Chơng 3
phối giống và sinh sản
I. sinh lý sinh dục của bò cái
1. Cấu tạo cơ quan sinh dục bò cái
Cơ quan sinh dục bò cái gồm hai phần: bộ phận
sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong
(hình 3-1).
a. Bộ phận sinh dục bên ngoài
Bộ phận sinh dục ngoài gồm : âm hộ, âm vật và
tiền đình.
- Âm hộ
Là bộ phận nằm ngay dới âm môn, là cơ quan
đầu tiên của đờng sinh dục cái, phía ngoài có 2 môi
khép kín vào nhau tạo thành rãnh giữa 2 môi. Bình
thờng âm hộ có màu đen, có nhiều tuyến chất nhờn,
giữa 2 môi có rãnh luôn đợc khép kín để bảo vệ các
bộ phận bên trong, đồng thời cũng là lối đa ống tinh
quản vào khi dẫn tinh. 40
Hình 3-1. Sơ đồ vị trí của các bộ phận đờng sinh
dục bò cái
1. âm hộ 5. Thân tử cung 8. Phễu loa kèn
2. Tiền đình 6. Sừng tử cung 9. Buồng trứng
3. Âm đạo 7. ống dẫn trứng 10. Bọng đái
4. Cổ tử cung (ống trứng) 11. Trực tràng
- Âm vật
Giống nh dơng vật đợc thu nhỏ lại, trên âm
42
- Tử cung
Tử cung gồm 3 phần: cổ, thân và sừng tử cung:
+ Cổ tử cung là một cái ống dài 6-10 cm có
thành dày, luôn khép kín và chỉ mở khi hng phấn cao
độ, hoặc lúc sinh đẻ hay bị bệnh. Niêm mạc cổ tử
cung tạo thành 3-5 nếp nhăn, các nếp nhăn này tạo
thành những van khép để bảo vệ không cho vật lạ xâm
nhập vào trong tử cung, nhng nó cũng là những trở
ngại hay vật cản khi đa ống tinh quản vào thân tử
cung, vì chúng tạo thành đờng đi khúc khuỷu. Lỗ cổ
tử cung nhô ra phía âm đạo và luôn khép kín, khiến
cho nhiều kỹ thuật viên khó xác định lỗ cổ tử cung để
đa đầu ống dẫn tinh xuyên qua và hay nhầm với hốc
cụt xung quanh. Cổ tử cung tiết ra các chất nhờn để
luôn làm trơn rãnh tử cung và bảo vệ cho tử cung. Cổ
tử cung là nơi rất thích hợp cho tinh trùng sống và tồn
tại.
+ Thân tử cung: là phần kế tiếp theo của cổ tử
cung, giáp với chỗ nối của 2 sừng tử cung. Thân tử
cung bò rất ngắn, chỉ là một ống dài 2-4 cm. Đây là
địa điểm phân chia tinh trùng vào 2 sừng tử cung.
+ Sừng tử cung:
Bò có hai sừng tử cung là 2 ống
hình tròn, thuôn cong theo dạng hình sừng cừu. Phần
đầu sừng tử cung tiếp giáp với thân tử cung tạo thành
rãnh giữa tử cung. Rãnh giữa tử cung dài 3-5 cm có
43
Buồng trứng có 2 chức năng: là nơi sản sinh ra
trứng (ngoại tiết) và tiết ra các hóc-môn tham gia điều
khiển chu kỳ sinh sản của bò cái (nội tiết).
2. Sự thành thục về tính
Thành thục sinh dục là thời điểm con vật bắt đầu
có các biểu hiện hoạt động sinh dục, có hiện tợng động
dục và rụng trứng. Tuổi xuất hiện tính dục ở bò tơ phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Các yếu tố quan trọng nhất
ảnh hởng đến tuổi thành thục về tính gồm có giống,
nuôi dỡng, chăm sóc, khí hậu, mùa vụ
Động dục lần đầu xuất hiện ở những con bò tơ
hớng sữa thờng sớm hơn so với những con thuộc
các giống hớng thịt. Bò sữa ôn đới có tuổi xuất hiện
động dục lần đầu tiên vào khoảng 10 tháng tuổi (4-18
tháng), sớm hơn so với các giống bò nhiệt đới (18-24
tháng tuổi).
Bò đợc nuôi dỡng tốt thờng cho động dục
sớm hơn so với những con đợc nuôi dỡng kém.
Sự hiện diện của những con bò cái trởng thành
khác và của bò đực trong đàn làm cho bò tơ xuất hiện
thành thục sinh dục sớm hơn.
45
Trong thực tế sự thành thục tính dục ở bò xuất
hiện sớm hơn rất nhiều so với thành thục về thể vóc.
Do vậy ngời ta không cho bò phối giống lúc mới
động dục lần đầu mà chỉ cho phối giống khi bò cái tơ
đã đạt đợc 2/3 khối lợng lúc trởng thành.
2. Chu kỳ động dục ở bò cái
Khi bò cái đã thành thục sinh dục các buồng
ậ
u đ
ộ
n
g
d
ụ
c
R
ụ
n
g
trứn
g
Hình 3-2: Các giai đoạn của chu kỳ động dục ở bò
a. Tiền động dục
Đây là giai đoạn diễn ra ngay trớc khi động dục.
Trong giai đoạn này đờng sinh dục tăng sinh, xung
huyết. Các tuyến sinh dục phụ tăng tiết dịch nhờn
trong suốt, khó đứt. Âm môn hơi bóng mọng. Cổ tử
cung hé mở. Bỏ ăn, hay kêu rống và đái rắt. Có nhiều
bò đực theo trên bãi chăn, nhng cha chịu đực.
b. Động dục (chịu đực)
Đây là một thời kỳ ngắn biểu hiện hiện tợng
48
ii. Phát hiện động dục và xác định
thời gian phối thích hợp
1. Các phơng pháp phát hiện động dục
Bò cái có chu kỳ động dục bình quân là 21 ngày.
Tuy nhiên, động dục ở bò chỉ xảy ra trong khoảng 6-
36 giờ, phổ biến là 18-24 giờ, nhng thời gian phối có
khả năng có chửa chỉ kéo dài 10-12 giờ. Do vậy việc
phát hiện động dục là vô cùng cần thiết.
Để phát hiện động dục ngời ta thờng áp dụng
một số phơng pháp sau:
a. Quan sát trực tiếp
Thờng xuyên theo dõi bò cái, cần theo dõi ít nhất
3 lần trong ngày:
- Trớc khi vắt sữa buổi sáng.
- Trớc khi vắt sữa buổi chiều.
- Trớc khi đi ngủ.
Nếu biết đợc ngày động dục lần trớc thì sau 18
ngày bắt đầu chú ý đặc biệt để phát hiện bò động dục.
Nếu có điều kiện, thả bò ra bãi chăn hoặc một khoảng
trống để quan sát các dấu hiệu động dục. Độ dài mỗi
lần quan sát phụ thuộc vào số lợng gia súc trong đàn
(thông thờng từ 15 đến 30 phút).
49
Có thể quan sát thấy các dấu hiệu động dục sau
đây:
- Âm hộ sng và ẩm ớt, niêm mạc đờng sinh
dục xung huyết và không dính.
nhẩy lên thì chúng không có phản xạ đứng yên
(khoảng 5% bò sữa đang chửa có biểu hiện động dục
với những hành vi nh nêu trên, nhng không xảy ra
rụng trứng).
b. Dùng bò đực thí tình
Dùng một bò đực đã đợc thắt ống dẫn tinh hoặc
mổ bắt chéo dơng vật sang bên (nên nó không làm
cho bò cái thụ thai) để phát hiện đợc con cái động
dục. Phơng pháp này tốt, tin cậy và cho hiệu quả cao.
51
Tuy nhiên, chỉ nên áp dụng trong chăn nuôi trang trại,
vì tốn kém do phải nuôi con bò đực thí tình.
Có thể dùng đực thí tình với chén sơn đánh dấu.
Bò đực thí tình đợc buộc một cái chén thủng đáy
đựng chất màu và sẽ bôi màu lên mông những bò cái
động dục mà nó đã nhảy. Tỉ lệ bò thí tình dùng trong
đàn bò cái cũng bằng với tỉ lệ bò đực đợc sử dụng
(4%).
c. Dùng các dụng cụ hỗ trợ phát hiện động dục
Trong điều kiện chăn nuôi quy mô lớn, đặc biệt
là bò đợc chăn thả tự do thì những dụng cụ sau đây
sẽ giúp dễ nhận biết bò động dục:
Chỉ thị màu: Đây là chất keo dính trên xốp
nhuộm màu gắn lên mông bò cái và có thể đổi màu
khi bò cái động dục đợc con khác nhảy nhiều lần.
Sơn đuôi: Bôi một lớp sơn ở cuống đuôi bò cái.
Lớp sơn này sẽ bị xoá khi bò cái động dục đợc những
con khác nhảy lên.
53
+ Nếu dẫn tinh cho bò có chửa sẽ dễ gây xảy
thai.
IIi. bò cái mang thai
1. Những biến đổi của cơ thể bò mẹ trong thời
gian mang thai
Quá trình mang thai bò diễn ra trong khoảng 280
ngày. Bò cái mang thai có một số biến đổi trong cơ thể
cần đợc chú ý nh sau:
- Khối lợng cơ thể tăng
Khối lợng bò tăng lên là do sự phát triển của
thai, đặc bịêt là giai đoạn có thai cuối cùng. Trong 2-
2,5 tháng cuối khối lợng của thai tăng 13-24 kg, tức
là bằng khoảng 2/3 đến 3/4 khối lợng bê sơ sinh.
Khối lợng bò mẹ tăng còn do sự phát triển của
tử cung và hệ thống nhau thai; mặt khác còn do trong
thời gian mang thai khả năng tích luỹ dinh dỡng của
bò mẹ tăng lên. Tuy nhiên, không nên để bò quá béo
trong giai đoạn này.
- Bò cái không động dục
Sau khi trứng rụng và thụ thai thì trên buồng
trứng thể vàng (một tuyến nội tiết) đợc hình thành và
tiết hóc-môn progesteron trong suốt thời gian mang
thai. Hóc-môn này có tác dụng ức chế rụng trứng, kích
54
thích sự phát triển của màng nhầy tử cung, giảm thấp
nhu động của cơ trơn để duy trì sự mang thai. Chính vì
thế hóc-môn này còn đợc gọi là hóc-môn an thai.
bê và ức chế quá trình đẻ, mà nên giảm hoặc cắt thức
ăn tinh, thức ăn nhiều nớc và các thức ăn kích thích
tiết sữa.
Iv. bò đẻ
1. Hiện tợng bò sắp đẻ
Lúc bò sắp đẻ có thể nhận biết đợc bởi sự thay
đổi của một số triệu chứng trên cơ thể con bò. Nhìn
bên ngoài, bầu vú trở nên cơng to và có thể phù nề.
Bò cao sản có thể có sữa đầu chảy ra. Những biểu hiện
này có thể xuất hiện vài ngày ở bò trởng thành hoặc
trong 1 2 tuần ở bò đẻ con so. Biểu hiện rõ nhất là
bụng sệ xuống, dây chằng mông-khum nhão gây hiện
tợng sụt mông (hai bên gốc đuôi sụt xuống). Âm
hộ sa xuống, sng mọng, niêm dịch chảy ra nhiều,
trong suốt. Đuôi thờng cong lên. Bò hay có hiện
tợng giữ gìn, tìm chỗ rộng rãi thoáng đãng hay chỗ
56
kín đáo để đứng nhằm tránh những con khác. Có hiện
tợng đứng nằm không yên, kèm theo rặn đẻ, càng
gần lúc đẻ thì tần số rặn càng tăng. Con vật hay đi tiểu
vặt, lng luôn luôn cong ở t thế rặn. Quá trình rặn đẻ
có thể kéo dài 30 phút đến 1 giờ. Thờng sau khi vỡ ối
1 giờ thì thai ra.
2. Quá trình đẻ
Quá trình đẻ đợc bắt đầu bằng hiện tợng mềm
và dãn cổ tử cung và tử cung bắt đầu co rút. Quá trình
đẻ kết thúc khi thai và nhau thai đợc đẩy ra ngoài.
Quá trình đẻ đợc chia ra 3 giai đoạn nh sau:
a. Thời kỳ mở cổ tử cung
thành bụng, cơ hoành thành một lực mạnh và đợc kéo
dài.
Đến thời kỳ này thai bắt đầu chuyển hớng để ra
ngoài. Trong thời gian chửa, thai bò nằm nghiêng một
bên bụng mẹ và khi đẻ chuyển một góc 90
O
để thành
thai ở t thế dọc sấp.
Bò rặn mỗi lần từ 80-100 giây, rặn một vài lần lại
nghỉ một lúc. Lực co bóp lúc đẻ này rất mạnh, khi rặn
đẻ con vật thờng nghiêng, bàn chân duỗi thẳng, lúc
nghỉ lại nằm phủ phục.
58
Tử cung co bóp liên tục dồn nớc ối ra nhiều,
thai cũng đợc đa ra nên áp lực trong bọc thai tăng
lên làm vỡ bọc ối. Nớc chảy ra ngoài gọi là nớc ối.
Sau khi vỡ ối sức rặn của gia súc càng mạnh đẩy
thai và màng thai qua đờng sinh dục.
Khi bắt đầu rặn đẻ, con vật lúc nằm xuống, lúc
lại đứng dậy, cũng có con chỉ nằm khi đầu thai đã lọt
ra ngoài âm hộ, một số con chỉ đứng. Bò thờng vỡ ối
ở ngoài âm hộ.
Trong giai đoạn sổ thai, đầu thai qua đờng sinh
dục khó khăn. Sau mỗi lần rặn đẻ thai đợc đa ra
ngoài một khoảng nhất định, khi ngừng cơn rặn thai
lại thụt vào trong một ít. Móng chân và đầu thai có thể
thấy thập thò ở cửa âm hộ vài lần rất rõ, sau vài lần đó
thai mới ra ngoài đợc. Trong lúc này cơn rặn của mẹ
rất khỏe, sau một cơn rặn thật mạnh, kêu rống lên, đầu
Khi thấy bò có triệu chứng sắp đẻ khẩn trơng
chuẩn bị dụng cụ đỡ đẻ, buồng đẻ và cũi bê. Dùng cỏ
khô sạch lót nền dày 3-5 cm. Để bò ở ngoài, dùng
nớc sạch pha thuốc tím 0,1% hay nớc muối 1% rửa
60
sạch toàn bộ phần thân sau của bò. Sau đó lau khô và
sát trùng bằng dung dịch crezin 1%. Dùng bông cồn
sát trùng bộ phận sinh dục bên ngoài (mép âm môn).
Sau đó cho bò vào buồng đẻ đã có chuẩn bị sẵn, có cỏ
và nớc uống đây đủ. Khi bò đẻ cần để bò yên tĩnh,
tránh ngời và bò khác qua lại.
Khi bò cái bắt đầu rặn đẻ, ngời đỡ đẻ có thể cho
tay vào đờng sinh dục kiểm tra chiều hớng t thế
của thai. Trong khi cho tay vào kiểm tra phải nhẹ
nhàng tránh làm rách màng thai làm cho nớc thai
chảy ra quá sớm. Thai trong t thế bình thờng thì để
cho gia súc mẹ tự đẻ. Nếu thai trong t thế không bình
thờng thì nên sửa sớm nh đẩy thai, xoay thai về t
thế chiều hớng bình thờng để cho gia súc mẹ sinh
đẻ đợc dễ dàng hơn. Trong lúc này rất dễ xoay thai vì
thai cha ra ngoài.
Trong lúc rặn đẻ của gia súc mẹ ở trờng hợp đẻ
bình thờng thì tuyệt đối không đợc lôi kéo thai quá
sớm, làm tổn thơng đờng sinh dục, làm sây sát và
rách niêm mạc đờng sinh dục. Trong trờng hợp gia
súc đẻ ngợc, phần bụng của thai đã ra ngoài thì việc
lôi thai lại rất cần thiết, càng sớm càng tốt, nếu chậm
thai có thể bị ngạt do uống phải nớc thai.
Khi môi đầu thai đã lọt ra ngoài mép âm môn
trùng cắt rốn cách thành bụng chừng 8-10cm và sát
trùng chỗ cắt rốn bằng cồn i-ốt 5%. Nếu cắt dây rốn
quá ngắn dễ bị viêm phúc mạc. Nếu cắt dây rốn quá
dài thì dễ bị nhiễm trùng vì dây rốn kéo lê dới nền
chuồng là cái kho để vi trùng c trú và xâm nhập vào.
Vì sau khi thai ra ngoài, mạch máu ở rốn đóng kín lại
một cách nhanh chóng cho nên khi xử lý cắt hoặc bấm
cuống rốn không phải cầm máu và nh vậy thì nơi đứt
rốn chóng khô, mau rụng rốn và phòng vi trùng xâm
nhập vào. Do đó dây rốn bê con kh ông cần thiết phải
thắt.
Cân bê trớc khi cho bú.
Đối với bò mẹ do mất nhiều nớc nên phải cho
uống nớc muối hay chính nớc ối của nó.
Rửa sạch phần thân sau của bò mẹ bằng nớc
sạch có pha thuốc tím 0,1% hay dùng crezin 1%.
Dùng cỏ khô xát mạnh lên cơ thể bò để đảm bảo cho
tuần hoàn lu thông. Không cho bò mẹ nằm nhiều đề
phòng bại liệt sau khi đẻ.
Kiểm tra sữa đầu, nếu sữa tốt thì cho bê bú trực
tiếp sữa đầu của chính mẹ nó, chậm nhất là 30-1 giờ
sau khi đẻ. Nếu bê không tự bú đợc mới vắt sữa đầu
cho bú bằng bình có núm vú cao su. Trờng hợp bò
mẹ không cho sữa đầu thì cho bê sơ sinh uống sữa đầu
63
nhân tạo hay uống sữa đầu của con mẹ khác mới đẻ
gần đó nhất.
Khi gia súc mẹ đã sổ nhau ra ngoài thì phải kiểm
tra thật kỹ xem nhau thai có bình thờng hay không.