Tài liệu Đề án môn học: : Mục tiêu sản lượng và việc làm của Việt Nam - Pdf 99

Đề án môn học
Mục tiêu sản lượng và việc
làm của Việt Nam
1
MỤC LỤC
PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN II NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CÁC MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ CHỦ YẾU 3
1.1. Giới thiệu môn học, vị trí của môn học trong chương trình Đại học 3
1.1.1 Giới thiệu môn học 3
1.1.2. Vị trí của môn học trong chương trình học đại học 3
1.2. Phân tích các chức năng của chính phủ và các mục tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu.
4
1.2.1. Phân tích các chức năng của chính phủ được thể hiện bằng 3 chức năng.
4
1.2.2. Các mục tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu 5
1.3. Trình bày một số chỉ tiêu đo lường sản lượng quan trọng và vai trò của
việc xác định các chỉ tiêu đó trong phân tích kinh tế vĩ mô 6
1.3.1. Một số chỉ tiêu đo lường sản lượng quan trọng 6
1.3.2. Vai trò của GNP và GDP trong phân tích kinh tế vĩ mô 8
1.4. Trình bày các vấn đề liên quan đến thất nghiệp phân tích các biện pháp hạ
thấp tỷ lệ thất nghiệp 8
1.4.1. Các vấn đề liên quan đến thất nghiệp 8
1.4.2. Các biện pháp hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp 10
1.5. Phân tích mối quan hệ giữa mục tiêu sản lượng và mục tiêu việc làm 11
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN MỤC TIÊU SẢN LƯỢNG VÀ VIỆC
LÀM CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 2005 - 2008 12
2.1. Nhận xét chung về tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam để đưa ra lý do
phải thực hiện mục tiêu sản lượng và việc làm trong thời kỳ 2005 - 2008 12
2.2 Trình bày các chính sách mà chính phủ Việt Nam đã sử dụng để thực hiện
hai mục tiêu trên 13

đắn nhất đòi hỏi mỗi sinh viên khi làm về đề tài này cần phải có sự lựa chọn
đúng đắn và phải có hiểu biết, có sự tìm tòi về các hoạt động kinh tế một cách
đầy đủ và có hệ thống. Việc phân tích mục tiêu sản lượng và việc làm giúp mỗi
sinh viên, những người tri thức trẻ biết cách điều tiết nền kinh tế sao cho có sự
cân đối giữa chúng bằng chính năng lực, sự hiểu biết và lòng nhiệt tình của lớp
trẻ.
4
PHẦN II
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CÁC MỤC TIÊU
KINH TẾ VĨ MÔ CHỦ YẾU
1.1. Giới thiệu môn học, vị trí của môn học trong chương trình Đại học.
1.1.1 Giới thiệu môn học.
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô: Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu
sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình
diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân hay nói một cách khác kinh tế học vĩ mô
nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia trước những vấn đề kinh tế xã hội cơ
bản như: tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, xuất nhập khẩu hàng hoá và tư bản,
sự phân phối nguồn lực và phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.
Trong đó tỷ lệ thất nghiệp, mức tăng trưởng của một quốc gia là bao nhiêu
năm gọi là nhận định thực chúng. Các nhận định mang tính chủ quan tuỳ
thuộc vào đạo lý, tôn giáo như tỷ lệ lạm phát ở mức nào là phù hợp được gọi
là nhận định chuẩn tắc.
Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô: Trong khi phân tích các
hiện tượng và mối quan hệ kinh tế quốc dân, kinh tế học vĩ mô sử dụng chủ yếu
phương pháp phân tích cân bằng đồng thời của tất cả các thị trường hàng hoá và
các nhân tố, xem xét đồng thời khả năng cung cấp và sản lượng của toàn bộ nền
kinh tế, từ đó xác định đồng thời giá cả và sản lượng cân bằng. Ngoài ra kinh tế
học vĩ mô cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu phổ biến như: tư duy
trừu tượng, phương pháp phân tích thống kê số lớn, mô hình hoá kinh tế.

thu thuế và chi tiêu của chính phủ sẽ ảnh hưởng tới việc phân phối trong nền
kinh tế. Biện pháp thu thuế sẽ lấy đi một số hàng hoá dịch vụ của một nhóm
người thu hẹp khả năng mua sắm của họ, việc chi tiêu các khoản thuế sẽ tăng
thêm việc tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ của nhóm dân cư khác.
* Chức năng ổn định.
Ngoài chức năng hiệu quả và công bằng chính phủ còn có chức năng kinh
tế vĩ mô là duy trì còn có chức năng kinh tế vĩ mô là duy trì sự ổn định kinh tế.
Chính phủ có thể sử dụng các chính sách tài khoá và tiền tệ và điều chỉnh sản
6
lượng việc làm và giá cả.
1.2.2. Các mục tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu.
Mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản là đạt được sự ổn định trong ngắn hạn, tăng
trưởng nhanh trong dài hạn và phân phối của cải một cách công bằng.
- Sự ổn định kinh tế: Là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề kinh
tế cấp bách như lạm phát, suy thoái, thất nghiệp trong thời kỳ ngắn hạn.
- Tăng trưởng kinh tế: Đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề dài hạn hơn
có liên quan đến việc tăng trưởng kinh tế.
- Công bằng trong phân phối: vừa là vấn đề xã hội vừa là vấn đề kinh tế.
Để có thể đạt được sự ổn định, tăng trưởng và công bằng, các chính sách
kinh tế vĩ mô phải hướng tới các mục tiêu cụ thể như sau:
* Mục tiêu sản lượng.
- Đạt được sản lượng thực tế cao tương ứng với mức sản lượng tiềm năng.
- Tốc độ tăng trưởng cao và vững chắc.
* Mục tiêu việc làm:
- Tạo được nhiều việc làm tốt.
- Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp và duy trì ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
* Mục tiêu ổn định giá cả.
- Hạ thấp và kiểm soát được lạm phát trong điều kiện thị trường tự do.
* Mục tiêu kinh tế đối ngoại.
- Ổn định tỷ giá hối đoái.

yếu tố sản xuất của mình.
GNP đánh giá kết quả của hàng triệu giao dịch và hoạt động kinh tế do
công dân của một nước tiến hành trong một thời kỳ nhất định đó chính là con số
đạt được khi dùng thước đo tiền tệ để tính toán giá trị của các hàng hoá khác
nhau mà các hộ gia đình, các hãng kinh doanh. Chính phủ mua sắm và sử dụng
trong một thời gian đã cho. Những hàng hoá và dịch vụ đó là:
+ Các hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng của các hộ gia đình.
8
+ Các thiết bị nhà xưởng mua sắm và xây dựng lần đầu của các hãng kinh
doanh.
+ Nhà mới xây dựng.
+ Hàng hoá và dịch vụ mà các cơ quan quản lý Nhà nước mua sắm.
+ Sự chênh lệch giữa hàng xuất khẩu và nhập khẩu.
GNP có cặp khái niệm GNP thực tế và GNP danh nghĩa.
GNP danh nghĩa (GNPn): Đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra
trong một thời kỳ, theo giá cả ở một thời kỳ lấy làm gốc.
Cầu nối giữa GNPn và GNPr là chỉ số lạm phát (D).
( )
%%100.
r
n
GNP
GNP
D =
Hay
D
GNP
GNP
n
r

GNP hay GDP là những thước đo tốt nhất về thành tựu kinh tế của một đất
nước.
GNP hay GDP thường được sử dụng để phân tích những biến động về sản
lượng của một đất nước trong thời gian khác nhau. Trường hợp này ta tính tốc
độ tăng trưởng của GNP hay GDP thực tế nhằm loại trừ sự biến động của giá cả.
GNP và GDP còn được sử dụng để phân tích sự thay đổi về mức sống của
dân cư.
Lúc này ta tính chỉ tiêu GNP và GDP bình quân đầu người.
GDP bình quân đầu người =
GDP
Dân số
GNP bình quân đầu người =
GNP
Dân số
Mức sống của dân cư một nước phụ thuồc vào số lượng hàng hoá và dịch
vụ cuối cùng mà họ sản xuất ra và quy mô dân số của nước đó sự thay đổi về
GNP hay GDP bình quân đầu người phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng dân số
và năng suất lao động. Nói cách khác, mức sống dân cư của một nước phụ thuộc
vào đất nước đó giải quyết vấn đề dân số trong mối quan hệ với năng suất lao
động như thế nào.
10
Sự khác nhau giữa GNP bình quân đầu người và GDP bình quân đầu
người.
- GNP bình quân đầu người là thước đo tốt hơn về số lượng hàng hoá và
dịch vụ được sản xuất ra và tính bình quân cho một đầu người.
1.4. Trình bày các vấn đề liên quan đến thất nghiệp phân tích các biện
pháp hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp.
1.4.1. Các vấn đề liên quan đến thất nghiệp .
Để có cơ sở xác định được thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp cần biết được
một vài khái niệm sau:

+ Thất nghiệp do thiếu cầu
+ Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường.
* Một số nhân tố ảnh hưởng đến thất nghiệp tự nhiên.
- Khoảng thời gian thất nghiệp: Nếu mỗi người phải chờ đợi quá nhiều thời
gian mới tìm được việc thì trong mỗi thời kỳ nào đó số lượng người thất nghiệp
trung bình tăng lên. Thời gian chờ đợi nói trên gọi là "Khoảng thời gian thất
nghiệp", và nó phụ thuộc vào:
+ Cách thức tổ chức thị trường, lao động.
+ Cấu tạo nhân khẩu của người thất nghiệp (Tuổi đời, tuổi nghề, ngành
nghề).
+ Cơ cấu các loại việc làm và khả năng có sẵn việc.
- Tần số thất nghiệp: Là tần số trung bình 1 người lao động bị thất nghiệp
trong một thời kỳ nhất định (ví dụ: trong 1 năm bị thất nghiệp 2 lần). Tần số thất
nghiệp phụ thuộc vào.
+ Sự thay đổi nhu cầu lao động của các doanh nghiệp.
+ Sự gia tăng tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động.
Học thấp tỷ lệ tăng dân số và ổn định kinh tế là hướng đi quan trọng giữ
cho tần số thất nghiệp ở mức thấp.
1.4.2. Các biện pháp hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp.
Muốn giảm bớt thất nghiệp thì xã hội cần phải có thêm nhiều việc làm đa
dạng hơn có mức tiền công tốt hơn, đồng thời phải đổi mới thị trường lao động
12
để đáp ứng kịp thời nhanh chóng yêu cầu của cả doanh nghiệp và người lao
động.
Ở những nước đang phát triển lực lượng lao động luôn dồi dào tuy nhiên
thiếu vốn thiếu đầu tư. Vì vậy việc hỗ trợ của Nhà nước hoặc các tổ chức kinh tế
qua các dự án việc làm là rất cần thiết.
Bên cạnh việc đầu tư vào cơ sở vật chất còn phải tăng cường các chương
trình dạy nghề và tổ chức lại thị trường lao động.
Thất nghiệp đồng nghĩa với tình trạng giảm mức sống và tăng sức ép về

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN MỤC TIÊU SẢN LƯỢNG VÀ VIỆC
LÀM CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 2005 - 2008
2.1. Nhận xét chung về tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam để đưa ra
lý do phải thực hiện mục tiêu sản lượng và việc làm trong thời kỳ 2005 -
2008.
Đất nước ta xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa từ nghèo nàn, vì phải
gánh chịu hậu quả của 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ để lại. Nền
kinh tế của Việt Nam sau hoà bình (1975) bị tụt hậu so với thế giới hàng chục
năm. Sau hơn 30 năm khắc phục hậu quả chiến tranh kinh tế Việt Nam đã từng
bước phát triển, đã có những bước tiến vượt bậc.
Việc mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là việc làm đúng
đắn của chính phủ. Sự phát triển rộng khắp của các vùng kinh tế trọng điểm ở cả
3 miền Bắc, Trung, Nam đã phần nào giải quyết được vấn đề việc làm cho người
lao động với sự chuyên môn hoá và hiện đại hoá cao. Sau bao nỗ lực, cố gắng
Việt Nam đã được trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới voà
tháng 1 năm 2007 là: điều kiện thuận lợi cho kinh tế Việt Nam phát triển theo
nền kinh tế thị trường.
Tốc độ tăng GDP của Việt Nam từ 2001 - 2004 tăng từ 6,79% - 7,69%
được đánh giá là ở mức tăng trưởng cao. Nhờ vậy đời sống của nhân dân ngày
càng được cải thiện. Tuy vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam còn kém nhưng nó
đang dần được cải thiện. Kinh tế giữa các vùng miền phần nào giảm bớt được sự
chênh lệch. Nhà nước đã có sự quan tâm và đầu tư đến cùng sâu, miền núi, hải
đảo. Trong công nghiệp xuất hiện nhiều khu công nghiệp, còn trong nông
nghiệp xuất hiện nhiều cùng chuyên canh nuôi trồng và đã cho hiệu quả và năng
suất cao. Các ngành du lịch và dịch vụ đã có sự đầu tư để phát huy tiềm năng.
Đất nước ta tuy đã được hoà bình nhưng bên cạnh đó vẫn còn những thế
lực thù địch luôn nhòm ngó. Tuy nhiên Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam
đã cố gắng và đang xây dựng nước Việt Nam với kinh tế hội nhập và phát triển
và chính trị ổn định, là điều kiện lý tưởng cho các nhà đầu tư vào Việt Nam.
15

16
thành phần kinh tế tập thể và tư nhân phát triển mạnh. Đây là cơ sở góp phần tạo
công ăn việc làm cho người lao động hạn chế các tệ nạn xã hội xảy ra.
Bên cạnh đó, quỹ Quốc gia giải quyết việc làm cũng có vai trò quan trọng
thúc đẩy tạo việc làm. Từ 2001 - 2005 quỹ cho vay gần 100.000 dự án lớn nhỏ
góp phần hỗ trợ cho công nhân.
Chính phủ Việt Nam còn mở rộng ra với thị trường lao động nước ngoài
bằng cách ký các hợp đồng xuất khẩu lao động giúp cho người dân có thêm điều
kiện lao động. Ngoài ra tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động có đủ
điều kiện đi lao động nước ngoài như đào tạo, người lao động, cho người lao
động vay vốn
Đến nay lao động Việt Nam đã có mặt ở trên 40 nước và vùng lãnh thổ với
hơn 30 nhóm nghề các loại.
Đồng hành cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người đông thì
chính phủ phải hoàn thiện kịp thời hệ thống pháp luật về lao động, bổ sung sửa đổi
luật lao động cho phù hợp với tình hình mới còn luật dạy nghề, luật bảo hiểm xã
hội.
Tạo điều kiện cho việc khôi phục và phát triển các làng nghề có lợi thế.
Việc phát triển các làng nghề một phần giải quyết được khâu lao động lúc nông
dân ở vùng nông thôn.
Cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin về việc đào tạo nghề, tuyển dụng lao
động giúp cho người lao động có đầy đủ thông tin tìm kiếm việc làm, có hình
thức giáo dục pháp luật giúp người lao động hiểu rõ hơn về quyền hạn và trách
nhiệm của mình đồng thời có ý thức hơn trong quá trình lao động.
Trong lĩnh vực chính sách chính phủ đã hoạch định một chiến lược cải
cách ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuyển đổi thành ngân hàng
trung ương tiên tiến với năng lực quản lý các chính sách tiền tệ và giám sát các
tổ chức tài chính.
Đã có những động thái nhằm cải thiện các công tác quản lý kinh doanh và
điều tiết thị trường. Luật chứng khoán và thị trường chứng khoán đã được thông

(tỷ đồng)
2005 822.432 839.211 -16.779 98,0
2006 953.232 974.266 -21.034 97,8
2007 1.112.892 1.144.014 -31.123 97,3
* Tỷ lệ tăng trưởng.
Năm 2005 2006 2007
Tỷ lệ 8,4 8,2 8,5
18
Năm
* Tỷ lệ thất nghiệp theo vùng.
Các vùng:
Năm
Các vùng
2005 2006 2007
Cả nước 5,31 4,82 4,64
Đồng bằng sông Hồng 5,61 6,42 5,74
Đông Bắc 5,12 4,32 3,97
Tây Bắc 4,91 3,89 3,42
Bắc Trung Bộ 4,98 5,50 4,92
Duyên hải Nam Trung Bộ 5,52 5,36 4,99
Tây Nguyên 4,23 2,38 2,11
Đông Nam Bộ 5,62 5,47 4,83
Đồng Bằng sông Cửu Long 4,87 4,52 4,03
19
2.4. Phân tích số liệu thu thập được và trình bày quan điểm của mình về
cách sử dụng chính sách nhằm vào mục tiêu sản lượng và việc làm.
2.4.1. Phân tích số liệu thu thập được.
* Về thu nhập.
Nhìn chung tổng thu nhập của Việt Nam thời kỳ 2005-2007 tăng lên. Đó là
kết quả tất yếu của một nền kinh tế đang phát triển. Tổng sản phẩm trong nước

Nhìn vào bảng cho ta thấy được rằng tỷ lệ thất nghiệp của các vùng miền
cũng như của cả nước giảm 5,31% xuống 4,64% từ 2005 - 2007. Tỷ lệ này giảm
là do: nhu cầu lao động trong nước ngày càng tăng. Đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam ngày càng tăng do cơ chế thông thoáng của chính phủ Việt Nam -> tạo ra
được nhiều khu công nghiệp, đây là nơi thu hút một lượng lớn số lao động.
Không có sự chênh lệch nhiều về tỷ lệ thất nghiệp của các vùng miền là do sự
phân bố lại dân cư, có sự chuyên môn hoá hợp lý. Ví dụ ở nước ta, Đông Nam
Bộ là vùng phát triển công nghiệp mạnh nhất, giá trị công nghiệp chiếm tới
55,6% cả nước (năm 2005). Trong khi đó Đồng Bằng sông Cửu Long là vùng
trọng điểm sản xuất lương thực chiếm 40,7% cả nước.
Tỷ lệ thất nghiệp giảm còn do mô hình kinh tế sản xuất vừa và nhỏ như sản
xuất theo mô hình làng nghề, tư nhân thu hút mộ lượng lớn lao động. Mà các mô
hình này không đòi hỏi người lao động phải được đào tạo căn bản, lâu dài điều
kiện này phù hợp với trình độ của người lao động Việt Nam. Đời sống của
người lao động được nâng cao, họ ngày càng được quan tâm đầy đủ hơn, các
chế độ tiền lương, tiền thưởng khuyến khích cho hăng hái lao động không có ý
định bỏ nghề vì thấy chán nản hay quyền lợi của họ được nâng cao hơn. Tuy
nhiên tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn còn gay gắt.
Thu nhập của Việt Nam ngày càng tăng do ở nước ta đã hình thành các
vùng động lực kinh tế, vùng chuyên canh và các khu công nghiệp tập trung, khu
chế xuất có quy mô lớn. Nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời như viễn thông, tư
vấn, đầu tư, chuyển giao công nghệ đã góp phần không nhỏ vào sản lượng
quốc gia.
Nền nông nghiệp đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Cơ cấu
mùa vụ có sự thay đổi, các giống cây, giống con đã có sự chuyển đổi cho sản
21
lượng cao. Có sự liên kết giữa công nghiệp và nông nghiệp đặc biệt nông nghiệp
với công nghiệp chế biến.
2.4.2. Quan điểm về cách sử dụng chính sách về mục tiêu sản lượng và
việc làm.

thiếu điện cho sản xuất cũng như cho tiêu dùng.
Việc làm là một vấn đề kinh tế - xã hội lớn của nước ta hiện nay. Sự đa
dạng hoá các thành phần kinh tế, các ngành sản xuất, dịch vụ đã tạo ra mỗi năm
gần 1 triệu việc làm mới. Trong những năm qua nước ta đã tập trung giải quyết
việc làm cho người lao động theo các hướng:
- Phân bố lại dân cư và nguồn lao động.
- Thực hiện đa dạng hoá các hoạt động sản xuất.
- Tăng cường hợp tác liên kết để thu hút vốn đầu tư nước ngoài mở rộng
sản xuất hàng xuất khẩu.
- Mở rộng, đa dạng hoá các loại hình đào tạo các cấp, các ngành nghề nâng
cao chất lượng đội ngũ, lao động để họ có thể tự tạo ra được những công việc
hoặc tham gia vào các đơn vị sản xuất dễ dàng, thuận lợi.
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động.
23
PHẦN III
KẾT LUẬN
Kết luận
Việt Nam xây dựng một nền kinh tế thị trường ngày nay bắt đầu từ một nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh. Sau chiến
tranh nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài, lạm phát ở
mức 3 con số. Trải qua chặng đường dài đổi mới nước ta thoát khỏi tình trạng
khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao GDP từ 0,2% vào giai đoạn 1975 - 1980
tăng lên 6% vào năm 1988 và 8,4% vào năm 2005. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá toàn cầu hoá là một xu thế lớn một
mặt cho phép nước tranh thủ được các nguồn lực bề ngoài (về vốn, công nghệ và
thị trường), mặt khác đặt nền kinh tế nước ta vào thế bị cạnh tranh quyết liệt bởi
các nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực và trên thế giới.
Nhờ có những điều kiện thuận lợi của chính phủ nước ta đã thu hút mạnh
các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),

Công tác quản lý của Nhà nước phải được hoàn thiện dần. Các Công ty
Nhà nước hoạt động kém hiệu quả, cần được sửa đổi và thay thế bằng mô hình
hoạt động khác. Phát triển kinh tế bằng việc đầu tư theo chiều sâu, đổi mới các
trang thiết bị và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Tài nguyên của Việt Nam là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích
cách mạng vì vậy Nhà nước Việt Nam cần có công tác tốt hơn trong việc bảo
tồn, duy tu những cảnh quan thiên nhiên, góp phần nâng cao thu nhập quốc gia
qua ngành công nghiệp không khói này.
Đi đôi với việc phát triển kinh tế chính phủ cần quan tâm đến vấn đề môi
trường. Ngày nay cả thế giới đang chịu hậu quả của việc nóng lên của trái đất,
hạn hán, lũ lụt, sóng thần xảy ra một cách thường xuyên, nguy hiểm, gây thiệt
hại lớn. Do vậy vấn đề môi trường là vấn đề bức thiết và cấp bách. Công tác
tuyên truyền cho người dân có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường sống.
Các dự án kinh tế phải được song hành với các dự án bảo vệ môi trường để tạo
ra bầu không khí trong lành con người Việt Nam có sức khoẻ tốt hơn để phục vụ
cho xã hội được nhiều hơn.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status