Tài liệu Lịch sử nghề Hát chèo - Pdf 97

Lịch sử nghề Hát chèo
Kinh đô Hoa Lư - Ninh Bình được coi là đất tổ
của sân khấu chèo, và người sáng lập là bà Phạm
Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà
Đinh vào thế kỷ 10. Sau này loại hình nghệ thuật
biểu diễn này đã được phát triển rộng ra đồng bằng
Bắc Bộ. Địa bàn phố biến từ Nghệ - Tĩnh trở ra.
Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cái nôi của
nền văn minh lúa nước của người Việt. Mỗi khi vụ mùa
được thu hoạch, họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và
cảm tạ thần thánh đã phù hộ cho vụ mùa no ấm. Từ thiên
niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, họ đã biết biểu diễn
các vở chèo đầu tiên trên sân đình.
Nhạc cụ chủ yếu của chèo là trống chèo. Chiếc trống
là một phần của văn hoá cổ Việt Nam, người nông dân
thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo.

Biểu diễn với Trống chèo

Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là
trò nhại từ thế kỷ 10. Qua thời gian, người Việt đã phát
triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại
này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn.
Sự phát triển của chèo có một mốc quan trọng là thời
điểm một binh sỹ quân đội Mông Cổ đã bị bắt ở Việt nam
vào thế kỷ 14. Binh sỹ này vốn là một diễn viên nên đã
đưa nghệ thuật Kinh kịch của Trung Quốc vào Việt Nam.
Trước kia chèo chỉ có phần nói và ngâm các bài dân ca,
nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật do người lính bị bắt
mang tới, chèo có thêm phần hát.
Vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đã không cho

Trên đường xâm nhập ngày càng sâu vào mọi mặt
sinh hoạt đời thường của bà con thôn xóm, những người
làm chèo đã nhanh chóng kịp thời chuyển địa điểm diễn
qua sân đình, từ lòng đình hoặc thềm đình quay ra ba
phương sáu hướng, lấy đấy làm khán trường ngoài trời
rộng rãi phóng khoáng;
Cứ thế, dần hình thành cả loạt nguyên tắc kịch thuật
linh hoạt độc đáo, mà nhiều nhà chuyên môn gọi là sân
khấu ba mặt.
Quá trình tìm cách thể hiện các tích mới, nhân vật
mới, tình huống mới, nghệ nhân đã vay mượn các loại dân
ca, dân vũ trò diễn dân gian và "chèo hoá" chúng dần cho
tới khi thành thủ pháp của vốn nghề nhà.
Không loại trừ những cái mới không thể không sáng
tạo, ban đầu có thể còn vụng về, gồ ghề, sau được người
này kẻ kia uốn nắn sửa sang mà thành hay dần, đẹp dần,
với sức diễn tả mạnh dần.
Dường như trong chèo cổ, cái cười ngày càng chiếm
thời gian dài, càng chú ý phản ánh những thói hư tật xấu
của đời thường. Ðiều đó, làm cho tính xã hội của chèo
ngày mỗi nổi đậm về sau.
Nổi bật hơn cả là lớp việc làng chỉ bằng nói thường,
nói lối, nói rao, "ngâm thơ", với đủ thành phần nhân sự
của bộ máy chính quyền cơ sở đại diện cho pháp luật, tập
tục, đạo lý, tôn giáo, bị vạch mặt thật ê chề.
Song nhà nghề trân trọng gìn giữ, coi là mẫu mực
cho nghề Tổ, còn là cả loại hình tượng nhân vật nữ tốt có,
chưa hẳn tốt có, chưa hẳn xấu cũng có, đặc biệt là số
nhân vật nữ vượt khỏi vòng kiềm toả của đạo lý phong
kiến, như Thị Màu, đào Huế, Suý Vân,

bộc lộ tính cách nhiều hay ít chủ động của nhân vật. Như
xung đột trực diện và quyết liệt giữa Ðào Huế và Tuần Ty
(với đào Nấp) là một bước "mới" so với xung đột cũng trực
diện trước đấy giữa Châu Long và Lưu Bình, hoặc giữa Vợ
Mõ với Xã Trưởng.
Ở đây cũng thấy rõ quá trình thu hút hòa nhập số loại
hình dân ca, dân vũ, diễn xướng và trò diễn dân gian làm
thành bản thân nghệ thuật chèo, mà thực tế diễn xuất của
số vở truyền thống còn hằn rõ dấu vết.
Cho nên, nói "chèo ra đời từ thời Ðinh, xây dựng trên
cơ sở trò nhại và hát múa" như một nhà nghiên cứu đã
viết là chưa thỏa đáng. Thực ra, chèo từ loại Giáo phát
triển thành có tích, có nhân vật, từ đấy du nhập, chuyển
biến các loại hát bỏ bộ (trong sinh hoạt hát Xoan, hát
Dậm, hát Dô, ), các loại hát nói (trong hát ả đào, hát
văn, hát xẩm, ), kết hợp với số động tác trong múa (hát)
chèo đò, múa (hát) cửa đình (các khuôn múa bàn tay,
múa lượn ngón, múa cánh tay), múa mâm đên, múa qnạt,
múa cờ, ; với cả những trò nói mặt, trò trình nghề vốn
rất phổ biến trong những hội làng, đánh dấu từng mức
trình độ sáng tạo và thưởng ngoạn nghệ thuật của đồng
bào từng vùng.
Như vậy, chèo sân đình hình thành ngôn ngữ nghệ
thuật ngay khi thành hình và phát triển kịch chủng, là đã
lưu ý nhiều đến số lớp trò chuyên dùng, xếp cạnh số lớp
trò đa dùng, trong đó, âm nhạc giữ vai trò rất quan trọng.
Nói cách khác, những gì làm người xem phân biệt chèo với
các kịch chủng cùng nằm trong loại hình kịch hát dân tộc
(Việt) như tuồng, kể thêm cải lương, chưa nói ôpêra,
ôpêrét hay kịch nói, những cái lọt vào tai, hiện ra trước

mang tính tập thể cao độ, trong đó, mỗi người mỗi góp
vào, phần nhiều từ ứng diễn ứng tác truyền đời trên cơ sở
bản trò. Vì thế hình tượng vai đóng đã hầu thành khuôn
diễn chung trên đường nét cơ bản đòi kẻ đi sau phải cố
gắng tuân thủ, nhất thể đối với số vai hay, vở diễn hay, đã
được giới nghề coi là vốn cũ truyền thống.
Chèo cải lương là một dạng chèo cách tân do
Nguyễn Đình Nghi khởi xướng và theo đuổi để thực hiện
từ đầu những năm 1920 đến trước Cách mạng tháng Tám
1945, theo xu hướng phê phán tính ước lệ của chèo cổ.
Chèo cải lương được soạn thành màn, lớp, bỏ múa và
động tác cách điệu trong diễn xuất, xử lý những mô hình
làn điệu chèo cổ, đưa nguyên những bài dân ca có sẵn vào
bổ sung cho hát chèo. Bộ "Tám trận cười" của Nguyễn
Đình Nghi gồm những vở nổi tiếng.
Chèo chái hê, còn gọi là chèo nhị thập tứ hiếu -
bắt nguồn từ nội dung diễn xướng: Là loại hình dân ca hát
vào rằm tháng bảy hàng năm, hoặc trong đám tang, đám
giỗ của người có tuổi thọ, có nguồn gốc từ việc kết nghĩa
giữa 2 làng Vân Tương (Bắc Ninh) và Tam Sơn (Đông Anh,
Hà Nội), gồm có các phần: 1. Giáo roi 2. Nhị thập tứ hiếu
3. Múa hát chèo thuyền cạn 4. Múa hát kể thập ân. Kết
thúc chương trình hát chèo chái hê thường là hát quan họ.

Biểu diễn chèo Chải Hê tại đình Lũng Giang

Điều thú vị là chèo Chải Hê ban đầu nhằm diễn xướng
trong các đám tang hiếu của người cao tuổi, về sau, nhu
cầu giải trí, giao lưu văn nghệ càng lên cao, nó có thêm
những bài hát chèo thuyền và hát huê tình tươi tắn, sinh


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status