Tài liệu Vùng Đất Cần Thơ: Lịch Sử Hình Thành - Pdf 97

Vùng Đất Cần Thơ: Lịch Sử
Hình Thành
Thứ sáu, 28 Tháng 5 2010 06:03
I. Vùng Đất Cần Thơ: Lịch Sử Hình Thành
Thời điểm lịch sử hình thành vùng đất Cần Thơ được khai mở và có mặt trên
dư đồ Việt Nam từ năm 1739, với tên gọi Trấn Giang. Nếu tính xa hơn nữa, thì
vùng đất này đã xuất hiện và tồn tại trong quá trình hình thành vùng Châu thổ
sông Cửu Long từ trước Công nguyên. Đến ngày 23 tháng 2 năm 1876, sau khi
đã chiếm trọn Nam kỳ lục tỉnh, thực dân Pháp mới ra nghị định lấy huyện Phong
Phú (Trấn Giang xưa) và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành thuộc tỉnh An
Giang (thời vua Minh Mạng) để thành lập hạt Cần Thơ.
CÔNG CUỘC KHẨN HOANG Ở NAM BỘ - CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG, V
À

SỰ HÌNH THÀNH THỦ SỞ TRẤN GIANG:
Vào thế kỷ XIII, Châu Đạt Quang khi đi thuyền theo cửa biển vào sông Tiền, theo
hướng Tây – Nam, đến Ăng Co đã ghi nhận trong sách “Chân Lạp phong th

ký”
nói về vùng châu thổ sông Cửu Long như sau: “Nhìn lên bờ, chúng tôi thấy toàn
là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết
được lối vào. Thế nên các thuỷ thủ cho rằng rất khó mà tìm đúng cửa sông”. Đến
cuối thế kỷ thứ XVIII, khi miệt trên Đồng Nai – Sài Gòn đã có thôn làng, bộ máy
hành chính cai trị cấp Phủ huyện đã chính thức thiết lập từ 1698, thì toàn vùng
này từ cửa biển trở lên vẫn còn là “rừng rậm hàng ngàn dậm”.
Trên không gian hoang vu của vùng đất phương Nam, mãi đến thế kỷ XVI, XVII
mới được các tập đoàn lưu dân kéo tới khai khẩn, mở ra một tiến trình lịch sử
mới với một mô thức văn hoá khác. Trong tiến trình đó, Cần Thơ xưa là “lõm” đất
chẳng những được khai phá có phần muộn màng so với miệt trên Đồng Nai –
Sài Gòn mà cả với miệt dưới (Hà Tiên). Cuối thế kỷ XVII, ông Mạc Cửu là người
Châu Lôi, tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc không thần phục nhà Thanh cùng

Chính đại thần Nguyễn Cư Trinh được Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát
phái vào Nam từ năm 1753, đã gặp Tổng trấn Mạc Thiên Tích và rất đồng tình
về mưu lược của ông này. Hai hiền tài đã bàn và nhất trí nhau trong kế hoạch
xây dựng Trấn Giang. Từ đó Trấn Giang càng được phát triển và trở thành một
“thủ sở” mạnh ở miền Hậu Giang.
Sách Gia Định thành thông chí khi viết về sông Hậu ngày xưa có đề cập đến Thủ
sở Trấn Giang nằm trên bờ Tây sông Hậu thượng lưu từ phía Đông thành Nam
Vang chảy xuống Châu Đốc, Cần Đăng, vô Nam đến thủ Cường Oai, núi Lấp
Vò, rồi đến thủ Trấn Giang, qua đạo Trấn Di, ra cửu biển Ba Thắc…”
Đầu năm 1755, Đại thần Nguyễn Cư Trinh, đang điều khiển sĩ tốt 5 dinh Bình
Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ (tức từ Phú Khánh đến
Vĩnh Long ngày nay) giúp ông Thiện Chính lo việc bình ổn ở biên giới Tây Nam
thì Nặc Nguyên (Vua Campuchia thời xưa) dựa vào quân Xiêm bức lại dân Côn
Man (người Chăm sống ở Campuchia) và quấy rối biên cảnh nước ta. Sau khi
Nguyễn Cư Trinh đem quân giải cứu cho người Côn Man và định cư họ ở núi Bà
Đen (Tây Ninh), thì bấy giờ, Chúa Nguyễn và các quan tướng có ý định cất quân
đi hỏi tội Nặc Nguyên. Nặc Nguyên thấy rõ thanh thế quân nhà Nguyễn liền chạy
qua Hà Tiên nhờ Tổng trấn Hà Tiên là Mạc Thiên Tích làm trung gian đặt lại mối
quan hệ. Mạc Thiên Tích viết sớ dâng lên, nhưng Chúa Nguyễn không đồng ý vì
cho Nặc Nguyên là kẻ tiếm vị và dối trá. Nguyễn Cư Trinh dâng sớ can Chúa:
“Từ xưa sở dĩ dùng binh chẳng qua là để diệt trừ kẻ cừ khôi, mở mang bờ cõi.
Nay Nặc Nguyên đã biết hối lỗi, nộp cống cầu hoà. Nếu cứ truy mãi lời dối trá ấy
thì chúng tất chạy trốn. Vả lại từ đồn dinh Gia Định đến La Bích đường sá xa xôi,
nghìn rừng muôn suối, không tiện đuổi đến cùng (…) chi bằng uỷ thác cho thần
xem xét, xem hình thế, đặt luỹ đóng góp quân, chia cấp ruộng đất cho quân dân
cày cấy, vạch định biên giới lại rõ ràng”.
Lời tâu của đại thần Nguyễn Cư Trinh được Chúa chấp thuận, đã mở ra một
hướng chiến lược quan trọng cho công cuộc khai hoang lập nghiệp trên “lõm”
đất Tầm Phong Long (vùng Bassac) còn hoang hoá này. Nguyễn Cư Trinh cho
dời dinh Long Hồ từ Cái Bè qua bên kia sông Tiền (tỉnh Vĩnh Long ngày nay); lấy

viện của Chúa Nguyễn đưa về Long Hồ tạm trú. Đến tháng 12 được chiếu khoan
miễn tội, Mạc Thiên Tích lại được cấp tiền lương và được binh biền hộ vệ đưa
về Trấn Giang cư trú, “đặng chiêu dụ kẻ lưu vong, để toan có ngày dẹp giặc”.
Như thế, năm 1771, quân Xiêm, sau khi chiếm được Hà Tiên thì tiếp tục tràn tới
Trấn Giang nhưng đã bị đánh trả quyết liệt và phải rút lui. Sau đó, thì Trấn Giang
càng được cũng cố và phát triển rất mạnh.
Năm 1774 nghĩa quân Tây Sơn đánh chiếm kinh thành Phú Xuân. Chúa Định
Vương Nguyễn Phước Thuần và Nguyễn Ánh chạy vào Gia Định, trú ở địa
phương Bến Nghé. Mạc Thiên Tích đích thân đến hầu, được Chúa phong làm
Quốc lão Đô đốc quận công và gia phong cho 3 con là Mạc Tử Hoàng làm
Chưởng Cơ, “Xướng” làm Thuỷ Thắng cơ đội và “Dung” làm Tham tướng Cai
Cơ đều “cho về án thủ Trấn Giang đạo, chiêu tập lưu dân, tàn tốt Hà Tiên đ

chờ
cơ hội”.
Tháng 3 năm Đinh Dậu (1777) quân Tây Sơn vào chiếm Gia Định. Tháng 4, xa
giá Chúa Nguyễn chạy xuống Trấn Giang đạo. Mạc Thiên Tích đón Chúa ở đấy.
Tháng 8 quân Tây Sơn kéo xuống Miền Tây và Trấn Giang. Tháng 1 năm 1785,
Nguyễn Huệ thân chinh chỉ huy quân Tây Sơn đánh tan 20 ngàn quân và 300
T
chiến thuyền của quân Xiêm mượn cớ vào giúp Chúa Nguyễn để xâm lược Việt
Nam một lần nữa. Đó là trận Rạch Gầm Soài Mút (Tiền Giang). Chúa Nguyễn
tiếp tục chạy khỏi Trấn Giang và ra hòn Th

Chu lánh nạn. Sang năm 1787,
quân Tây Sơn rút khỏi các dinh trấn ở Miền Tây và quân nhà Nguyễn mới thu lại
được các vùng này, trong đó có Trấn Giang.
Như vậy, suốt thập niên 70 của thế kỷ XVIII, Trấn Giang đã trở nên một cứ đi

m

Thanh, Định Tường và Hà Tiên). Trấn Giang vẫn nằm trong địa giới trấn Vĩnh
Thanh.
Đến năm Quý Dậu 1813, 26 năm sau ngày Tham tướng Mạc Tử Sanh tử trận tại
Trấn Giang, vua Gia Long cắt một vùng đất phì nhiêu ở vùng hữu ngạn sông
Hậu (bao gồm Trấn Giang - Cần Thơ xưa) để lập riêng một huyện Vĩnh Định,
trực thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh.
Năm Nhâm Thìn 1832, vua Minh Mạng ban chiếu dụ đổi “Trấn” thành “Tỉnh” và
hình thành nên Nam kỳ lục tỉnh gồm: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên. Nhà vua đã tách huyện Vĩnh Định (Cần Thơ xưa) ra
khỏi phụ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long và cho trực thuộc phủ Tân Thành, tỉnh An
Giang.
Năm Kỷ Hợi 1839, vua Minh Mạng đổi tên huyện Vĩnh Định là huyện Phong Phú,
trực thuộc phủ Tịnh Biên, tỉnh An Giang và lấy làng Tân An làm huyện trị của
huyện Phong Phú. Từ đó, huyện Phong Phú tiếp tục phát triển và nổi tiếng là
một vùng đất thạnh trị và an ninh khác hẳn mọi vùng ở miền Tây lúc bấy giờ.
Trên bản đồ sơn văn của A.Pouyanne, Cần Thơ xưa là một giồng đất ven sông
rạch có đô cao thuộc loại trên 2,50m. Đặc điểm tự nhiên này là một ưu đi
T

m cho
việc cư trú. Trong sách Cần Thơ xưa và nay nhà nghiên cứu Huỳnh Minh có
trích một đoạn sách thời Gia Long Minh Mạng tả vị trí con sông Cần Thơ như
sau:
“Sông Cần Thơ ở phía Đông huyện Phong Phú 3 dặm, bờ phía Tây sông Hậu,
rộng 4 trượng, sâu 2 trượng rưỡi. Bờ phía Tây sông này có cựu thủ sở đạo Trấn
Giang. Bắt đầu từ phía Nam Đại Giang chảy xuống, thông sông Bồn, rồi do cửa
sông ấy chảy qua đà Sưu, đà Răng, cách 13 dặm đến ngã ba Ba Láng. Chi phía
Bắc chảy qua Đông 12 dặm thông với sông Bình Thuỷ, lại một chi nữa cũng do
phía Bắc chuyển về hướng Đông 45 dặm chảy ra cảng khẩu đạo Kiên Giang, tục
gọi là cửa Bé”.

thành nơi đất gốc của người dân Cần Thơ mà thế hệ sau này tự hào về nó. Về
sau, qua thời gian tô điểm của con người, cảnh trí trở nên thi vị hơn và văn vật
hơn, nên hậu thế lại đặt cho nó là Long Tuyền, coi ra mang hơi hám phong thuỷ
của quan niệm địa linh nhân kiệt trên dòng sông phẳng lặng này.
Ở đây, đường sông là mạch máu giao thông chính, ghe xuồng trở nên quan
trọng đến mức thiết yếu. Làng xã luôn được hình thành trên các giồng đất trải
dài theo sông, rạch và về sau là kinh đào. Chợ búa đều hình thành trên bến
sông, rạch, kinh đào. Những khúc sông thuận lợi, giáp nước, cửa vàm, ngã ba,
ngã tư là tụ điểm giao thương và tất yếu trở thành thị tứ - Trung tâm thương mại
– văn hoá của một vùng. Các chợ búa, thị tứ cổ xưa đều hình thành do sông
rạch định vị. Các chợ thị tứ nằm sâu trong đất liền xa sông đều là mới thành lập,
khi đường bộ đã phát triển, xe cộ đã phổ biến.
Đặc điểm này có thể đã hình thành từ cuối thế kỷ XVIII ở vùng Bình Thuỷ - Cần
Thơ và liên lập với các tụ điểm khác trải dài trên vùng đất trung lưu và hạ lưu
sông Hậu. Bởi vậy nên đến đầu thế kỷ XIX được tác giả Gia Định thành thông
chí nhắc đến như những trung tâm mua bán tương xứng với bên hữu ngạn sông
Tiền là Sa Đéc, Long Hồ… Đó là: 1 – Trung tâm bờ phía Tây Thủ sở đạo Trấn
Giang trên sông Cần Thơ, 2 – Trung tâm ở sông Trà Ôn, thuộc tổng Bình Chánh,
nơi đây phố chợ trù mật; người Tàu, người Cao Miên tụ tập đông đảo”; và trung
tâm Trường tàu Ba Thắc dưới hạ lưu sông Hậu là nơi có người Tây Dương đến
buôn bán; có đủ người Việt, người Tàu, người Cao Miên chung lộn; đường phố,
chợ quán nối dài liên tiếp.
Nói chung đây là biểu hiện nổi bật nhất của cái mà các nhà nghiên cứu định
danh là văn minh sông rạch mà ở mức độ cao hơn là các chợ n

i ở các giao lộ
đường thuỷ chẳng hạn như Trà Ôn, Phong Điền, Phụng Hiệp sau này. Sông
rạch có vai trò quan trọng cho giao thông và ngày trước, nó là con đường đưa
người đi khai hoang sâu vào đất liền để định cư và thôn làng theo đó mà hình
thành. Đối với xứ sở này ngày xưa, rạch Cần Thơ từ đầu vàm giáp sông Hậu

hoặc một vài năm là đổi đi. Năm 1889, Pháp đổi các đơn vị hành chính cấp hạt
thành tỉnh và huyện đổi lại là quận.
Từ năm 1876, thành lập hạt Cần Thơ, đến khi Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam
lần thứ 2, vào năm 1945 và cho đến ngày Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ, ký kết
hiệp định Genève (Giơ-ne-vơ) năm 1954, thì địa giới hành chính tỉnh Cần Thơ
trong thời Pháp thuộc vẫn không thay đổi. Tỉnh Cần Thơ gồm có thị xã Cần Thơ
và các huyện Châu Thành, Ô Môn, Phụng Hiệp, Trà Ôn, Cầu Kè.
T
Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào 2 năm 1948 – 1949
chính quyền kháng chiến có điều chỉnh một phần địa giới hành chính của các
tỉnh. Cần Thơ nhận thêm huyện Thốt Nốt (của tỉnh Long Xuyên), các huyện Long
Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng, thị xã Rạch Giá (của tỉnh Rạch Giá) và huyện Kế
Sách (tỉnh Sóc Trăng). Tỉnh Cần Thơ giao 2 huyện Trà Ôn và Cầu Kè về tỉnh
Vĩnh Trà (Vĩnh Long – Trà Vinh).
T
Sau hiệp định Genève (Giơ-ne-vơ) năm 1954, nước Việt Nam ta tạm thời chia
làm hai miền. Ở miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ Nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, toàn dân ta ra sức khôi phục và phát tri

n kinh tế, khắc
phục hậu quả chiến tranh, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

miền Nam,
tạm thời do địch quản lý, nhân dân ta một lòng tin Đảng và tiếp tục làm cách
mạng để giải phóng quê hương, tiến tới thống nhất nước nhà.
Lúc này, đế quốc Mỹ nhảy vào thay chân Pháp, phá hoại hiệp định Genève (Giơ-
ne-vơ), dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm làm tay sai cho Mỹ, biến miền
Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Từ đó, địa giới hành chính
trong chế độ cũ ở miền Nam nói chung và tỉnh Cần Thơ nói riêng có nhiều thay
đổi. Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm quyết định đổi tên tỉnh Cần Thơ

III. VỀ TÊN GỌI “CẦN THƠ” VÀ XUẤT XỨ CỦA HAI TIẾNG “TÂY ĐÔ”:
Về tên gọi Cần Thơ, trong sử sách xưa nay, không có ghi chép xuất xứ rõ ràng như tên
gọi một số tỉnh khác, chỉ có những truyền thuyết do các bô lão địa phương đời trước kể
lại cho con cháu đời sau. Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, trong quyển sách sưu khảo
Cần Thơ xưa và nay xuất bản năm 1966 thì có hai truyền thuyết như sau:
Ngày xưa, khi chưa lên ngôi vua, Chúa Nguyễn Ánh vào Nam và đã đi qua nhiều
vùng châu thổ sông Cửu Long. Một hôm, đoàn thuyền của Chúa đi theo sông
Hậu vào địa phận thủ sở Trấn Giang (Cần Thơ xưa). Đêm vừa xuống, thì đoàn
thuyền cũng vừa đến Vàm sông Cần Thơ (bến Ninh Kiều ngày nay). Đoàn
thuyền đang lênh đênh trên mặt nước ở ngã ba sông này, Chúa nhìn vào phía
trong thấy nhiều thuyền bè đậu dài theo hai bờ sông, đèn đóm chiếu sáng lập
loè. Giữa đêm trường canh vắng, vọng lại nhiều tiếng ngâm thơ, hò hát, tiếng
đàn, tiếng sáo hoà nhau nhịp nhàng. Chúa thầm khen về một cảnh quan sông
nước hữu tình. Chúa mới có cảm nghĩ ban cho con sông này một cái tên đầy thơ
mộng là Cầm thi giang tức là con sông của thi ca đàn hát. Dần dần 2 tiếng Cầm
thi được lan rộng trong dân chúng và nhiều người nói trại ra là Cần Thơ. Tên
Cần Thơ nghe thấy hay và đẹp nên được người trong vùng chấp nhận và cùng
gọi là
sông Cần Thơ.
Một truyền thuyết khác cho rằng: sông Cần Thơ ngày xưa ở hai bên bờ, dân
chúng trồng rất nhiều rau cần và rau thơm. Ghe thuyền chở nhiều loại rau cần,
rau thơm qua lại rao bán đông vui từ năm này qua năm khác. Vì vậy từ xa xưa,
còn truyền lại những câu ca dao:
- “Rau cần, rau thơm xanh mướt,
mua mau kẻo hết
chậm bước không còn”.
- “Rau cần lại với rau thơm
Phải chăng đất ấy rau thơm có nhiều”
Cũng có thể từ đó mà người địa phương lại gọi sông này là sông Cần Thơm, nói
trại là Cần Thơ. Hai truyền thuyết

Môn mất non một
giờ đồng hồ. Ô Môn là một quận lớn, giàu có nhất trong hạt Cần Thơ, ở vào
khoảng đường từ Long Xuyên đến Cần Thơ. Cai trị quận Ô Môn là quan đốc phủ
Nguyễn Đăng Khoa, người đã có tuổi mà tính tình vui vẻ lắm. Khi trở về, ngài
còn giữ ăn cơm chiều, nói chuyện khoái trá lắm. Ngài khi xưa còn theo quân thứ
ở mấy tỉnh Bắc kỳ và khắp cả các tỉnh Trung kỳ, có tài săn bắt ít người bằng.
Hiện chỗ ngài ngồi chơi còn bài la liệt các thứ súng. Ngài chỉ một cây súng lớn
mà nói rằng: “Cây súng này tôi đã từng bắn mấy chục con hổ ở cùng Bình
Thuận, Phú Yên đây”.Rồi ngài kể chuyện một bữa bắn được con h

to lớn lạ
thường, khi nó vươn mình ra từ đầu đến cuối đuôi có tới 6 thước tây, nó làm
kinh hoàng cả một vùng đó, ăn hại không biết bao nhiêu người và sức vật, người
dân đã cho là hổ thần, đành chịu không ai bắn nổi. Nhà săn bán đại tài thấy
những miếng nguy hiểm hay liều mình. Ngài bèn cùng mấy người đầy tớ giỏi
đem chiếc súng lớn vào rừng. Quả gặp h

thần thật… Quan đốc phủ nói chuyện
vui quá, muốn ngồi nghe mãi không chán.
Con đường từ Long Xuyên đến Cần Thơ tốt lắm, giữa đổ đá, hai bên trồng cây,
cái xe bon bon chạy giữa, coi phong cảch rất là ngoạn mục. Vả lại, đường bộ
trong Nam kỳ này ở đâu cũng tốt như vậy: chẳng bù với đường Bắc kỳ, thứ nhất
là đường Trung kỳ, xe hơi chạy có chỗ tưởng bổng lên đến ngọn núi, có chỗ
tưởng xô xuống vực sâu.
Cần Thơ có cái vẻ mỹ miều xinh xắn, sạch sẽ phong quan, thật xứng tên làm
tỉnh đầu ở miền Tây. Đường phố thênh thang, cửa nhà san sát, các nhà buôn
Tây cũng nhiều hơn tỉnh khác, có chỗ coi xinh đẹp hơn ở Sài Gòn. Tới Cần Thơ,
vào thăm ông huyện Võ Văn Thơm, chủ bút An Hà Nhật báo. Ông là người đứng
tuổi, tính tình trầm mặc, chuyên về kinh tế học.
Ô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status