Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài : Thực trạng và giải pháp đối với
tín dụng trung - dài hạn tại chi nhánh
Ngân Hàng No&PTNT Đông Hà Nội
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà
Nước đất nước ta ngày càng phát triển. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa đã giành được
những thành tựu to lớn như kiềm chế lạm phát, nhịp độ tăng trưởng về tổng sản
phẩm trong nước đã vượt kế hoạch đề ra, nước ta đã thoát khỏi khủng
hoảng…Bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta còn những mặt chưa làm
được như: Tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực, quản lý nhà nước về kinh tế còn
lỏng lẻo, chỉ số giá tiêu dùng tăng đột biến…Đảng và Nhà Nước ta đã xác định
nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới là tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nền kinh tế đất nước. Muốn vậy, chúng ta cần phải có nguồn vốn trung - dài
hạn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, trang bị kỹ thuật tiên
tiến, đồng thời có sự nâng cấp mở rộng sản xuất kinh doanh đối với các thành
phần kinh tế từ đó tạo đà cho sự phát triển. Có thể nói, chỉ có nguồn vốn trung -
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tín dụng trung - dài hạn và vai trò của tín dụng - trung dài
hạn
1.1.1. Khái niệm tín dụng trung – dài hạn
Tín dụng (credit), xuất phát từ tiếng Latinh là credo – là sự tin tưởng, sự
tín nhiệm và được định nghĩa dưới nhiều giác độ khác nhau:
- Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả.
- Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật
trên nguyên tắc có hoàn trả.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở
hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn
hơn lượng giá trị ban đầu.
- Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của
một tổ chức, cá nhân này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một thời
gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả.
Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng
bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay và
một bên là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi.
Đối với một ngân hàng thương mại, tín dụng là chức năng cơ bản của
ngân hàng, là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng. Tín dụng ngân
hàng được định nghĩa như sau:
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về
tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín
dụng và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh,
trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Tuy nhiên, với tín dụng trung hạn thường đầu tư theo chiều sâu, trong khi đó tín
dụng dài hạn tập trung cho các dự án đầu tư mở rộng.
- Tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng thương mại có thời gian hoàn
vốn chậm. Nguồn trả tiền vay cho ngân hàng chủ yếu được lấy từ quỹ khấu hao
và một phần từ lợi nhuận của chính dự án mang lại. Vì thế, khách chỉ có thể
hoàn trả khoản vay có quy mô lớn thành nhiều lần khác nhau – thời hạn cho vay
kéo dài trong nhiều năm.
- Tín dụng trung - dài hạn thường có thời gian kéo dài, quy mô tín dụng
thường lớn, nguy cơ rủi ro cao vì nền kinh tế quốc gia luôn biến động. Sự biến
động này có thể tích cực hoặc tiêu cực mà chúng ta không thể biết được. Do đó
mà môt khoản vay dài hạn thường đem lại nhiều rủi ro hơn là một khoản vay
ngắn hạn vì thời gian càng dài thì xác suất xảy ra những biến động này lớn hơn .
Mặt khác, lãi suất của cho vay trung - dài hạn thường lớn hơn lãi suất cho vay
ngắn hạn. Vì độ rủi ro cao hơn, thời gian thu hồi vốn lâu hơn.
1.1.3. Các hình thức tín dụng trung - dài hạn
1.1.3.1. Tín dụng theo dự án đầu tư
a. Cho vay đồng tài trợ ( Synđicate loan):
- Là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 tổ chức tín
dụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phói hợp với
các bên bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằn phân tán rủi ro của các tổ chức tín
dụng.
- Hình thức này được được áp dụng trong các trường hợp : Các dự án đầu tư
đòi hỏi một khoản vốn lớn mà các ngân hàng riêng lẻ thìo không đáp ứng hết được
ngân hàng thường chỉ được phép đầu tư vốn tới một mức độ nhất định so với tổng
nguồn vốn của mình và không được đầu tư qúa nhiều vốn vào một công ty để đảm
bảo an toàn vốn tài sản. Thậm chí đối với một vài dự án ngân hàng có thể đáp ứng
toàn bộ nhưng rủi ro quá lớn ngân hàng không muốn đảm nhận hết. Do vậy, cho
vay đồng tài trợ là một họat động tín dụng giúp ngân hàng phân tán rủi ro và có thể
sử dụng tối đa nguồn vốn của họ cho đầu tư vào các dự án dài hạn.
* Xét về lợi ích thì cả ngân hàng và khách hàng đều có lợi
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Đối với ngân hàng (bên cho thuê): đây là hình thức tài trợ bổ sung cho
các hình thức tài trợ khác đang tồn tại ở ngân hàng, nó giúp ngân hàng mở rộng
dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm mức độ rủi ro, đảm bảo nguyên tắc
vốn vay được sử dụng đúng mục đích.
- Đối với các doanh nghiệp : hình thức này có thể giúp các doanh nghiệp
có thể sử dụng vốn vay dưới dạng các máy móc, thiết bị mà không phải bỏ vốn
lớn, không ảnh hưởng tới bảng tổng kết tài sản và hạn mức tín dụng của doanh
nghiệp việc cấp tín dụng thuê mua thường nhanh chóng, từ đó cho phép đầu tư
khẩn cấp, đáp ứng được thời cơ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường, mặt khác phương thức thanh toán tiền thuê linh hoạt thích ứng với hoàn
cảnh và điều kiện sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và mỗi
cá nhân.
- Đối với các công ty nhỏ hoặc công ty không có uy tín : ngân hàng có thể
không chấp nhận cho vay dài hạn nhưng có thể cho hưởng tín dụng thuê mua.
Có thể nói, mô hình tín dụng thuê mua rất có ý nghĩa đối với nền kinh tế thị
trường, nhất là đối với nền kinh tế nhiều thành phần như ở Việt Nam hiện nay.
1.1.4. Vai trò của tín dụng trung - dài hạn trong nền kinh tế thị trường
1.1.4.1. Đối với nền kinh tế
Tín dụng có vai trò quan trọng trọng nền kinh tế, hoạt động tín dụng trung -
dài hạn nếu có hiệu quả sẽ có tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội.
Phát triển cho vay tín dụng trung - dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao
cấp từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản và giảm bớt thâm hụt ngân sách.
Xuất phát từ chức năng tập trung và phân phối lại vốn trong nền kinh tế tín dụng
trung - dài hạn đã thu hút được nguồn vốn dư thừa, tạm thời nhàn rỗi để đưa vào
sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, từ đó phục vụ cho
sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Mặt khác, trong qúa trình huy động vốn và cho vay cũng như tổ chức
Tín dụng trung - dài hạn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển
dịch cơ cấu đầu tư, làm cho cơ cấu của nền kinh tế trở lên hợp lý từ đó làm tiền
đề cho sự ổn định và trật tự an toàn xã hội.
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
1.1.4.2. Đối với doanh nghiệp
Trong môi trường kinh tế cạnh tranh, để có thể tồn tại và phát triển được
thì các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào tài sản cố định. Bởi lẽ tài sản
cố định là tư liệu chủ yếu, chiếm bộ phận lớn trong tổng giá thành, là yếu tố
quan trọng quyết định lợi thế cạnh tranh… Tuy nhiên, trong thực tế giá trị tài
sản cố định thường rất cao, nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì cần
phải mất rất nhiều thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và
sẽ bị tụt lại xa so với các doanh nghiệp có vốn đã trang bị hiện đại. Vì thế lối
thoát duy nhất cho doanh nghiệp là đi vay để đổi mới. Khi tìm kiếm các nguồn
vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp mong muốn có đựơc những khoản tín dụng
trung - dài hạn từ ngân hàng. Có người cho rằng cách tốt nhất để huy động vốn
là doanh nghiệp phát hàng cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn dài hạn. Chúng ta
không phủ nhận những mặt tích cực của thị truờng chứng khoán trong việc phục
vụ nhu cầu bổ sung vốn cho doanh nghiệp, nhưng hình thức này chỉ phát huy
hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán hoàn hảo.
thậm trí ở những nước này trong nhiều trường hợp doanh nghiệp có thể giảm bớt
những khoản chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán.
Đối với những khoản đi vay doanh nghiệp được chủ động điều hành các hoạt
động kinh doanh, tiến hành các dự án lớn mà không phải phân chia quyền lực
nếu lựa chọn việc tài trợ thông qua phát hành cổ phiếu, không phải đối phó với
các trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi khi doanh nghiệp không còn cần vốn nữa và
có ý muốn thu lại số cổ phiếu này. Mặt khác, việc trả nợ trung - dài hạn cũng
được ấn định theo định kỳ theo từng kỳ hạn hợp lý và ổn định.Vì vậy, doanh
nghiệp có cơ sở để thực hiện trách nhiệm trả nợ của họ.
Như vậy, tín dụng trung - dài hạn đã giúp các doanh nghiệp đầu tư xây
Trước hết, ta hiểu chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu của khách
hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng. Chất lượng tín dụng trung - dài hạn chính là vốn cho vay
trung - dài hạn của ngân hàng được khách hàng đưa vào quá trình sản xuất kinh
doanh dịch vụ … để tạo ra một số tiền lớn hơn thông qua đó ngân hàng sẽ thu
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
được cả gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời hạn, bù đắp được chi phí và có lợi
nhuận. Như vậy, qua một quá trình chu chuyển vốn, ngân hàng sẽ thu hồi vốn và
lãi cón khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả. Xét về tổng thể ngân hàng vừa tạo
ra được hiệu quả kinh tế vừa tạo ra được hiệu quả xã hội.
Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá, tín dụng đã có những đóng góp đáng kể
trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để đẩy mạnh tiến trình phát
triển của nền kinh tế. Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá, tín dụng đã có những
đóng góp đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để đẩy
mạnh tiến trình phát triển của xã hội. lịch sử đã chứng minh điều đó thông qua
sự ra đời và phát triển của xã hội loài người qua các hình thái kinh tế -xã hội.
Ngày nay cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín
dụng cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp thêm các phương tiện giao dịch
để đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng tăng trong xã hội. Trong điều kiện đó,
chất lượng tín dụng ngày càng được quan tâm bởi vì:
Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò
trung tâm thanh toán: khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay
vốn tín dụng, với một khối lượng tiền như cũ, có thể thực hiện số lần giao dịch
lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng
tiền.
Chất lượng tín dụng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng
trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia. Xuất phát từ chức năng tập trung và phân
phối lại vốn trong nền kinh tế, tín dụng trung - dài hạn đã thu hút những nguồn
vốn dư thừa, tạm thời nhàn rỗi để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp
tượng cần thiết, giảm thiểu và đi đến xoá bỏ nạn cho vay nặng lãi chủ yếu hiện
nay đang hoành hành ở nông thôn và các vùng xa xôi hẻo lánh.
Tín dụng nói chung và tín dụng trung - dài hạn nói riêng có mối quan hệ
mật thiết với nền kinh tế - xã hội, thiết lập một mối cơ chế chính sách đồng bộ,
có hiệu quả sẽ có tác động tích cực với mọi mặt của nền kinh tế - xã hội, điều đó
cũng có thể hiện chất lượng hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường.
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
1.2.1.2. Nâng cao chất lượng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát
triển của các ngân hàng thương mại
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch
vụ của các ngân hàng thương mại do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được
vòng quay vốn tín dụng và thu hút được nhiều khách hàng bởi các hình thức của
sản phẩm, dịch vụ tạo ra một hình ảnh về biểu tượng và uy tín của ngân hàng và
sự trung thành của khách hàng.
Chất lượng tín dụng trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng sinh lợi của sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi
phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay đã cho vay. Mặt
khác nó còn đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế
mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh, tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của
ngân hàng vì chất lượng tín dụng tốt tạo cho ngân hàng có nhiều khách hàng
trung thành và những khoản lợi nhuận để bổ xung vốn đầu tư. Bên cạnh đó,
chất lượng tín dụng tốt giúp ngân hàng củng cố các mối quan hệ xã hội bằng
những điều kiện tốt nhất.
Có thể nói, với những ưu thế trên, việc củng cố và tăng cường chất lượng
tín dụng trung - dài hạn của các ngân hàng thương mại là sự cần thiết khách
quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của các ngân hàng thương mại. Vì vậy,
chất lượng tín dụng luôn luôn đòi hỏi phải được nâng cao
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung - đài hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn =
Tổng dư nợ tín dụng trung – dài hạn
Đến kỳ hạn trả nợ và lãi tiền vay, nếu bên đi vay không đủ tiền để trả và
không được gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang nợ quá hạn. Nợ
quá hạn chính là điều mà ngân hàng không hề mong muốn nhưng nó không phải
là thước đo chuẩn để căn cứ vào đó đánh giá chất lượng tín dụng của món vay.
Trên thực tế, các ngân hàng luôn cố gắng tìm cách để hạ tỷ lệ nợ quá hạn tới
mức thấp nhất có thể được.
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Nợ quá hạn của tín dụng trung – dài hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ nợ quá hạn của trung - dài hạn chiếm bao
nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ này không có hoặc càng nhỏ
càng tốt.
- Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi:
Nợ quá hạn khó đòi của tín dụng trung – dài hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi =
Tổng dư nợ tín dụng trung – dài hạn
Nếu tỷ lệ này cao thì nó phản ánh rằng món cho vay của ngân hàng có
chất lượng rất thấp, hoạt động của ngân hàng không có hiệu quả và các chỉ tiêu
khác để đánh giá chất lượng tín dụng trung - dài hạn trở nên không có giá trị. Vì
vậy chỉ tiêu này không có hoặc càng thấp càng tốt.
- Chỉ tiêu lợi nhuận:
chứng tỏ nguồn vốn trung - dài hạn ngân hàng đã đầu tư hoạt động có hiệu quả.
Ngược lại, nếu vòng quay của vốn càng nhỏ thì việc thu nợ của ngân hàng là
kém và nguồn vốn trung - dài hạn mà ngân hàng đã đầu tư hoạt động kém hiệu
quả.
Như vậy khi xem xét đánh giá chất lượng tín dụng trung - dài hạn, ta
không thể căn cứ vào một chỉ tiêu cụ thể nào mà phải sử dụng tổng hợp một hệ
thống các chỉ tiêu để có thể đưa ra kết luận chính xác. Giữa chất lượng tốt và
chất lượng chưa tốt không phải lúc nào cũng rạch ròi mà có thể rất khó nhận ra.
Ngay cả khi ta sử dụng mọi chỉ tiêu thì ta cũng chưa thể đánh giá chính xác
được chất lượng cho vay vì chất lượng tín dụng vừa mang tính cụ thể vừa mang
tính trìu tượng. Sự trìu tượng, mơ hồ ở các dự án nhiều khi là rất lớn, đặc biệt
thể hiện trong các dự án cho vay vì mục tiêu xã hội hay theo định hướng phát
triển kinh tế của đất nước.
Tóm lại, các chỉ tiêu đánh giá, xem xét chất lượng tín dụng phải luôn
được xem xét phân tích thường xuyên cả hai mặt định tính và định lượng, cả về
lợi nhuận thuần tuý và lợi ích xã hội, cả trên quan điểm ngân hàng và khách
hàng. Thực hiện được điều này sẽ giúp cho bản thân các ngân hàng cũng như
khách hàng đánh giá được chất lượng tín dụng một cách chính xác đầy đủ nhất.
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Qua đó có thể giải quyết được những hạn chế, vướng mắc cũng như phát huy
được những ưu điểm để nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn, góp phần
thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung - dài
hạn
1.2.3.1. Những nhân tố khách quan
a. Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng đều tác động
tới chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nếu sự thay đổi theo chiều hướng tốt thì
chất lượng của các khoản tín dụng trung - dài hạn sẽ được nâng cao. Ngược lại,
trị - xã hội ở nước ngoài cũng có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung - dài
hạn bởi vì hiện nay các quan hệ kinh tế - xã hội ngày càng được mở rộng cho
nên các loại hình doanh nghiệp đa quốc gia cũng ngày càng tăng cả về số lượng
và quy mô hoạt động. Vì vậy, mọi biến động về kinh tế - xã hội ở nước ngoài
đều có ảnh hưởng tới tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và ảnh
hưởng tới chất lượng tín dụng trung - dài hạn.
c. Môi trường pháp lý
Pháp lý là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế thị trường có sự
điều tiết của nhà nước. Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với
những yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động của nền kinh tế
không thể trôi chảy được. Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trường pháp lý cho
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế
cao, là cơ sở để giải quyết khiếu nại khi có tranh chấp xảy ra. Môi trường pháp
lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêng và cho hoạt động của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung là một nhân tố rất quan trọng ảnh
hưởng tới khả năng phát sinh nợ quá hạn. Hệ thống pháp luật quốc gia với các
bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý sẽ không đảm
bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế, là nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên
các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng. Như vậy, pháp luật có vị trí hết sức quan
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
trọng đối với hoạt động ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng trung - dài
hạn nói riêng.
d. Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là kim chỉ nan đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi
đúng quỹ đạo, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của mọi ngân hàng.
Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều ngân hàng, đảm bảo
khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ
pháp luật, đường lối chính sách của nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội.
xảy ra rủi ro sẽ giảm đi đáng kể vì tính khả thi của dự án cũng đã được ngân
hàng thẩm định một cách kỹ càng trước khi ra quyết định cho vay. Nhưng việc
sử dụng vốn vay sai mục đích của khách hàng đã góp phần không nhỏ vào việc
đổ bể của các tổ chức tín dụng.
Chẳng hạn như sử dụng vốn vay đầu tư vào tài sản cố định, vào bất động
sản, sau đó các tài sản này bị sụt giá dẫn đến việc doanh nghiệp không trả được
nợ cho ngân hàng. Các doanh nghiệp còn chiếm dụng vốn lẫn nhau dẫn đến các
doanh nghiệp làm ăn nghiêm chỉnh gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng.
- Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng
Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc tính toán
triển khai dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong khoa học,
không thực hiện kỹ càng… Tuy nhiên trong một số trường hợp cho dù phương
án sản xuất kinh doanh của người đi vay đã được tính toán một cách chi tiết,
khoa học, chính xác đến mức tối đa thì công việc đầu tư vẫn luôn chứa đựng khả
năng xảy ra rủi ro do những thay đổi bất ngờ, ngoài ý muốn và bất khả kháng
của các điều kiện sản xuất kinh doanh, gây tác động xấu đến công việc làm ăn,
mang lại rủi ro cho doanh nghiệp. Ví dụ các thiệt hại doanh nghiệp phải gánh
chịu do sự biến động của thị trường cung cấp như: khi giá cả nguyên vật liệu
biến động tăng vọt làm tăng giá thành công xưởng của sản phẩm, nếu giá bán
của sản phẩm không thay đổi nó sẽ làm cho thu nhập tạo ra trên một sản phẩm
giảm, làm giảm tổng lợi nhuận được của cả dự án, ảnh hưởng xấu tới việc trả nợ
ngân hàng. Nếu đảm bảo thu nhập của mình, doanh nghiệp nâng giá bán của sản
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
phẩm lên thì điều này sẽ làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, khả năng
thu hồi vốn sản xuất bị chậm trễ, dễ dàng vi phạm việc trả nợ ngân hàng về mặt
thời hạn.
b. Về phía ngân hàng
Công tác thẩm định
thụ sản phẩm ở trong nước hay xuất khẩu:
. Nhu cầu của thị trường, dự báo mức độ gia tăng
. Sản phẩm có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường về cả khối lượng và
chất lượng.
. Đánh giá những sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của dự án
trong tương lai, độ bền của nhu cầu sử dụng của sản phẩm thay thế.
. Khả năng đáp ứng các nguồn cung cấp đầu vào: tính ổn định và tính
thường xuyên của nguồn cung ứng.
+ Căn cứ vào khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về sản phẩm:
. Ưu thế tương đối của sản phẩm do dự án sản xuất về: giá thành, chất
lượng, mẫu mã, điều kiện lưu thông và tiêu thụ.
. Khả năng và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ thị trường về sản
phẩm, kênh phân phối, khả năng nắm bắt thông tin.
. Những con số cụ thể về khả năng tiêu thụ sản phẩm trong quá khứ và
tương lai.
- Thẩm định về phương diện kỹ thuật:
+ Xem xét việc lựa chọn địa điểm và mặt bằng xây dựng dự án, việc lựa
chọn hình thức đầu tư và công suất của dự án.
+ Khai thác tiềm năng sẵn có và lâu dài, có khả năng đáp ứng được nhu
cầu cần thiết, tối ưu hoá hiệu quả của dự án.
+ Nhu cầu về dây chuyền công nghệ và lựa cho thiết bị máy móc, khả
năng tìm kiếm, lựa chọn công nghệ thích hợp, kiểm tra tính pháp lý của
hợp đồng chuyển giao công nghệ.
+ Thẩm định tiến độ thực hiện của dự án.
- Thẩm định về phương diện tổ chức:
Trêng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
+ Xem xét cơ cấu tài chính: vấn đề về quyền lợi và trách nhiệm được kết
nối như thế nào.
+ Năng lực tài chính, quản lý của nhóm điều hành, của nhân viên: có
năm của dự án
Doanh thu thuần = Doanh thu toàn bộ - Thuế VAT
Lãi thuần
Tỷ suất lợi nhuận =
Tổng vốn đầu tư
* 100
Nếu tỷ suất lợi nhuận của dự án > lãi suất tiền gửi thì nên đầu tư
+ Thời gian hoàn vốn: là số năm mà dự án cần thiết phải hoạt động để
tổng số lợi nhuận và khấu hao thu được bù đắp số vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.
Vốn đầu tư
Thời gian hoàn vốn =
(Lợi nhuận + khấu hao) Bình quân một năm
Thời gian hoàn vốn phản ánh hiệu quả của đầu tư, thời gian hoàn vốn
càng nhanh thì hiệu quả đầu tư càng có hiệu quả.
+ Giá trị hiện tại ròng (NPV): cho ta biết quy mô của thu nhập từ dự án
trong suốt quá trình hoạt động từ khi khởi đầu cho đến khi kết thúc.
NPV =
i
n
i
i
n
i
r
Ci