Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
LỜI NÓI ĐẦU
Từ sau những năm 1986 với chính sách” Đổi mới” nền kinh tế Việt Nam
dần dần chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp sang một nền kinh tế
mới mang tính thị trường. Với chính sách đổi mới này Nhà nước đã tạo ra cho
các doanh nghiệp nhiều lợi thế nhưng cũng có không ít khó khăn.
Tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một số doanh
nghiệp thương mại. Tiêu thụ để doanh nghiệp thu hồi vốn kinh doanh , tiêu thụ
để thực hiện nghĩa vụ với ngân sách , cải thiện đời sống người lao động…
Doanh thu tiêu thụ hàng hoá là nguồn thu chủ yếu để trang trải chi phí hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp , khả năng kiếm lời của doanh nghiệp phụ thuộc
trước hết vào khả năng tiêu thụ hàng hoá .
Từ những ý nghĩa trên tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra của doanh nghiệp
sản xuất cũng như tiêu thụ hàng hoá cua doanh nghiệp thương mại nói riêng có ý
nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển , tăng khả năng cạnh tranh của bất
kỳ doanh nghiệp nào. Bên cạnh đó, kế toán tiêu thụ và kết quả tiêu thụ hàng hoá
vốn được coi là phức tạp nên hầu hết các hộ kinh tế đều chưa có một hệ thống
kế toán nghiêm chỉnh. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự cạnh tranh
gay gắt, công ty TNHH Thương mại Vạn An đã tồn tại và phát triển. Song song
với những điều kiện đó bộ phận Công ty cũng từng bước được hoàn thiện.
Qua quá trình thực tập tổng hợp và đi sâu tìm hiểu Công ty và được sự
giúp đỡ của các anh chị phòng kế toán công ty em đã lựa chọn đề tài:” Hoàn
thiện hạch toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty
TNHH Thương mại Vạn An “.
Khoa Kinh Tế - 1 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
Trong chuyên đề này tập trung đánh giá tình hình chung ở đơn vị về quản
lý và kế toán, phân tích qui trình kế toán tiêu thụ và xác định kết quả ở đơn vị và
nêu ra một số giải pháp giải quyết một số vấn đề còn tồn tại. Chuyên đề này
được chia làm 3 phần chính:
Phần I: Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán tiêu thụ và xác
thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế
- xã hội.
Hoạt động kinh tế cơ bản của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại là
đa dạng các loại sản phẩm hàng hóa từ khâu sản xuất sang khâu tiêu thụ thông
qua hai qúa trình kinh doanh chủ yếu là mua hàng và bán hàng, nhằm thực hiện
Khoa Kinh Tế - 3 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
mục đích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và thỏa mãn nhu cầu tiêu
dùng của toàn xã hội.
Hàng hóa trong kinh doanh thương mại cũng rất đa dạng gồm: Các loại
vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về với mục đích để
kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
Hàng hóa vận động trong kinh doanh thương mại cũng không giống nhau,
tuỳ thuộc vào nguồn hàng và ngành hàng (Hàng lưu chuyển trong nước, hàng
xuất nhập khẩu, hàng công nghệ phẩm, hàng nông sản thực phẩm, hàng thuỷ hải
sản...), do đó các chi phí thu mua, thời gian lưu chuyển và khả năng tiêu thụ
cũng khác nhau giữa các loại hàng hoá này.
Hàng hóa lưu chuyển trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại có
thể theo một trong hai phương thức là bán buôn và bán lẻ.
Về tổ chức kinh doanh thực hiện lưu chuyển hàng hóa thì bao gồm nhiều
đơn vị: Nội, ngoại thương, lương thực, vật tư, ..., các đơn vị này đều phải tiến
hành bán buôn, bán lẻ hoặc chuyên doanh với những quy mô khác nhau như:
Tổng công ty, Công ty, cửa hàng .... Tuy nhiên dù với hình thức tổ chức như thế
nào thì hoạt động chủ yếu của các đơn vị này vẫn là mua vào, bán ra với khối
lượng hàng hóa phù hợp với nguồn vốn kinh doanh hiện có và phục vụ nhu cầu
nhiệm vụ theo mức lưu chuyển hàng hóa đã quy định.
Các đơn vị kinh doanh thương mại ngoài nhiệm vụ chủ yếu là kinh doanh
mua bán hàng hóa còn có thể tổ chức các hoạt động ra công, chế biến, chăn
nuôi, tư vấn,... để tạo thêm nguồn hàng và tiến hành các hoạt động dịch vụ khác
nhằm tăng doanh thu, thu nhập.
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
Tóm lại, tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ hàng hóa có ý nghĩa rất quan
trọng đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh
thương mại nói riêng. Nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Quản lý tốt hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa là
yêu cầu được đặt ra đối với bộ máy kế toán trong doanh nghiệp nhằm không
ngừng nâng cao hiệu qủa kinh doanh và lợi nhuận.
1.3/ Vị trí của tiêu thụ, kết qủa và nhiệm vụ hạch toán.
* Khái niệm vị trí của tiêu thụ và xác định kết qủa tiêu thụ.
Bán hàng là quá trình thực hiện quan hệ trao đổi hàng hóa dịch vụ thông
qua các phương tiện thanh toán để thực hiện giá trị của sản phẩm hàng hóa dịch
vụ. Trong qúa trình đó, doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
cho khách hàng, còn khách hàng phải trả cho doanh nghiệp khoản tiền tương
ứng với giá bán của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đó theo giá thoản thuận hoặc
chấp nhận thanh toán.
Bán hàng là một quá trình chuyển hóa vốn kinh doanh từ vốn hàng hóa
sang vốn bằng tiền và hình thành kết quả bán hàng. Quá trình bán hàng có thể đ-
ược chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Doanh nghiệp bán hàng xuất giao hàng hóa, dịch vụ của
mình:
Giai đoạn này phản ánh một mặt qúa trình vận động của hàng hóa. Tuy
nhiên nó chưa đảm bảo phản ánh được kết quả của việc bán hàng, chưa có cơ sở
để đảm bảo qúa trình bán hàng đã được hoàn tất bởi vì hàng gửi đi chưa khẳng
định là đã thu được tiền hoặc được chấp nhận thanh toán.
Giai đoạn 2: Khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
Đây là giai đoạn doanh nghiệp đã bán được hàng và thu tiền về (hoặc sẽ
thu được tiền). Kết thúc giai đoạn này cũng là lúc qúa trình bán hàng được hoàn
Khoa Kinh Tế - 6 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
tất, doanh nghiệp có thu nhập để bù đắp các chi phí đã bỏ ra trong qúa trình kinh
là chấp nhận nợ, còn việc thanh toán tiền hàng với bên mua tuỳ thuộc vào hợp
đồng ký kết giữa hai bên.
Chứng từ được lập trong trường hợp này là “ hoá đơn” hoặc “phiếu xuất
kho kiêm hóa đơn” do doanh nghiệp lập.
* Bán buôn theo phương thức gửi hàng:
Theo hình thức nay, doanh nghiệp bán buôn căn cứ vào hợp đồng kinh tế
đã ký kết với người mua để gửi hàng cho người mua bằng phương tiện vận tải tự
có hoặc thuê ngoài. Chi phí vận tải do doanh nghiệp chịu hoặc do bên mua phải
trả tùy thuộc vào hợp đồng mà hai bên đã ký. Hàng hóa được giao cho bên mua
tại kho của bên bán hoặc tại địa điểm mà bên mua đã thoả thuận trước trong hợp
đồng. Hàng hóa gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp bán buôn, chỉ
khi nào thu được tiền bán hàng hoặc bên mua xác nhận đã nhận được hàng và
chấp nhận thanh toán mới được coi là tiêu thụ.
Chứng từ bán hàng trong trường hợp này là “hoá đơn” hoặc “hoá đơn
hàng gửi bán” do doanh nghiệp lập.
Đối với phương thức bán buôn qua kho: Việc bán hàng được thực hiện là
bên bán giao hàng cho bên mua tại kho khi người mua nhận hàng song thanh
toán tiền và xác nhận nợ thì được ghi chép là hàng tiêu thụ. Nếu đưa hàng đến
Khoa Kinh Tế - 8 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
kho của người mua hoặc gửi hàng qua cơ quan vận chuyển thì không phải là loại
xuất kho gửi bán mà thời điểm ghi chép là khi nhận được giấy báo có của ngân
hàng hay nhận được giấy chấp nhận thanh toán của người mua.
b. Phương thức bán buôn vận chuyển thẳng:
Là phương thức bán hàng mà hàng hóa bán cho bên mua được giao thẳng
từ kho của bên cung cấp hoặc giao thẳng từ bến cảng, nhà ga chứ không qua kho
của đơn vị bán buôn. Bán buôn vận chuyển thẳng là phương thức bán hàng hợp
lý nhất, nó cho phép tiết kiệm tới mức tối đa chi phí lưu thông đồng thời tạo điều
kiện tăng nhanh sự vận động của hàng hóa. Song phương thức này chỉ áp dụng
trong điều kiện cung ứng hàng hóa có kế hoạch, khối lượng hàng hóa lớn, hàng
giao hàng để nhận hàng.
Cuối ca hoặc cuối ngày, ngời thu tiền tổng hợp số tiền bán hàng đã thu đ-
ược để xác định doanh số bán. Định kỳ kiểm kê hàng hóa tại quầy, xác định l-
ượng hàng hóa đã bán ra để xác định lượng hàng thừa thiếu tại quầy hàng.
b/ Phương thức bán hàng trực tiếp: theo hình thức bán hàng này, người
bán hàng trực tiếp bán hàng cho khách hàng và thu tiền ngay. Cuối ca, cuối ngày
người bán hàng kiểm kê hàng tồn quầy để xác định lượng hàng tiêu thụ, lập báo
cáo bán hàng, nộp tiền cho thủ quỹ và lập giấy nộp tiền.
c/ Hình thức bán hàng tự động: Đây là hình thức áp dụng rộng rãi trong
các cửa hàng, siêu thị hiện nay. Theo hình thức này, người mua hàng sẽ được
toàn quyền lựa chọn hàng hóa mà mình cần mua trong quầy, cửa hàng, siêu thị.
Tức là trong các cửa hàng siêu thị không có các nhân viên bán hàng giao hàng
cho khách hàng mà chỉ có các nhân viên thu ngân làm nhiệm vụ kiểm tra hàng,
tính tiền, lập hoá đơn bán hàng cho khách và thu tiền, cùng các nhân viên kiểm
Khoa Kinh Tế - 10 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
soát quá trình mua bán, tránh tình trạng gian lận. Cuối ngày nộp tiền bán hàng
vào qũy.
1.4.3/ Gửi hàng đại lý và nhận bán hàng đại lý:
− Gửi hàng đại lý là phương thức mà đơn vị bỏ vốn ra mua hàng hóa gửi
đi tiêu thu mà đơn vị không trực tiếp tiêu thụ hàng hóa đó.
− Nhận hàng đại lý, ký gửi là phương thức mà đơn vị bán không phải
dùng vốn kinh doanh của mình mà chỉ làm nhiệm vụ tiêu thụ hộ đại lý và nhận
tiền hoa hông do việc bán hàng đó.
− Việc thanh toán tiền hàng có thể áp dụng phương thức: bán hàng xong
giao tiền cho đơn vị giữ đại lý và được hưởng hoa hồng theo thoả thuận. Giá cả
hàng hóa bán ra do bên gửi đại lý quy định. Vậy đơn vị giữ đại lý không có
quyền sở hữu về hàng hóa nhưng lại có quyền sử dụng hàng hóa. Ngược lại, đơn
vị giữ đại lý có quyền sở hữu hàng hóa nhng không có quyền sử dụng.
1.5/ Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ và xác định
chính xác là cơ sở để lãnh đạo doanh nghiệp hoạch định chiến lược kinh doanh
nói chung và chiến lược tiêu thụ nói riêng một cách hợp lý, linh hoạt đáp ứng thị
hiếu tiêu dùng của khách hàng.
Ngoài ra, nó còn là cơ sở để Nhà nước quản lý và giám sát tình hình thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế với ngân sách Nhà nước, nghĩa vụ tài chính với các bên
có quan hệ kinh tế. Điều này nói lên vai trò quan trong của kế toán bán hàng
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt các yêu cầu về quản lý trong công tác tiêu thụ, kế toán
tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ phải làm tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Khoa Kinh Tế - 12 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
- Phản ánh, ghi chép và giám đốc chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế tài chính
phát sinh trong qúa trình kinh doanh liên quan đến tiêu thụ của doanh nghiệp
một cách đầy đủ, kịp thời, theo đúng nguyên tắc chuẩn mực và phương pháp
hạch toán quy định.
- Theo dõi, quản lý chặt chẽ qúa trình tiêu thụ, ghi chép đầy đủ các loại
chi phí bán hàng, doanh thu bán hàng, các khoản giảm trừ doanh thu, đôn đốc
việc thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước để làm cơ sở cho việc xác
định kết qủa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được chính xác.
- Tổng hợp số liệu, lập báo cáo tình hình tiêu thụ và xác định kết qủa tiêu
thụ và cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan.
Đồng thời, định kỳ tiến hành phân tích thông tin kinh tế đối với hoạt động tiêu
thụ, từ đó đưa ra những ý kiến đóng góp nhằm tham mưu cho lãnh đạo những
biện pháp hữu hiệu để thúc đẩy công tác tiêu thụ trong doanh nghiệp.
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ VỐN HÀNG TIÊU THỤ.
Trong kế toán, hàng hóa dự trữ được phản ánh theo giá vốn tức là phản
ánh theo đúng số tiền vốn thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có hàng hóa đó
bao gồm trị giá mua của hàng hóa và chi phí mua hàng. Vì thế trị giá vốn của
hàng xuất bán bao gồm 2 bộ phận:
− Trị giá mua thực tế của hàng xuất bán: Gôm giá mua phải trả người bán
kỳ trước hoặc bình quân sau mỗi lần nhập).
Giá thực tế hàng
hóa xuất bán
=
Số lượng hàng hóa
xuất bán
x
Giá đơn vị
bình quân
Trong đó, giá đơn vị bình quân theo từng phương pháp được tính như
sau:
· Giá đơn vị bính quân cả kỳ dự trữ
Khoa Kinh Tế - 14 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
Giá đơn vị bình
quân cả kỳ dự trữ
=
Giá thực tế hàng hóa tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lượng thực tế hàng hóa tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ tuy đơn giản, dễ làm
nhưng độ chính xác không cao. Hơn nữa công việc tính toán dồn vào cuối tháng,
gây ảnh hưởng đế công tác tính toán nói chung.
· Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước (hay đầu kỳ này)
Giá đơn vị bình
quân cuối kỳ trước
=
Giá thực tế hàng hóa tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Lượng thực tế hàng hóa tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất bán (trừ trường hợp điều
chỉnh). Khi xuất hàng hóa nào sẽ tính theo giá thực tế của hàng hóa đó. Do vậy,
phương pháp này còn có tên gọi là phương pháp đặc điểm riêng hay phương
pháp giá thực tế đích danh và thường sử dụng với các loại hàng hóa có giá trị
cao và có tính tách biệt.
2.5. Phương pháp giá hạch toán:
Khi áp dụng phương pháp này, toàn bộ hàng hóa biến động trong kỳ được
tính theo giá hạch toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định trong kỳ). Cuối
kỳ, kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế theo công
thức sau:
Giá thực tế hàng
hóa xuất bán
=
Giá hạch toán hàng hóa xuất
dùng (hoặc tồn kho cuối kỳ)
x
Hệ số giá
hàng hóa
Khoa Kinh Tế - 16 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
Hệ số giá có thể tính cho từng loại, từng nhóm, từng thứ hàng hóa chủ yếu
tuỳ thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý. Phương pháp này đơn giản, dễ làm,
phản ánh kịp thời tình hình biến động hàng hóa tăng, giảm trong kỳ. Tuy nhiên
độ chính xác chưa cao vì còn mang tính bình quân.
Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh
doanh của doanh nghiệp. Song nếu doanh nghiệp đã áp dụng phương pháp nào
thì sử dụng ổn định trong nhiều kỳ kế toán và phải được trình bày rõ trong
thuyết minh báo cáo tài chính để đánh giá đúng hiệu qủa kinh doanh của doanh
nghiệp.
III. HẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HÓA THEO CÁC PHƯƠNG THỨC TIÊU THỤ.
xưởng thực tế của hàng hóa hay giá thành thực tế của lao vụ.
− Nhóm tài khoản phản ánh doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu:
+ TK 511: Doang thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Phản ánh số tiền thu
được do bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động kinh doanh. Tài khoản
này cũng dùng để phản ánh các khoản nhận được từ Nhà nước về trợ cấp, trợ giá
khi thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu của
Nhà nước. Tài khoản 511 có các tài khoản cấp 2 sau đây:
TK 5111: Doanh thu bán hàng.
TK5112: Doanh thu bán thành phẩm.
Khoa Kinh Tế - 18 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
TK5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ.
TK5114: Doanh thu trợ cấp, trợ giá.
+ TK 512: Doanh thu bán hàng nội bộ: Phản ánh số tiền thu được do tiêu
thu hàng hóa trong nội bộ doanh nghiệp.
+ TK 521: Chiết khầu thương mại.
+ TK 531: Hàng bán bị trả lại.
+ TK 532: Giảm giá hàng bán.
− Nhóm tài khoản phản ánh tình hình thanh toán với người mua và thực
hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.
+ TK 111: Tiền mặt.
+ TK112: Tiền gửi ngân hàng.
+ TK131: Phải thu của khách hàng.
+ TK 3331: Thuế GTGT phải nộp.
− Nhóm tài khoản phản ánh chi phí và kết qủa kinh doanh:
+ TK 641: Chi phí bán hàng. Tài khoản này có các tài khoản cấp 2 sau:
TK 6411: Chi phí nhân viên.
TK 6412: Chi phí vật liệu bao bì.
TK 6413: Chi phí dụng cụ, đồ dùng.
TK 6414: Chi phí khấu hao tài sản cố định.
(1)
(3)
TK 156(2) TK 3331
(3b)
(2)
(1) Kết chuyển trị giá mua hàng hóa xác định là tiêu thu.
(2) Cuối kỳ tính và phân bổ chi phí thu mua cho hàng hóa xác định là tiêu
thu.
(3) Tổng giá thanh toán.
(3a) Doanh thu tiêu thụ chưa thuế
(3b) Thuế VAT đầu ra
Khoa Kinh Tế - 21 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
+
Hình thức bán lẻ:
Sơ đồ hạch toán 2
TK 156 (kho chính) TK 156 (kho cửa hàng) TK 632
(1) (2)
TK 511 TK 111,112,131
(3a)
TK 3331 (3)
(3b)
(1) Xuất kho đa xuống các cửa hàng.
(2) Giá vốn của hàng bán xác định là tiêu thu.
(3a) Doanh thu bán hàng
(3b) Thuế VAT đầu ra
(1) Xuất kho hàng hóa gửi bán.
(2) Giá vốn hàng hóa xác định là tiêu thụ.
(3) Cuối kỳ tính và phân bổ chi phí thu mua hàng hóa xác định là tiêu thụ.
(4) Doanh thu tiêu thụ, thuế GTGT, hoa hồng trả cho đại lý và khoản tiền
thu được.
Khoa Kinh Tế - 24 - Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thanh Tùng K9KT1
− Ph ương thức bán hảng trả góp:
Sơ đồ hạch toán 7
TK 911 TK511 TK 111,112
(1)
(4) (1a)
TK 131
TK3331
(1b) (3)
(2)
TK 3387
(1c)
TK515
(6) (5)
(1). Số tiền người mua trả lần đầu.
(1a). Doanh thu theo giá bán thu tiền ngay, chưa thuế VAT.
(1b). Thuế VAT phải nộp tính trên giá bán thu tiền ngay.
Khoa Kinh Tế - 25 - Đại Học Mở Hà Nội