đa giá trị thẩm mỹ của lời ca. Trong thực tế, có những lời ca
dao hiện đại mang dấu ấn rõ rệt của lối đối đáp nam nữ - một hình thức diễn xướng dân
Không bằng em được đứng liền với anh
Dù ai cho bạc cho chinh
Không bằng thiếp đứng với mình, mình ơi!
Dù ai cho bạc cho vàng
Không bằng em đứng với chàng, chàng ơi! (13)
Một đặc trưng nữa của văn học dân gian mà ngày nay chúng ta cần xem xét một cách linh
hoạt khi nghiên cứu là tính dị bản. ở bộ phận văn học dân gian cổ truyền, tính dị bản
được coi là đặc trưng tất yếu và phổ biến; tuy nhiên, như vậy, không có nghĩa là tất cả các
tác phẩm văn học dân gian cũ đều có dị bản hay nói chính xác hơn là đều đã sưu tầm
được dị bản. ở bộ phận văn học dân gian hiện đại, số lượng tác phẩm có dị bản còn rất
thưa thớt. Chẳng hạn, trong cuốn Ca dao Việt Nam 1945 -1975, tác giả Nguyễn Nghĩa
Dân chỉ sưu tập được dị bản của một số lời ca dao. Đó là các lời C 92, Ch 130, L 248, L
249, Q367, A 476, D 544, Tr 732. Song, không thể căn cứ vào hiện tượng đó mà đi đến
chỗ nghi ngờ sự tồn tại của văn học dân gian hiện đại. Có thể nghĩ đến nhiều nguyên
nhân: Thời gian chưa đủ để nảy sinh dị bản, còn nhiều dị bản lưu truyền trong dân gian
mà ta chưa sưu tầm khai thác được, v.v Bởi vậy, hiện tại, đối với văn học dân gian hiện
đại nói chung, ca dao hiện đại nói riêng, vấn đề dị bản chưa thể đặt ra như một đặc trưng
bắt buộc phải có. Nhưng, đã là sáng tác dân gian thì sớm muộn gì tác phẩm cũng sẽ có dị
bản nếu chúng ta vẫn tạo điều kiện cho nó tồn tại và phát triển. Nên, việc theo dõi sự vận
động của tác phẩm và có hình thức sưu tầm, nghiên cứu kịp thời vẫn là hướng đi có cơ sở
khoa học và cần thiết.
Chúng ta không thể nói đến sự tồn tại và phát triển của văn học dân gian hiện đại, của ca
dao hiện đại mà không tìm hiểu về tính truyền thống và sự vận động, biến đổi của tính
truyền thống trong tiến trình lịch sử. Các nhà nghiên cứu folklore đã bàn khá nhiều về tính truyền thống và mối quan hệ gắn
bó khăng khít giữa truyền thống và ứng tác. ở bài viết này, chúng tôi muốn nói đến vai
Trên đây là một số phân tích về bản chất thẩm mỹ, về những đặc trưng loại biệt của văn
học dân gian. Nghiên cứu sâu về những vấn đề đó chắc chắn sẽ phát hiện ra quy luật vận
động của văn học dân gian nói chung, của ca dao nói riêng; đồng thời cũng là để tiến tới
giải quyết những vấn đề còn tồn tại của việc nghiên cứu văn học dân gian hiện đại và ca
dao hiện đại; nhất là những vấn đề có liên quan đến tiêu chí nhận diện ca dao hiện đại -
một bộ phận của thể loại văn học dân gian có sức sống mạnh mẽ, bền bỉ cho đến tận ngày
nay.
Thực tế cho thấy, ranh giới giữa một số thể loại của văn học dân gian cổ truyền và văn
học dân gian hiện đại, giữa ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại đôi khi chưa có sự phân
định rõ ràng. Chẳng hạn, đối với thể loại ca dao, các nhà nghiên cứu lấy mốc lịch sử là
cách mạng Tháng Tám năm 1945 để phân biệt hai bộ phận ca dao cổ truyền và hiện đại.
Đó là cách phân chia có cơ sở khoa học, phù hợp với sự phát triển của xã hội, văn hóa,
lịch sử. Song, nếu chúng ta quan niệm những lời ca dao cổ truyền đã sưu tầm ở dạng
"tĩnh" và những lời ca dao cổ truyền còn sống trong môi trường sinh hoạt của dân chúng
là những lời ca dao cổ truyền ở dạng "động" thì sẽ xảy ra tình trạng: ở dạng ”động”,
chúng có thể tồn tại dưới hai hình thức. Thứ nhất, chúng vận động trong môi trường sinh
hoạt và những đặc điểm của truyền thống nghệ thuật cũ đã có sự cải biên. Về vấn đề này,
tác giả Chu Xuân Diên trong bài viết Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian hiện đại đã có
những kiến giải thoả đáng và định hướng nghiên cứu cụ thể. Thứ hai, chúng vận động
trong môi trường sinh hoạt nhưng không có sự biến đổi. Những lời ca dao đó vẫn mang
những đặc điểm của truyền thống nghệ thuật cũ. Hình thức thứ hai vừa nêu không nhiều
song không thể nói là không có. Với những trường hợp ấy, tiêu chí nhận diện là mốc lịch
sử rõ ràng chưa thỏa đáng.
Sự phân tích có tính chất khái quát ở trên đã phản ánh phần nào quy luật vận động của
văn học dân gian trong tiến trình lịch sử. Chúng tôi muốn lưu ý thêm rằng: một bộ phận
văn học dân gian, trong đó có ca dao, tồn tại trong môi trường sinh hoạt mà vẫn giữ
nguyên toàn bộ những đặc điểm nội dung, hình thức nghệ thuật như chúng vốn có trước
cách mạng thì không có lý do gì để xếp nó vào văn học dân gian hiện đại, cụ thể là ca dao
hiện đại được.
liên hệ chằng chịt, đôi khi có những thời điểm chúng “gặp nhau, trùng lặp với nhau, hoà
vào với nhau làm một.” (20) Song, giữa chúng vẫn có sự khác biệt bởi cuộc sống của
chúng cơ bản là khác nhau. ở ca dao hiện đại chẳng hạn, với tư cách là một bộ phận của
thể loại sáng tác dân gian, đương nhiên ít nhiều nó cũng phải vận động theo quy luật
riêng của thơ ca dân gian và mang những truyền thống nghệ thuật của thể loại trữ tình
này. Chẳng hạn, là sáng tác dân gian, tác phẩm sẽ mang đặc trưng tập thể, ít nhất với tư
cách là một phạm trù thẩm mỹ, mang những đặc điểm nghệ thuật dân gian truyền thống
và vận động theo quy luật của sáng tác dân gian như quy luật kế thừa truyền thống, quy
luật chọn lọc tập thể và những quy luật vận động biến đổi của lịch sử xã hội. Lời ca dao
có tên tác giả sau có thể xác định là tác phẩm ca dao hiện đại dù nó chưa hội đủ tất cả các
đặc trưng của sáng tác dân gian truyền thống bởi nó mang tâm lý sáng tác tập thể, mang
dấu ấn nghệ thuật dân gian truyền thống:
“Con kiến mày leo cành đa
Leo phải cành cụt leo ra leo vào
Thằng Mỹ cũng chẳng khác nào
Miền Nam leo vào miền Bắc leo ra
Loay hoay hơn chục năm qua
Leo vào rồi lại leo ra cùng đường ”
Nguyễn Thế Vinh (21)
Nếu ở ca dao cổ truyền, hiện thực đời sống khách quan thu hút sự chú ý của tác giả dân
gian là những vấn đề thiên về tâm sự riêng tư trong cuộc sống lứa đôi, thì ở ca dao hiện
đại những sự kiện được quần chúng nhân dân chú ý nhất lại là những vấn đề liên quan tới
vận mệnh dân tộc như kháng chiến, xây dựng, Tổ quốc đất nước.
Có một số đặc điểm nghệ thuật được duy trì khá bền vững từ ca dao cổ truyền đến ca dao
hiện đại là cách diễn đạt giản dị, mộc mạc và lời ca dao thường được làm theo thể thơ dân
tộc - thể lục bát. Có lẽ bởi đây là thể thơ có “niêm luật ( ) khá giản dị” (22) mà vẫn có
sức biểu đạt lớn. Tuy nhiên, không phải lục bát là độc quyền của sáng tác dân gian, song
trong ca dao, lục bát được sử dụng với tỷ lệ rất cao (khoảng > 90%) và là phương tiện
Ở đây cũng có hai điểm xin nêu rõ:
- Tâm lý sáng tác tập thể nảy sinh từ quá trình nhận thức và sáng tạo tập thể. ở ca dao
hiện đại, chúng tôi thấy càng cần nhìn nhận đặc trưng tập thể sâu hơn về phương diện nó
là một phạm trù thẩm mỹ của văn học dân gian. Không nên máy móc xem xét tính tập thể
với tư cách là phương thức sáng tác lúc ca dao hiện đại mới ra đời để phán xét nó.
- Tâm lý sáng tác tập thể cũng in dấu ấn ở hình thức nghệ thuật. Thí dụ, điều đó thể hiện
ở việc nhiều người cùng ưa thích sử dụng những thể thơ, những biện pháp nghệ thuật,
những biểu tượng tạo nên từ những sự vật quen thuộc trong đời sống của cộng đồng,
Tuy nhiên, tâm lý sáng tác tập thể biểu hiện chủ yếu ở nội dung tư tưởng tác phẩm. Bởi
vậy, tiêu chí này nghiêng về nhận diện ca dao hiện đại từ góc độ nội dung tác phẩm.
3) Ca dao hiện đại có thể ra đời từ nhiều nguồn: từ những sáng tác mô phỏng của các tác
giả chuyên nghiệp, từ những sáng tác của phong trào văn nghệ nghiệp dư, từ trong sinh
hoạt văn hóa dân gian. Điều quan trọng là, những tác phẩm ca dao hiện đại ấy phải được
lưu truyền rộng rãi trong dân gian bằng phương thức truyền miệng, mang ý nghĩa thẩm
mỹ của tính truyền miệng.
Ở mục thứ ba này, chúng tôi chưa đặt vấn đề xem xét tính dị bản của ca dao hiện đại dù
biết rằng tính dị bản là hệ quả tất yếu của tính tập thể và tính truyền miệng, vì những lý
do đã trình bày ở phần phân tích chung. Chúng tôi muốn nhìn nhận ca dao hiện đại với tư
cách là những tác phẩm được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, đặc biệt là phải mang ý
nghĩa thẩm mỹ của tính truyền miệng, thích hợp với nghệ thuật diễn xướng dân gian.
Trên đây là một số vấn đề xoay quanh việc nhận diện ca dao hiện đại mà theo chúng tôi
nên xem xét trong nghiên cứu thể loại ca dao nói chung, bộ phận ca dao hiện đại nói
riêng. Lý giải một cách có cơ sở và đưa ra được những tiêu chí nhận diện ca dao hiện đại
còn là công việc khó giải quyết một cách thỏa đáng. Chúng tôi hy vọng rằng, những phân