Tài liệu Bài giảng Lác và liệt vận nhãn - Pdf 99

H ọ c v i ệ n q u â n y
Bộ môn mắt

Lác và liệt vận nhãn
Tiến sĩ Nguyễn Văn Đàm Năm học 2004 - 2005
Mục lục


8.1. Chỉnh kính
8.2. Điều trị nhược thị
8.3. Điều trị bằng thuốc
8.4. Điều trị bằng phẫu thuật

Bệnh lác mắt

I. đại cương
Lác mắt là sự lệch trục nhìn của mắt, thường kèm theo rối loạn thị giác 2 mắt.
Lác mắt là một bệnh khá phổ biến. Lác được chia thành 2 loại chính:
Lác đồng hành (concomitant strabismus) hoặc lác cơ năng: trong đó mắt lác luôn
luôn di chuyển cùng hướng với mắt lành do đó góc lác không thay đổi ở mọi hướng
nhìn. Trong lác đồng hành, sự lệch trục thị giác gây ra những rối loạn thị giác 2 mắt.
Lác đồng hành thường gặp ở trẻ em, tỉ lệ thường được nêu lên là 5% - 7%.
Lác liệt (paralytic strabismus) hoặc lác bất đồng hành (incomitant strabismus)
trong đó cơ vận nhãn bị liệt gây ra hạn chế vận động của nhãn cầu và góc lác không
bằng nhau ở các hướng nhìn. Lác liệt thường gặp ở người lớn.
Lác mắt có thể do nhiều nguyên nhân:
- Nhược thị thực thể: đục thể thuỷ tinh, ung thư võng mạc, bệnh toxoplasma, lệch
khúc xạ 2 mắt.
- Tật khúc xạ: Cận thị nặng, viễn thị làm tăng tỉ số AC/A.

. Khi nhãn cầu ở tư thế
nguyên phát (nhìn thẳng phía trước mặt) thì trục nhãn cầu và trục hốc mắt tạo thành
một góc 23
0
(Hình 3). Tác dụng của các cơ ngoại nhãn phụ thuộc vị trí của nhãn cầu
tại thời điểm đó.
Nhãn cầu chuyển động theo 3 trục Fick của mặt phẳng Listing (mặt phẳng tưởng
tượng đi qua tâm xoay của nhãn cầu) (Hình 4):
- Quay sang phải hoặc quay sang trái quanh trục Z (trục dọc)
- Quay lên trên hoặc quay xuống dưới quanh trục X (trục ngang)
- Xoáy ra ngoài hoặc xoáy vào trong quanh trục Y (trục trước sau)
Hình 3: Giải phẫu các cơ ngoại nhãn. Hình 4: Mặt phẳng Listing
3.1. Chức năng của các cơ ngoại nhãn (Bảng 1).
* Cơ thẳng trong: chỉ có tác dụng đưa nhãn cầu vào trong
* Cơ thẳng ngoài: chỉ có tác dụng đưa nhãn cầu ra ngoài
Bảng 1 - Tác dụng của các cơ ngoại nhãn
Cơ Tác dụng chính Tác dụng phụ
Thẳng ngoài Đưa ra ngoài Không
Thẳng trong Đưa vào trong Không
Thẳng trên Đưa lên trên Xoáy vào trong, đưa vào trong
Thẳng dưới Đưa xuống dưới Xoáy ra ngoài, đưa vào trong
Chéo lớn Xoáy vào trong Đưa xuống dưới, đưa ra ngoài
Chéo bé Xoáy ra ngoài Đưa lên trên, đưa ra ngoài

* Cơ thẳng trên (Hình 5):
Khi mắt ở vị trí nguyên phát: tác dụng chính của cơ là đưa nhãn cầu lên trên, tác
dụng phụ là đưa nhãn cầu vào trong và xoáy vào.

thì trục nhãn cầu trùng với trục cơ. ở vị trí này, cơ chỉ
còn tác dụng đưa mắt xuống dưới. Đây là vị trí tốt nhất để đánh giá chức năng của cơ
chéo lớn.
Khi mắt đưa ra ngoài 39
0
thì trục nhãn cầu và trục cơ tạo thành một góc 90
0
. Do
đó cơ chỉ còn tác dụng xoáy nhãn cầu vào trong.
Hình 5: Tác dụng của cơ thẳng trên mắt phải. Hình 6: Tác dụng của cơ chéo lớn mắt
phải.
* Cơ chéo bé:
Khi mắt ở vị trí nguyên phát: tác dụng chính của cơ là xoáy nhãn cầu ra ngoài, tác
dụng phụ là đưa nhãn cầu lên trên và ra ngoài.
Khi mắt đưa vào trong 51
0
thì trục nhãn cầu trung với trục cơ. ở vị trí này, cơ chỉ
còn tác dụng đưa nhãn cầu lên trên. Đây là vị trí để đánh giá chức năng của cơ chéo
bé.
Khi mắt đưa ra ngoài 39
0
thì trục nhãn cầu và trục cơ tạo thành một góc 90
0
.
Do đó, cơ chéo bé chỉ còn tác dụng xoáy nhãn cầu ra ngoài.
3.2. Các định luật vận nhãn
Trong vận nhãn một mắt, cơ chủ vận (agonist) là cơ chính đưa nhãn cầu về một

mắt lác (ám điểm ức chế) trong điều kiện nhìn 2 mắt. Nếu lác thường xuyên ở một mắt
thì sự ức chế thị giác một mắt lâu dài ở trẻ nhỏ sẽ dẫn đến giảm thị lực ở mắt lác
(nhược thị). Nếu lác luân phiên 2 mắt thì có thể không có nhược thị.
4.2. Tương ứng võng mạc bất thường
ở mắt bình thường, các vùng võng mạc tương ứng của 2 mắt đều có chung một
thị hướng. Thí dụ 2 hoàng điểm có thị hướng trước mặt, vùng võng mạc phía mũi của
một mắt tương ứng với vùng võng mạc phía thái dương của mắt kia. Đó là tương ứng
võng mạc bình thường. Khi mắt lác, vùng võng mạc ngoại vi ngoài ám điểm ức chế sẽ
tương ứng với hoàng điểm của mắt lành và tạo ra một tương ứng võng mạc bất thường.
Tương ứng võng mạc bất thường là một cơ chế thích ứng tích cực của mắt để cho phép
bệnh nhân vẫn có thể hợp thị một phần. Tương ứng võng mạc bất thường hay có ở lác
độ nhỏ, ít gặp ở lác độ lớn (do 2 ảnh cách quá xa) và lác điều tiết (do độ lác thay đổi).
Tương ứng võng mạc bất thường có bất lợi là cản trở sự hồi phục thị giác 2 mắt
sau khi đã được phẫu thuật lác, vì thế sau mổ lác dễ bị tái phát.

4.3. Định thị ngoại tâm:
Trong những trường hợp nhược thị nặng, mắt sẽ sử dụng một vùng võng mạc
ngoại tâm để định thị thay cho hoàng điểm. Định thị ngoại tâm cũng là một yếu tố cản
trở sự hồi phục thị lực và sự cân bằng 2 mắt sau mổ.
4.4. Nhược thị (amblyopia):
Nhược thị là sự giảm thị lực tương đối ở một mắt hoặc 2 mắt. Người ta gọi là
nhược thị thực thể nếu là do tổn thương ở mắt hoặc ở đường thị giác và là nhược thị cơ
năng nếu không có nguyên nhân thực thể.
Những nguyên nhân chính của nhược thị bao gồm:
*. Bệnh lác: mắt bị ức chế kéo dài dẫn đến giảm thị lực.
*. Lệch khúc xạ 2 mắt: tương tác 2 mắt bất thường do ảnh võng mạc 2 mắt có độ
rõ nét khác nhau hoặc độ lớn khác nhau, hoặc do ức chế bên mắt có ảnh võng mạc mờ
hơn.
*. Mắt không được nhìn: xảy ra ở một mắt hoặc 2 mắt (thí dụ do dục thể thuỷ
tinh, sụp mi).

trừ hoàn toàn yếu tố điều tiết, ở trẻ nhỏ thường dùng atropin 0,5% tra 2 mắt liên tục
trong 3 đến 5 ngày (tuỳ theo tuổi của trẻ). Đối với trẻ lớn, có thể dùng cyclopentolat 1-
2%.
5.4. Khám cân bằng 2 mắt và đo góc lác
5.4.1. Các phương pháp dùng ánh phản quang trên giác mạc
a. Phương pháp Hirchberg
Bệnh nhân định thị vào một nguồn sáng đặt ngang tầm mắt và cách mắt khoảng
40cm. ở mắt bình thường, 2 chấm phản quang trên giác mạc sẽ cân đối ở trung tâm
đồng tử. Trong trường hợp lác, ánh phản quang ở mắt sẽ lệch khỏi trung tâm, mỗi
1mm độ lệch của ánh phản quang tương ứng 7
0
(hoặc 15Δ). ánh phản quang nằm ở bờ
đồng tử tương ứng 15
0
, ở rìa giác mạc tương ứng 45
0
, ở khoảng giữa bờ đồng tử và rìa
giác mạc tương ứng 30
0
(hình 7). Hình 7: Phương pháp Hirschberg
b. Phương pháp Krimsky
Bệnh nhân định thị vào một nguồn sáng. Lần lươt đặt các lăng kính công suất
tăng dần ở trước mắt lác đến khi 2 chấm phản quang trên giác mạc nằm đúng tâm đồng
tử. Công suất của lăng kính chính là góc lác (Hình 8).
Chú ý: Phương pháp đo góc lác khách quan trên không hoàn toàn chính xác, cần
phân biệt với giả lác.


c. Che mắt luân phiên (alternate cover test): cắt đứt cơ chế hợp thị để phát hiện lác ẩn
và lác thực sự. Che mắt phải vài giây, ngay sau đó chuyển sang che mắt trái vài giây
rồi lại trở lại che mắt phải. Mỗi khi bỏ che mắt thì quan sát chuyển động của mắt.
Bệnh nhân lác ẩn thì 2 mắt cân bằng trước và sau khi che mắt luân phiên, bệnh nhân có
lác thực sự thì sẽ xuất hiện lác sau khi che mắt luân phiên.
d. Che mắt kết hợp lăng kính: để đo chính xác độ lác
Đặt lăng kính trước một mắt, đáy lăng kính ngược hướng lác (đáy phía ngoài nếu
mắt lác trong). Trong khi làm khám nghiệm che mắt luân phiên, thay đổi các lăng kính
khác nhau đến khi mắt không còn động tác thì tính góc lác theo công suất lăng kính.
5.4.3. Các phương pháp dùng 2 ảnh khác nhau:
Các phương pháp này dựa vào đáp ứng của bệnh nhân đối với song thị tạo ra bởi
2 ảnh khác nhau.
a. Cánh Maddox (Maddox wing)
Cánh Maddox dùng để đo độ lác ẩn trong điều kiện nhìn gần. Khi khám, mắt phải
bệnh nhân chỉ thấy một mũi tên trắng nằm dọc và một mũi tên đỏ nằm ngang, mắt trái
chỉ thấy một cột số ngang và một cột số dọc (Hình 10).
- Đo độ lác ngang: hỏi bệnh nhân mũi tên trắng chỉ số nào
- Đo độ lác đứng: hỏi bệnh nhân mũi tên đỏ chỉ số nào
- Đo độ lác xoáy: yêu cầu bệnh nhân xoay cho mũi tên đỏ song song với dãy số
ngang. Hình 10: Cánh Maddox
b. Đũa Maddox (Maddox rod)
Đũa Maddox có dạng một mắt kính gồm nhiều kính trụ màu đỏ ghép với nhau.
Khi nhìn qua đũa Maddox, một nguồn sáng tròn sẽ trở thành một đường thẳng màu đỏ
có hướng vuông góc với trục của đũa Maddox.
Bệnh nhân định thị vào một đèn tròn. Đặt đũa Maddox trước mắt phải, lúc này
mắt phải sẽ thấy một đường thẳng màu đỏ và mắt trái thấy một điểm sáng. Nếu mắt
không lác thì điểm sáng sẽ nằm trên đường thẳng màu đỏ. Khi đặt cho trục đũa

Hình 11: Khám bằng kính sọc Bagolini
- 2 đường thẳng cắt nhau dạng chữ thập (Hình 11a): mắt không lác hoặc tương
ứng võng mạc bất thường (nếu có lác).
- 2 đường thẳng không tạo thành chữ thập (Hình 11b): có song thị.
- Chỉ thấy 1 đường thẳng (Hình 11c): không có thị giác 2 mắt.
- Có một khoảng trống ở một trong 2 đường thẳng (Hình 11d): ám điểm trung
tâm.
5.5.3. Khám hậu ảnh
Khám hậu ảnh cho biết thị hướng của 2 hoàng điểm. Kích thích hoàng điểm một
mặt bằng một chớp sáng thẳng dọc và hoàng điểm mắt kia bằng một chớp sáng thẳng
ngang. Sau đó yêu cầu bệnh nhân vẽ lại hình ảnh thấy được:
- Nếu 2 đường có dạng chữ thập: tương ứng võng mạc bình thường (Hình 12a).
- 2 đường không tạo thành chữ thập: tương ứng võng mạc bất thường. ở người lác
trong có tương ứng võng mạc bất thường thì đường ngang (của mắt phải) nằm bên trái
của đường dọc (Hình 12b). ở người lác ngoài thì ngược lại (Hình 12c). Hình 12: Hậu ảnh

5.5.4. Khám phù thị
Ngoài phương pháp khám bằng synoptophore, có thể dùng một số loại bảng để
khám phù thị.
Bảng Titmus có 2 trang. Một trang có hình con ruồi, trang kia có những vòng
tròn và hình các con vật. Bệnh nhân nhìn qua kính polaroid sẽ thấy được hình nổi. Kết
quả bình thường là dưới 60 giây cung.
n 0
Δ
−Δ

Trong đó: PD = khoảng cách đồng tử (đơn vị cm)
Δn = độ lác nhìn gần (đơn vị điốp lăng kính)
Δ0 = độ lác nhìn xa (đơn vị điốp lăng kính)
D = số điốp điều tiết
Phương pháp gradient: có 2 cách
- Cách thứ nhất (kích thích điều tiết): bệnh nhân định thị vật ở cách 6m, đo lác ẩn,
sau đó đặt trước cả 2 mắt một kính cầu -1 D và đo lại độ lác ẩn gây ra. Hiệu của 2 độ
lác là tỉ số AC/A.
Cách thứ hai (làm giãn điều tiết): bệnh nhân định thị cách 0,33m, đo độ lác ẩn,
sau đó thêm kính cầu + 3D và đo lại độ lác ẩn. Hiệu của 2 độ lác chia cho 3 là tỉ số
AC/C.

5.6.4. Đo điểm cận quy tụ
Cận điểm qui tụ là điểm gần nhất mà 2 mắt còn duy trì được định thị. Dùng một
thước kẻ tựa trên má bệnh nhân, di chuyển một vật tiêu từ xa vào gần cho đến khi thấy
2 mắt không còn qui tụ được nữa (điểm cận qui tụ khách quan) hoặc khi bệnh nhân
thấy song thị (điểm cận qui tụ chủ quan). Khoảng cách bình thường là dưới 10cm.
5.6.5. Đo điểm cận điều tiết
Là điểm gần nhất mà bệnh nhân còn nhìn được rõ. Để bệnh nhân đọc một dòng
chữ thử và đưa lại gần mắt cho đến khi chữ nhoè đi và đọc khoảng cách trên thước kẻ.
5.6.6. Đo biên độ hợp thị: bằng lăng kính hoặc synoptophore.
5.7. Khám định thị
Khám định thị để xác định xem ảnh rơi vào vùng nào của võng mạc. Bệnh nhân
nhìn vào một sao nhỏ của máy visuscope (hoặc có thể dùng vòng sáng nhỏ nhất của
máy soi đáy mắt trực tiếp. Người khám quan sát vị trí của hình sao hoặc vòng sáng
trên võng mạc để xác định kiểu định thị (Hình 16).

lồng, và bệnh nhân phải chỉnh máy để chim vào trong lồng. Nếu không thấy được 2
ảnh đồng thời thì có ức chế hoặc nhược thị nặng. Hình 17- Máy Synoptophore
* Hợp thị (fusion): là khả năng của 2 mắt có thể tạo ra một ảnh hợp nhất từ 2 ảnh
gần giống nhau nhưng mỗi ảnh thiếu một chi tiết nhỏ. Thí dụ 2 con thỏ giống nhau
nhưng một con không có đuôi còn con kia tay không có bó hoa. Bệnh nhân phải chỉnh
máy để được một con thỏ có đuôi và tay cầm hoa.
* Phù thị (stereopsis): là khả năng có được cảm giác về chiều sâu khi chập 2 ảnh
của cùng một vật được nhìn dưới 2 góc độ khác nhau. Thí dụ tạo được một hình ảnh 3
chiều của một cái xô đựng nước.
5.8.4. Phát hiện tương ứng võng mạc bất thường: Xem phần đo góc lác khách quan.
5.8.5. Đo biên độ hợp thị: dùng 2 hình hợp thị, đặt máy ở góc lác, di chuyển tay máy
từ từ về phía ngoài và phía trong cho đến khi xuất hiện song thị và đọc số đo trên máy.
VI. Các hình thái lác đồng hành.
6.1. Lác trong
6.1.1. Lác trong do điều tiết.
a/ Do tật khúc xạ: tỷ số AC/A bình thường, lác trong là do viễn thị nặng so với biên độ
hợp thị phân kỳ của mắt. Loại lác này thường xuất hiện ở trẻ từ 6 tháng đến 7 tuổi.
+ Điều tiết thuần tuý: dùng kính chỉnh viễn thị có thể làm hết hoàn toàn lác.
+ Điều tiết một phần: kính điều chỉnh viễn thị chỉ làm giảm góc lác.
b/ Không do tật khúc xạ : tỷ số AC/A cao nhưng tật khúc xạ không đáng kể. Gồm 2
loại:
+ Qui tụ quá mức: tỷ số AC/A cao là do tăng qui tụ điều tiết (AC). Điểm cận điều
tiết bình thường, nhìn xa không tác dụng nhưng khi nhìn gần thì xuất hiện lác trong.
+ Giảm điều tiết: tỷ số AC/A cao là do tăng điều tiết (A). Điểm cận điều tiết xa
hơn. Khi nhìn gần phải điều tiết nhiều hơn, dẫn đến qui tụ quá mức.
6.1.2. Lác trong không do điều tiết.
* Vi lác (microtropia) (còn gọi là hội chứng định thị một mắt). Đặc điểm chính là

6.2. Lác ngoài.
6.2.1. Lác ngoài từng lúc.
Đây là loại lác ngoài phổ biến nhất. Lác xuất hiện sớm (trước 5 tuổi), lúc có lác
lúc không lác, thường thấy lác vào những lúc mệt mỏi, thị giác kém tập trung. Ơ trẻ
em, khi nhìn xa góc lác thường lớn hơn khi nhìn gần. Có thể kèm theo lác đứng, hội
chứng chữ cái. Tiến triển có thể trở thành lác liên tục.
Lác ngoài từng lúc được chia thành 3 loại:
a/ Lác ngoài cơ bản: góc lác nhìn xa và góc lác nhìn gần bằng nhau.
b/ Phân kỳ quá mức: góc lác nhìn xa lớn hơn góc lác nhìn gần. Loại lác ngoài này
có thể có 2 dạng:
Phân kỳ quá mức thực sự: góc lác nhìn xa lớn hơn góc lác nhìn gần.
Phần kỳ quá mức giả tạo: lúc đầu góc lác nhìn xa lớn hơn góc lác nhìn gần,
nhưng lại bằng nhau khi bịt một mắt trong 30 - 45 phút (để cản trở hợp thị) hoặc khi
cho đeo một mắt kính + 3 D (để chống điều tiết).
c/ Quy tụ yếu: góc lác nhìn gần lớn hơn góc lác nhìn xa. Quy tụ thường suy giảm.
Có thể kèm theo cận thị.
6.2.2. Lác ngoài thường xuyên.
Lác ngoài thường xuyên hiếm gặp hơn lác ngoài từng lúc.
a/ Lác ngoài bẩm sinh: xuất hiện từ khi sinh ra hoặc trong 6 tháng đầu. Độ lác lớn
và không đổi, không có tật khúc xạ, có thể lác đứng phân li. Thường kèm theo tổn
thương thần kinh.
b/ Lác ngoài do tổn hại thị lực: gặp ở trẻ trên 5 tuổi hoặc người lớn, do các tổn
thương sẹo giác mạc, đục thể thuỷ tinh, teo thị thần kinh, tổn hại hoàng điểm, lệch
khúc xạ 2 mắt.
6.3. Lác đứng.
Lác đứng đơn thuần rất hiếm gặp mà thường kèm theo lác ngang. Lác được gọi là
lác đứng khi góc lác lớn hơn 10 Δ hoặc lớn hơn góc lác ngang.
Tuỳ theo vị trí của nhãn cầu mà người ta gọi là lác lên trên hay lác xuống dưới.
Trong lác đồng hành, loại lác đứng thường gặp nhất là do liệt cơ chéo lớn bẩm sinh.
Biểu hiện lâm sàng là tăng hoạt cơ chéo bé và hạn chế cơ chéo lớn, có thể kèm theo

ngoài hoặc đồng co của cả cơ thẳng trong và cơ thẳng ngoài.
Chỉ định điều trị trong những trường hợp có lác trong ở tư thế nguyên phát, vẹo
dầu, hoặc nhãn cầu thụt vào nhiều. Phẫu thuật thường dùng là lùi một hoặc nhiều cơ
thẳng, không nên rút ngắn cơ thẳng ngoài ở bên mắt bị bệnh vì sẽ làm cho nhãn cầu bị
thụt vào hơn.
6.4.2. Hội chứng Brown (hội chứng bao gân cơ chéo lớn)
Hội chứng Brown là một bệnh một mắt hoặc 2 mắt bẩm sinh hoặc mắc phải với
đặc điểm là 2 mắt cân bằng ở vị trí nguyên phát nhưng động tác đưa mắt lên trên và
vào trong bị hạn chế. Vận nhãn lên trên và ra ngoài còn bình thường. Không có tăng
hoạt cơ chéo lớn. Test kéo cơ cưỡng bức (đưa nhãn cầu lên trên trong) bị hạn chế. Đầu
thường bị nghiêng về bên mắt bị bệnh và cằm nâng lên. Nguyên nhân là do tổn thương
hoặc viêm xơ dính của gân cơ chéo lớn hoặc ở ròng rọc cơ, dẫn đến hạn chế hoạt động
của cơ. Cần phân biệt với
(1) liệt cơ chéo bé: có lác đứng ở tư thế nguyên phát và tăng hoạt chéo lớn.
(2) liệt nhìn lên ở một mắt (monocular elevation deficit): vận nhãn lên trên bị hạn
chế ở mọi hướng.
Điều trị: Phẫu thuật giải quyết nguyên nhân gây hạn chế hoạt động cơ ở các vị trí
gân cơ và ròng rọc hoặc cắt gân cơ chéo lớn.
6.4.3. Hội chúng Mobius.
Đây là một hội chứng hiếm gặp. Tổn thương ở mắt bao gồm: liệt dây thần kinh
VI cả 2 bên gây ra lác trong (50% các trường hợp) và liệt động tác nhìn ngang. Ngoài
ra còn có những tổn thương khác: liệt thần kinh VII tạo ra bộ mặt vô cảm và nhắm
không kín, liệt thần kinh XII gây teo lưỡi. Điều trị bằng phẫu thuật: lùi cơ thẳng trong
kèm theo rút ngắn cơ thẳng ngoài ở cả 2 mắt.
6.4.4. Các hội chứng xơ hoá.
Xơ hoá 2 cơ thẳng trong (gây ra lác trong cố định), 2 cơ thẳng ngoài (gây ra lác
ngoài cố định), hoặc xơ hoá nhiều cơ nhất là các cơ đưa mắt lên trên làm cho mắt
không thể đưa lên trên ở mọi hướng.
6.5. Lác ẩn.
Lác ẩn (heterophoria) là trạng thái lệch trục nhãn cầu được duy trì tiềm tàng nhờ

forceps.
b/ Mắc phải: đái tháo đường, bệnh xơ cứng rải rác, u nội sọ, xơ cứng động mạch,
đột quị, bệnh AIDS, chấn thương (hốc mắt, sọ não, phẫu thuật).
7.1.2. Theo vị trí tổn thương.
a/ Tổn thương thần kinh
- Tổn thương dây thần kinh (liệt dưới nhân): liệt các dây thần kinh III, IV, hoặc
VI dẫn đến liệt vận nhãn 1 hoặc 2 mắt.
- Tổn thương nhân vận nhãn: thường liệt các cơ vận nhãn ở cả 2 mắt.
- Tổn thương trung tâm vận nhãn (liệt trên nhân): liệt động tác nhìn ngang hoặc
liệt động tác nhìn đứng.
- Tổn thưong các sợi thần kinh liên kết 2 nhân (liệt gian nhân): do một tổn thương
bó dọc giữa.
b/ Tổn thương cơ: Bệnh Basedow, bệnh nhược cơ, liệt mắt ngoại lai tuần tiến
mạn tính, viêm cơ.
c/ Tổn thương cơ học: chấn thương sọ, hốc mắt, tụ máu, viêm, khối u.
7.2. Triệu chứng:
Những triệu chứng thường gặp nhất của liệt vận nhãn là:
7.2.1. Song thị: Thuờng là lý do chính khiến bệnh nhân đến khám bệnh. Song thị 2 mắt
(bịt một mắt thì hết song thị), song thị tối đa ở hướng của cơ bị liệt.
7.2.2. Lác mắt: Góc lác thay đổi ở các hướng nhìn khác nhau, góc lác lớn nhất khi nhìn
về hướng tác dụng của bị liệt. Góc lác khi mắt lành định thị gọi là góc nguyên phát và
góc lác khi mắt lác định thị gọi là góc thứ phát. Trong lác liệt, góc thứ phát lớn hơn
góc nguyên phát.
7.2.3. Liệt cơ: Mắt lác bị hạn chế vận động ở hoạt trường của các cơ bị liệt.
7.2.4. Tư thế lệch đầu: Bệnh nhân có một tư thế vẹo để tránh song thị. Tư thế lệch đầu
khác nhau tuỳ theo cơ bị liệt.
7.3. Các hình thái lâm sàng.
7.3.1. Liệt dây thần kinh số III: Dây thần kinh III có thể bị liệt toàn bộ hoặc liệt một
phần. Liệt thần kinh III toàn bộ biểu hiện bằng:
- Sụp mi: do liệt cơ nâng mi trên.

loại vận nhãn liên hợp.
- Động tác chuyển định thị nhanh (saccadic movements): để đưa vật muốn nhìn
vào vùng hoàng điểm hoặc để chuyển từ nhìn vật này sang vật khác. Trên lâm sàng,
kiểm tra bằng cách yêu cầu bệnh nhân nhìn vào một vật, nhìn sang trái, hoặc sang
phải.
- Động tác nhìn theo chậm (smooth pursuit movements): để duy trì định thị vào
vật tiêu đã được khu trú bởi động tác giật. Kiểm tra bằng cách yêu cầu bệnh nhân nhìn
theo một vật tiêu di chuyển chậm.

Trích đoạn Điều trị phẫu thuật.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status