Tài liệu Giáo trình Táo Bón: Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và triệu chứng báo động nguy hiểm doc - Pdf 98

Táo Bón: Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và triệu
chứng báo động nguy hiểm

Táo bón là một triệu chứng rất thường gặp gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng
sống. Bài viết sau đây sẽ xin đề cập đến những vấn đề như: những ai thường có nguy
cơ táo bón, nguyên nhân của táo bón, chẩn đoán và cách điều trị đồng thời cảnh báo
những triệu chứng báo động nguy hiểm.
Được xem là táo bón khi đi tiêu ít hơn 3 lần mỗi tuần. Khi bị táo bón, phân
thường cứng, khô, nhỏ và khó tống xuất ra ngoài. Người bệnh cảm thấy đau khi đi tiêu
và thường phải rặn nhiều, có cảm giác đầy bụng. Một số người nghĩ rằng mình bị táo
bón khi không đi tiêu mỗi ngày. Tuy nhiên vấn đề bài tiết phân 3 lần mỗi ngày hoặc 3
lần mỗi tuần còn tuỳ thuộc ở từng người.
Táo bón là một triệu chứng, không phải một bệnh. Hầu như ai cũng từng bị táo
bón vào một thời điểm nào đó trong đời và chế độ ăn thiếu sót là nguyên nhân điển
hình nhất. Hiểu được nguyên nhân, cách phòng tránh và phương pháp điều trị sẽ giúp
đa số bệnh nhân có được sự thuyên giảm.

H1-Ống tiêu hoá thấp gồm có: Ruột non, hồi tràng, đại tràng, đại tràng sigma,
trực tràng, hậu môn.
I- Ai hay bị táo bón?
Táo bón là một trong những than phiền về tiêu hoá thường gặp nhất ở người.
Hơn 4 triệu dân Mỹ thường xuyên bị táo bón, với khoảng 2.5 triệu lượt khám bệnh
mỗi năm. Đa số thường là phụ nữ và người từ 65 tuổi trở lên. Phụ nữ có thai thường bị
táo bón và đây cũng là vấn đề hay gặp sau khi sanh hoặc sau phẫu thuật.
Đa số bệnh nhân thường tự giải quyết bằng cách mua các loại thuốc nhuận
trường bán tự do (OTC) về sử dụng. Ở Mỹ khoảng 725 triệu đô la được dùng để mua
các loại thuốc nhuận trường mỗi năm.

II- Nguyên nhân táo bón?
Để hiểu được chứng táo bón, cần phải biết rõ đại tràng hoạt động ra sao. Khi
thức ăn đi qua đại tràng, nước được hấp thu lại và các chất cặn bã trở thành phân. Các

Hiệp Hội Dinh Dưỡng Mỹ khuyên nên ăn khoảng 20 đến 35 gram chất xơ mỗi
ngày. Cả người lớn lẫn trẻ em thường ăn nhiều thức ăn tinh chế sẵn mà chất xơ thiên
nhiên đã bị loại bỏ.
Chế độ ăn ít chất xơ cũng góp phần gây táo bón ở người có tuổi. Họ thường
thiếu hứng thú trong vấn đề ăn uống và có khuynh hướng chọn những thức ăn dễ mua
và dễ chế biến như thức ăn nhanh hoặc thực phẩm chế biến sẵn thường chứa ít chất xơ.
Ngoài ra những trở ngại trong nhai và nuốt khiến người cao tuổi có khuynh hướng ăn
những thức ăn mềm, được chế biến sẵn, ít chất xơ. H3-Các thực phẩm chứa chất xơ hoà tan (T) và không hoà tan (P)

Thiếu chất lỏng
Nghiên cứu cho thấy không phải cứ tăng lượng chất lỏng trong khẩu phần là sẽ
bớt được táo bón, nhưng nhiều người cho biết khi họ uống nhiều nước hoặc nước trái
cây để chống mất nước thì sẽ bớt táo bón. Chất lỏng bổ sung nước cho đại tràng và
chất độn cho phân, giúp phân mềm và dễ di chuyển hơn. Người bị táo bón nên uống
nhiều chất lỏng mỗi ngày. Tuy nhiên, những chất lỏng có chứa caffeine, như cafê và
các loại nước giải khát cola sẽ khiến táo bón nặng hơn vì làm tăng mất nước. Một loại
thức uống khác gây mất nước là rượu. Khi uống cafê hoặc rượu luôn nhớ uống tăng
cường thêm nước để tránh táo bón.

H4-Nước bị tái hấp thu khiến phân cứng trong lòng đại tràng

Ít vận động thể lực
Ít vận động thể lực sẽ dẫn đến táo bón, tuy chưa rõ cơ chế. Táo bón thường xảy
ra sau tai nạn hoặc khi bịnh nặng cần nằm giường lâu. Thiếu vận động thể lực được
xem là một trong những nguyên nhân gây táo bón ở người cao tuổi.
Thuốc men
Một số thuốc có thể gây nên táo bón như:

năng gây táo bón bao gồm.
Rối loạn thần kinh
-Đa xơ hoá (multiple sclerosis)
-Bệnh Parkinson
-Giả tắc ruột mãn vô căn (chronic idiopathic intestinal pseudo-obstruction)
-Đột quỵ
-Tổn thương tuỷ sống
Các rối loạn về chuyển hoá và nội tiết
-Đái tháo đường
-Tăng urê máu
-Tăng calcium máu
-Rối loạn dung nạp glucose
-Suy giáp
Các bệnh hệ thống
-Thoái hoá tinh bột (amyloidosis)
-Lupus
-Xơ cứng bì (scleroderma)
Những vấn đề ở đại tràng và trực tràng
Tắc ruột, mô sẹo còn gọi là dây dính, túi thừa, u bướu, hẹp đại trực tràng, bịnh
Hirschsprung, hoặc ung thư có thể chèn ép, siết chặt, làm hẹp lòng đại tràng và trực
tràng gây nên táo bón.

H6-Bệnh Hirschsprung (phình đại tràng) ở trẻ em.

Những vấn đề của chức năng ruột
Có 2 thể táo bón là táo bón vô căn và táo bón chức năng. Hội chứng ruột kích
thích (IBS) với táo bón là triệu chứng chủ yếu được phân loại riêng.
- Táo bón vô căn (không rõ nguyên nhân):
không đáp ứng với điều trị tiêu chuẩn.
- Táo bón chức năng:

đây trong ít nhất 12 tuần không cần thiết phải liên tục trong thời 12 tháng gần đây:
-rặn nhiều khi đi tiêu
-phân đóng cục và cứng
-cảm giác đi tiêu không hết phân
-cảm giác nghẽn tắc ở vùng hậu môn trực tràng
-đi tiêu ít hơn 3 lần trong một tuần
Khám lâm sàng
Khám lâm sàng bao gồm thăm trực tràng bằng ngón tay đeo găng bôi trơn để
đánh giá trương lực cơ vòng hậu môn, phát hiện điểm đau, tắc nghẽn, hoặc xem có
máu hay không. Trong một số trường hợp cần xét nghiệm máu và chức năng tuyến
giáp để phát hiện bệnh lý tuyến giáp và loại trừ các phản ứng viêm, các rối loạn
chuyển hoá và rối loạn khác.
Các xét nghiệm chuyên sâu thường dành cho những trường hợp nặng, khi có
thay đổi đột ngột về số lần đi tiêu, có máu trong phân, và ở những người cao tuổi. Các
xét nghiệm bổ sung dùng để đánh giá táo bón bao gồm
-nghiên cứu chuyển động thức ăn qua đại trực tràng
-xét nghiệm chức năng hậu môn trực tràng
-chụp động tác tống xuất phân
Do có tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng ở người cao tuổi, bác sĩ có thể dùng
những xét nghiệm sau để loại trừ ung thư:
-Chụp đại tràng có cản quang
-Nội soi đại tràng sigma hoặc nội soi đại tràng
-Nghiên cứu sự chuyển động của thức ăn qua đại trực tràng (Colorectal transit
study).
Xét nghiệm này quan sát sự vận động của thức ăn qua đại tràng. Bệnh nhân
nuốt viên nang có chứa chất cản tia X-quang. Chuyển động của viên nang cản quang
trong đại tràng sẽ được theo dõi bằng phim X-quang bụng chụp nhiều lần trong 3-7
ngày sau khi nuốt viên nang. Bệnh nhân được khuyên áp dụng chế độ ăn nhiều chất xơ
khi thực hiện xét nghiệm này.
-Kiểm tra chức năng hậu môn trực tràng.

-Soi đại tràng sigma hoặc nội soi đại tràng.
Bệnh nhân ăn lỏng đêm trước nội soi. Cần rửa ruột 1 giờ trước khi tiến hành nội
soi. Để nội soi đại tràng sigma, bác sĩ dùng một ống dài, mềm có gắn camera và nguồn
sáng ở đầu gọi là ống nội soi đại tràng sigma để quan sát trực tràng và đại tràng thấp.
Bệnh nhân có thể được gây mê nhẹ trước khi nội soi. Trước tiên bác sĩ kiểm tra trực
tràng bằng ngón tay đeo găng có bôi trơn. Sau đó ống nội soi được đưa vào hậu môn
để quan sát trực tràng và đại tràng thấp (đại tràng sigma). Kỹ thuật này có thể gây tức
bụng và cảm giác muốn đi tiêu. Bác sĩ có thể bơm không khí vào đại tràng để quan sát
rõ hơn. Không khí bơm vào đôi khi gây đau quặn bụng.
Để nội soi đại tràng, bác sĩ dùng ống soi mềm có gắn camera và đèn chiếu sáng
để quan sát toàn bộ đại tràng. Ống này dài hơn ống soi đại tràng sigma. Trong lúc soi,
bệnh nhân nằm nghiêng và bác sĩ sẽ đưa ống nội soi vào hậu môn lên trực tràng và
quan sát toàn bộ đại tràng. Nếu thấy bất thường, bác sĩ sẽ dùng ống nội soi để kẹp một
mẫu mô nhỏ làm sinh thiết. Bệnh nhân có thể cảm thấy đầy và đau quặn bụng sau thủ
thuật nội soi.
IV- Điều trị táo bón ra sao?
Trong đa số trường hợp, các thay đổi về chế độ ăn và lối sống sẽ giảm bớt và
ngăn ngừa triệu chứng táo bón tái phát.
Chế độ ăn
Khẩu phần đầy đủ chất xơ (20 đến 35 gram mỗi ngày) giúp phân mềm và có
khối lượng. Bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng có thể tư vấn về chế độ ăn phù hợp. Các
thực phẩm nhiều chất xơ bao gồm các loại đậu, gạo nguyên lức, trái cây tươi, rau củ
như măng tây, cải bắp, cà rốt v.v. Bịnh nhân táo bón nên hạn chế các thức ăn ít hoặc
không có chất xơ như kem, phô mai, thịt và thực phẩm chế biến sẵn.

H7-Thực phẩm bổ sung chất xơ
Thay đổi lối sống
Nên uống nhiều nước, nước quả và canh rau để không bị thiếu nước, nên tăng
cường vận động và dành thời gian nhất định để đi tiêu. Nên đi tiêu ngay khi có nhu
cầu, tránh nhịn.

các thuốc bán tự do có chứa phenolphthalein. Đa số các nhà sản xuất thuốc nhuận
trường đã thay thế hoặc có kế hoạch thay thế phenolphthalein bằng một chất an toàn
hơn.

H10-Thuốc nhuận trường kích thích

-Thuốc nhuận trường thẩm thấu
làm nước thấm ngược vào đại tràng khiến khiến đại căng ra. Nhóm thuốc này
có tác dụng tốt cho những trường hợp táo bón vô căn. Sản phẩm bao gồm Lactulose,
Macrogol 4000, Cephulac, Sorbitol, và Miralax. Cần kiểm tra cân bằng chất điện giải
khi dùng nhóm thuốc này cho những bịnh nhân bị đái tháo đường.
-Thuốc làm mềm phân làm phân mềm và ẩm ướt.
Thường được khuyên dùng sau khi sanh hoặc sau phẫu thuật. Thuốc bao gồm
Docusate sodium, Paraffin, Colace và Surfak. Các sản phẩm này được chỉ định cho
những bịnh nhân cần tránh rặn khi đi tiêu. Dùng nhóm thuốc này lâu dài có thể gây rối
loạn điện giải.
-Thuốc bôi trơn
làm phân như được bôi trơn và di chuyển dễ dàng hơn trong ruột. Thường sử
dụng các loại dầu vô cơ. Tên biệt dược là Fleet và Zymenol. Các chất bôi trơn kích
thích đi tiêu trong vòng 8 giờ sau khi uống.
-Các nhuận trường có muối (saline laxatives)
tác dụng tựa như miếng bọt biển hút nước vào đại tràng để cho khối phân trơn
mềm, dễ di chuyển. Biệt dược gồm Milk of Magnesia và Haley’s M-O. Nhuận trường
có muối được dùng để điều trị táo bón cấp khi không có biểu hiện của tắc ruột. Đã
thấy xảy ra rối loạn điện giải khi dùng kéo dài, đặc biệt ở trẻ nhỏ và những bệnh nhân
suy thận.
-Các chất kích hoạt kênh chlorua (chloride channel activators)
tăng cường nhu động và lượng dịch trong ruột để giúp phân di chuyển dễ dàng,
giảm triệu chứng táo bón. Một trong những thuốc đó là Amitiza (lubiprostone), được
đánh giá là vẫn an toàn sau khi sử dụng từ 6-12 tháng.Sau thời gian đó, bác sĩ nên

phần niêm mạc bị sa khi có sa trực tràng nặng và mãn tính.

H12-Táo bón mãn tính: dãn lớn trực tràng
Táo bón còn có thể gây phân đóng khối (fecal impaction) trong đại tràng và trực
tràng, chặt đến nỗi sự co bóp của đại tràng không đủ sức để tống xuất phân. Tình trạng
phân đóng khối này thường gặp ở trẻ em và người cao tuổi. Khối phân sẽ được làm
mềm bằng dầu vô cơ (paraffine) dùng đường uống hoặc bơm thụt đại tràng. Sau khi
làm mềm khối phân đóng cứng, bác sĩ sẽ dùng một hoặc 2 ngón tay đút vào hậu môn
làm vỡ khối phân và móc ra ngoài.
VI- Những điểm cần ghi nhớ
- Táo bón có thể xảy ra với mọi người vào một lúc nào đó trong đời.
- Nhiều người cứ nghĩ rằng mình bị táo bón, dù thực tế, hoạt động bài tiết của
họ vẫn bình thường.
- Nguyên nhân gây táo bón thường gặp nhất là chế độ ăn mất cân đối và ít vận
động thể lực.
- Những nguyên nhân khác gây táo bón bao gồm thuốc men, hội chứng ruột
kích thích, lạm dụng thuốc nhuận trường, và một số bịnh lý đặc biệt khác.
- Chỉ với bệnh sử và thăm khám lâm sàng là đã có thể chẩn đoán và điều trị táo
bón trong đa số các trường hợp.
- Thường thì những điều sau đây sẽ giúp giảm triệu chứng và đề phòng táo bón
tái phát:
+ Chế độ ăn cân đối, nhiều chất xơ gồm các loại đậu, khoai, gạo lức, rau quả
tươi.
+ Uống nhiều nước.
+ Tập luyện đều đặn.
+ Đi tiêu đúng giờ trong ngày.
+ Tránh nhịn đi tiêu khi có nhu cầu.
- Nhận thức rằng thói quen bình thường của ruột có thể thay đổi tuỳ theo từng
người.
- Khám bệnh ngay khi có thay đổi thói quen của ruột.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status