Tài liệu Tiểu luận: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch doc - Pdf 99

Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc


Tiểu luận: Đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực du lịch
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
1
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc
LỜI GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC 5
1. Nguồn nhân lực 5
1.1 Khái niệm và phân loại nguồn nhân lực 5
1.1.1.Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư 6
1.1.2 .Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế 6
1.1.3 .Nguồn nhân lực dự trữ 7
1.2.Vai trò nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình hội nhập 8
1.2.1 Con người là động lực của sự phát triển 9
1.2.2 Con người là mục tiêu của sự phát triển 10
1.2.3 Yếu tố con người trong phát triển kinh tế xã hội 11
2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hiện nay 12
2.1 Đào tạo nguồn nhân lực 14
2.1.1. Khái niệm 14
2.1.2 Thực trạng về đội ngũ lao động được đào tạo ở việt nam 16
2.1.2.1 Cấu trúc đội ngũ lao động được đào tạo 16
2.2. Phát triển nguồn nhân lực 19
2.2.1 Khái niệm 19
2.2.2 Hình thức đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 20
3. Phân loại hình thức đào tạo và phát triển 20
3.1. Phân loại 20
3.2. Xu hướng đào tạo và phát triển thế kỷ 21. 24

3. Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng các giải pháp trên 61

A, LỜI NÓI ĐẦU
Du lịch là một trong những ngành kinh tế đang được Đảng và Nhà nước chú trọng
đầu tư phát triển để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước ta hiện nay. So với
các ngành kinh tế khác, du lịch là một trong những ngành kinh tế còn non trẻ của Việt
Nam, đặc biệt là về lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nghề nghiệp
và trình độ quản lý. Nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực trong lĩnh vực hoạt động du
lịch trên phạm vi toàn quốc nói chung và khu vực Tây Nguyên nói riêng ngày càng tăng,
trong đó đặc biệt là khu vực tỉnh Lâm Đồng với trung tâm du lịch có ý nghĩa quốc gia là
thành phố Đà Lạt.
Nhóm chúng tôi
B, NỘI DUNG
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
3
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc
TIÊU ĐỀ: ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH
CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG
I. ĐÔI NÉT VỀ DU LỊCH VIỆT NAM
Du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, song mục đích của phát triển du lịch
không chỉ vì lợi nhuận kinh tế, điều quan trọng và căn bản hơn là du lịch cần trực tiếp
góp phần nâng cao vị thể, hình ảnh của Việt Nam đối với thế giới cũng như các nước
trong khu vực. Qua du lịch, khách muôn phương có dịp hiểu hơn về con người, đất nước,
kinh tế, văn hóa Việt Nam . Muốn vậy, du lịch Việt Nam phải trở thành một sứ giả của
hòa bình và hữu nghị…
Cùng với sức hấp dẫn của “ngôi sao đang lên”, du khách nước ngoài lựa chọn Việt Nam
vì đây còn là điểm đến an toàn và thân thiện. Tiếng lành đồn xa… Nhưng ta cần nhận
thấy ở đây một thông điệp” hãy giữ bền và nhân lên “tiếng lành” đó. Và muốn vậy, người
làm du lịch phải luôn biết và dám nhìn thẳng vào những hạn chế. Từ chỗ không có cảng
biển đón khách du lịch, thiếu phòng lưu trú… đến những bất cập về dịch vụ như thiếu

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
5
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc
Trong quy hoạch cũng vậy. Đã đến lúc cần phải có chuyên gia và các công ty tư vấn nước
ngoài. Cùng với những lợi thế mang tính chuyên nghiệp, họ còn đứng trên tư duy của du
khách mà đáp ứng trúng nhu cầu. Ta làm du lịch để phục vụ du khách thì phải hiểu nhu
cầu của chính du khách để đáp ứng tốt nhất, từ cách bố trí không gian, thiết kế đến những
yêu cầu trong xử lý môi trường v.v… Cùng đó là quy hoạch những cùng du lịch trung
tâm như đảo Phú Quốc; toàn bộ ven biển miền Trung với những di sản văn hóa thế giới,
Huế, Hội An cũng như các thành phố du lịch khác. Nhìn sang láng giềng ta thấy, riêng
khu vực đền ăng-co-vát (Cam-pu-chia) đã có 10 khách sạn năm sao. Một sự đầu tư có
tầm vóc và hết sức khôn ngoan. Trong khi đó, nhiều khu vực có lợi thế phát triển du lịch
của ta (biển Đà Nẵng là một trong sáu bãi biển hấp dẫn nhất hành tinh; vịnh Nha Trang là
một trong 24 vịnh đẹp nhất thế giới; hồ Ba Bể là một trong 10 hồ nước ngọt lớn nhất toàn
cầu; và mới đây, sau một cuộc bình chọn dài ngày mang tên “Hidden Beaches”, bãi Dài
(Phú Quốc) đã được chọn là bãi biển sạch và đẹp nhất thế giới còn hoang sơ tiềm ẩn
(Theo Hãng tin ACB News). Chưa hết. Ngoài Hạ Long trên biển ta có Hạ Long trên cạn
ở Ninh Bình… đến giờ vẫn chưa được quy hoạch và đầu tư tương xứng. Cho nên những
chuyển động từ Phú Quốc và một số khu du lịch khác trong thời gian qua là tín hiệu rất
đáng mừng. Hiện Phú Quốc có ba nhà đầu tư nước ngoài với 5 tỷ USD. Một dự án từ Mỹ
sang, hai dự án từ châu Âu sang. Hy vọng đây sẽ là một trong những khu du lịch mẫu
mực của Việt Nam . Song nên nhớ, tình trạng xẻ núi, lấp hồ, ngang nhiên vi phạm luật di
sản… vẫn là một bài học đau xót. Đó là hậu quả thu lợi trước mắt mà không có tầm nhìn
lâu dài. Cũng như vậy, bài học của sự đầu tư manh mún, vừa tốn kém vừa ít hiệu quả vẫn
con nguyên giá trị cảnh báo. Thí dụ như tuyến đường lền Bà Nà (Đà Nẵng), đường đến
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
6
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc
hồ Ba Bể (Bắc Kạn) một nỗ lực rất lớn, nhưng vì đường nhỏ quá, hai xe không tránh nổi
nhau, khách đi một lần là sự mãi…

giờ, du lịch Việt Nam cần có chiến lược cụ thể hơn, căn bản hơn, trước hết, từ công tác
đào tạo con người và quy hoạch cơ sở hạ tầng theo hướng coi hoạt động du lịch là một
kênh quan trọng trong việc tôn bồi giá trị văn hóa dân tộc và nâng cao vị thế đất nước.
Nói cách khác, du lịch cần hướng tới vai trò sứ giả của hòa bình và hữu nghị.

II. NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH
1, khái niệm

- khái niệm nguồn nhân lực du lịch
Để phát triển ngành du lịch cần có nhiều nguồn lực trong đó nguồn lực nhân lực được
đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của
ngành.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
8
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến
thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để
phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.
Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế hoạch
hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong
độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam
(nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi).
Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn
lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó lực lượng
lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao
động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp). Lao động dự trữ bao
gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có
nhu cầu lao động.
2, Thực trạng nguồn nhân lực
Ngành du lịch hiện có khoảng một triệu người, cần thêm 400.000 người mới đáp

khác không phải là hiếm.
“Có rất nhiều giảng viên đang giảng dạy cũng thiếu tính thực tế. Đơn cử như việc bưng
bê, xếp khăn… giảng viên còn thiếu kỹ năng, vậy thì làm sao dạy được sinh viên”, ông
Hà Kim Vọng, Trường Du lịch và ngoại ngữ Khôi Việt (TP HCM) cho biết.
Ở góc độ đào tạo, bà Vũ Thị Hòa cho biết thêm: sinh viên các ĐH-CĐ hiện nay phải
học nhiều môn đại cương theo chương trình khung của Bộ GD-ĐT, trong khi thời lượng
dành cho chuyên môn quá ít. Thời lượng để sinh viên tiếp cận với thực tế chỉ chiếm ¼
thời gian học tập trong trong suốt 3 - 4 năm học, tức chỉ vào khoảng 5-6 tháng nên khi ra
trường, tay nghề của sinh viên còn non yếu, khiến nhiều doanh nghiệp không mặn mà
tuyển dụng.
Ông Nguyễn Văn Mỹ, Giám đốc công ty lữ hành Lửa Việt cho biết: 80 nhân viên của công ty khi
tuyển vào đều phải đào tạo lại. Vì vậy, việc làm cấp bách hiện nay là nhà trường cần tìm cách xoá
khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn. Ông Hà Kim Vọng thì đề xuất: chúng ta cần có chiến lược
lâu dài, không thể vận hành theo cách hiện nay là trường cứ đào tạo và doanh nghiệp cứ tuyển
dụng. Có như vậy, trong vài năm tới ngành du lich mới có thể thoát khỏi tình trạng thiếu nhân lực.
Nhiều đại biểu cũng nêu vấn đề: nhân lực ngành du lịch vẫn còn yếu về chuyên môn
ngoại ngữ. Chỉ xét riêng về trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Pháp, Nhật, Đức, số
hướng dẫn viên thông thạo chỉ chiếm khoảng 5-12% trong tổng số 5.000 hướng dẫn viên
đã được cấp thẻ của cả nước. Ngay cả tiếng Anh là loại ngoại ngữ thông dụng nhất nhưng
hướng dẫn viên thạo ngoại ngữ này vẫn còn hạn chế.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
11
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc
Tiếng Anh: Dưới chuẩn tối thiểu Trong khuôn khổ các hoạt động nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực DL VN, mới đây TOEIC (Test of English for
InternationalCommunication) VN đã tiến hành khảo sát, đánh giá trình độ tiếng Anh cho
một số nghề trong ngành du lịch. Dựa vào nhu cầu sử dụng tiếng Anh
với từng vị trí, TOEIC đã thực hiện gần
400 cuộc điều tra khảo sát về yêu cầu sử dụng ngôn ngữ của gần 200 khách sạn
(từ 3 sao - 5 sao) và DN lữ hành đại diện trên toàn quốc. Đối tượng chính là

nước chỉ có 50 hướng dẫn viên biết tiếng Hàn. Hay với Nhật Bản - thị trường tiềm năng
đứng thứ ba hiện nay cũng mới chỉ có 8% hướng dẫn viên thành thạo tiếng.
3. Đào tạo nguồn nhân lực
Theo ông Phạm Xuân Khánh, Giám đốc Khách sạn Golf Đà Lạt, để khách hàng là
thượng đế, chủ doanh nghiệp nên đặt nhân viên lên hàng đầu. Doanh nghiệp cần quan
tâm đến chất lượng đào tạo và đào tạo lại nhân viên. Để đáp ứng được điều đó, sinh viên
khi ra trường phải cần có đầy đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc tích cực. Việc đặt ra
yêu cầu cao trong quá trình tuyển dụng, đặc biệt là yêu cầu về kỹ năng đòi hỏi cơ sở đào
tạo thiết kế khung chương trình phù hợp, tăng cường kỹ năng thực hành, bồi dưỡng kỹ
năng mềm cho sinh viên.
Để phối hợp trong quá trình đào tạo, đại diện các doanh nghiệp cũng đã sẵn sàng hợp tác
với Khoa trong việc tổ chức các đợt kiến tập, thực tập cho sinh viên. Đồng thời, phía
doanh nghiệp cũng mong muốn có các chương trình đào tạo ngắn hạn phù hợp với tính
chất thời vụ, ca kíp để doanh nghiệp có thể gởi nhân viên đi đào tạo lại.
-nhiều học viên, sinh viên du lịch tốt nghiệp dự phỏng vấn vẫn hết sức lúng túng không
thể trả được câu hỏi “khách sạn là gì?” Trong khi đó, Th.S Đỗ Huệ Hương, ĐH Hoa Sen
theo khi đi thực tập, nhiều SV vẫn thích làm công tác quản lý trong khi chưa thành thạo
một số kỹ năng cơ bản. Đây là lý do khiến các doanh nghiệp ngại ngần không muốn
nhận SV bậc này thực tập.
Theo cô Hương, SV cần được trang bị thành thạo các kỹ năng,
các công việc đặc thù ngành du lịch (kỹ năng giao tiếp trước đám đông,
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
14
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc
viết thư giao dịch, viết báo cáo và tiến hành dự án quy mô nhỏ…).
Ông Trần Chiến Thắng, thứ trưởng Bộ Văn hóa thể thao và du lịch,
nêu lên bảy giải pháp phát triển nguồn nhân lực đến 2015. Trong đó có giải pháp tiêu
chuẩn hóa nhân lực ngành du lịch, đãi ngộ nhân tài, phát triển
mạng lưới và nâng cao năng lực đào tạo; tăng cường liên kết
đào tạo giữa nhà nước - nhà trường-nhà doanh nghiệp…

57% lao động được qua đào tạo, bồi dưỡng từ trên sơ cấp đến đại học và trên đại học;
phần còn lại được đào tạo tại chỗ hoặc huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn.
Với tốc độ tăng trưởng nhanh của ngành du lịch như hiện nay thì yêu cầu mỗi năm phải
đào tạo thêm 25.000 lao động mới và cần phải đào tạo lại số lượng lao động tương đương
như vậy.
Sau năm năm triển khai, dự án “Phát triển nguồn nhân lực du lịch” Việt Nam đã đạt được
những kết quả bước đầu. Chương trình vừa được gia hạn tới hết tháng 1 năm 2010.

Dự án Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam do EU tài trợ 10,8 triệu euro, vốn đối
ứng của Chính phủ Việt Nam là 1,2 triệu euro có mục tiêu cụ thể là "công nhận và nâng
cao chất lượng dịch vụ của người lao động ở trình độ cơ bản trong lĩnh vực lữ hành và
khách sạn".
Vừa qua, Chính phủ Việt Nam và Ủy ban châu Âu đã phê duyệt kéo dài thời gian thực
hiện dự án đến hết tháng 1/2010 nhằm bảo đảm triển khai các hoạt động đạt được cả chất
lượng và số lượng theo kế hoạch.

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
16
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc
Sự phát triển của du lịch Việt Nam hiện đang thu hút khoảng 250 nghìn lao động trực tiếp
cùng hàng trăm nghìn lao động gián tiếp tham gia vào hoạt động du lịch, cung cấp dịch
vụ cho hàng triệu lượt du khách trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập hợp tác du lịch với khu vực và các nước trên thế giới,
việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch nước ta.

Là điểm đến hấp dẫn, thân thiện với các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
đặc sắc, Việt Nam đang ngày càng thu hút nhiều du khách, đồng thời lực lượng lao động
du lịch cũng sẽ ngày càng tăng.

tiếng Anh cho sáu kỹ năng nghề trong du lịch cũng đã được xây dựng và sẽ được giới
thiệu rộng trong toàn ngành du lịch, khuyến khích các đơn vị sử dụng thang chuẩn cho
công tác đào tạo.
Trong năm 2007, khoảng 500 đào tạo viên được đào tạo trong khoảng 30 khóa học thuộc
Chương trình phát triển đào tạo viên, bốn khóa đào tạo kỹ năng giám sát được tổ chức
với 64 học viên tham dự. Cho đến cuối năm 2007, chương trình dự án đã đào tạo tổng
cộng hơn 1.500 đào tạo viên, trong số đó 995 người được Hội đồng cấp chứng chỉ nghiệp
vụ du lịch Việt Nam công nhận và cấp chứng chỉ để thực hiện công tác đào tạo tại chỗ
theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề nước ta.
Nhóm kết quả thứ hai là xây dựng một khung thể chế quốc gia hỗ trợ tăng cường năng
lực trong việc triển khai hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề Việt Nam bảo đảm tính bền
vững sau khi dự án kết thúc. Việc thực hiện dự án đã hỗ trợ Tổng cục Du lịch, các cơ
quan quản lý Nhà nước về du lịch ở các địa phương, Hội đồng cấp chứng chỉ nghiệp vụ
du lịch, Hiệp hội du lịch Việt Nam, các cơ sở đào tạo du lịch và khách sạn trong việc xây
dựng kế hoạch hoạt động, mở lớp đào tạo kỹ năng quản lý cho khoảng 250 cán bộ quản
lý du lịch ở các tỉnh, thành phố về kiến thức quy hoạch bền vững, lập kế hoạch nhân lực
du lịch, tiếp thị và quảng bá điểm đến, tổ chức sự kiện.

Thông qua dự án, các chương trình đào tạo phương pháp giảng dạy tiếng Anh cho giáo
viên các trường du lịch, đào tạo nâng cao nhận thức du lịch, được hoàn thiện. Dự án đã
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
18
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc
giúp thiết lập được hệ thống quản lý vận hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam
cho Hội đồng cấp chứng chỉ du lịch Việt Nam và cấp học bổng cho 60 cán bộ ngành du
lịch và giáo viên các trường đào tạo du lịch sang du học tại Malaysia và Singapore.
Nhóm kết quả thứ ba đang được dự án thực hiện là gắn kết hài hòa hệ thống công nhận
kỹ năng nghề du lịch cấp quốc gia với hệ thống công nhận nghề của khu vực và tăng
cường hợp tác khu vực. Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam đã được công nhận
bởi một số tổ chức du lịch trong khu vực và quốc tế như PATA, ASEANTA.

viên là một công đoạn không được phép bỏ qua để vươn lên, tạo thương hiệu cho chính
mình. Hầu hết các khách sạn lớn ở Đà Lạt đều bỏ ra vài tháng để huấn luyện nhân viên
trước khi khách sạn chính thức hoạt động và quy trình huấn luyện này là công việc diễn
ra đều đặn, liên tục. Nhân viên khách sạn phải thành thạo chuyên môn, giỏi ngoại ngữ,
chuẩn ngoại hình, am hiểu những kiến thức liên quan đến phục vụ khách giờ là những
tiêu chí hướng đến tính chuyên nghiệp của những điểm hoạt động du lịch. Riêng sự xuất
hiện của trường trung cấp du lịch Đà Lạt (thuộc Tổng cục du lịch Việt Nam) từ hơn 1
năm nay cũng đã phần nào đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực đang rất bức thiết của
ngành.
Đối với du lịch, chỉ người lao động làm tốt công việc của mình là không đủ để
đáp ứng được nhu cầu của những người đi du lịch. Vì vậy, việc đào tạo sao
những nhân lực này cần dựa trên các quy chuẩn về chất lượng cho các cơ sở
và dịch vụ du lịch. Khi đã là dịch vụ mang tính chuyên nghiệp thì cần được tuân thủ theo
những quy chuẩn nghề nghiệp được xây dựng theo tiêu chuẩn đáp ứng sự mong đợi của
những du khách. Có làm được như vậy thì mới đảm bảo được việc thu hút khách.
8 kỹ năng cần có
Thách thức ở đây là làm sao để tuyển dụng được những nhân sự có khả năng đạt được
những tiêu chuẩn về chất lượng đó. Các tiêu chí như thái độ, sự cam kết, phong thái, khả
năng ngoại ngữ và sự trung thực phụ thuộc vào năng lực của từng ứng viên.
Tuy nhiên vì đây là lĩnh vực du lịch - dịch vụ, nên những ứng viên muốn làm việc
trong ngành này cần nắm bắt được 08 kỹ năng hay thói quen sau:
1. Mỗi khi bạn thấy một khách hàng, hãy đón họ với một nụ cười
thật ấm áp và nhìn thẳng vào mắt họ
2. Chủ động lấy số liên hệ của khách.
3. Khi giao tiếp với khách, hãy sử dụng ngôn ngữ cử chỉ với một giọng nói thân mật,
thái độ tích cực và thân thiện nhất. Hãy dùng những ngôn từ lịch sự của
những người làm dịch vụ. Và nhớ gọi tên gọi của khách bất kỳ khi nào có thể.
4. Đối xử với khách với sự tôn trọng và lịch sự, và luôn chu đáo với các nhu cầu cần thiết
của khách.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch

du lịch. Ngay cả ở các trung tâm kinh tế lớn cả nước, những khách sạn tầm cỡ quốc tế
vẫn rất thiếu so với nhu cầu. Vào mùa cao điểm, nhiều đơn vị lữ hành phải tiếc nuối huỷ
các tour quốc tế vì không đặt được phòng hoặc vì giá phòng bị đẩy lên quá cao.
Một thực trạng dễ nhận thấy nữa tại thành phố du lịch hấp dẫn như Đà Lạt chỉ có khu chợ
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
21
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc
với quy mô nhỏ, chưa có hệ thống siêu thị lớn phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách.
Đây cũng là một hạn chế rất lớn đối với việc phát triển tiềm năng du lịch của địa phương.
Làm thế nào để gìn giữ và phát huy vẻ đẹp duyên dáng, quyến rũ của Đà Lạt và thu hút
du khách trong nước và quốc tế trở lại với thành phố thơ mộng này ngày một
nhiều hơn là một vấn đề được các cấp, các ngành của tỉnh Lâm Đồng quan tâm.
Các dự án đầu tư vào các khu du lịch là rất lớn, tỉnh Lâm Đồng tập trung thực
hiện 4 nội dung để thu hút đầu tư vào lĩnh vực mà tỉnh có nhiều thế mạnh,
đó là: đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư, tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ và
nâng cấp môi trường du lịch, làm tốt công tác xúc tiến, tìm kiếm thị trường.
Một số nhà đầu tư nước ngoài đánh giá rất cao vẻ đẹp và tiềm năng Việt Nam
nói chung và của Lâm Đồng nói riêng song hiện trạng cơ sở hạ tầng yếu kém
của Việt Nam, ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai các dự án du lịch tại đây.
Bên cạnh đó, vấn đề thủ tục hành chính cũng là một trong những vấn đề được các
nhà đầu tư đặc biệt quan tâm vì thời gian chờ duyệt hồ sơ đăng ký đầu tư còn kéo dài,
nhiều khi phải mất từ 3 đến 6 tháng; thời gian được mua đất, chờ đợi giải phóng mặt
bằng, đền bù cũng mất rất nhiều thời gian cho các nhà đầu tư.
Nhằm giúp các nhà đầu tư trong và ngoài nước có điều kiện triển khai các dự án vào lĩnh
vực du lịch một cách thuận lợi, các cấp, các ngành tỉnh Lâm Đồng đã có nhiều cải cách
thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư , để khắc phục những trở ngại mà các
nhà đầu tư quan tâm. Hy vọng trong 2-3 năm tới, với tốc độ đầu tư như hiện nay, số
lượng phòng sẽ tăng lên đáng kể, đáp ứng một phần nào đó nhu cầu lưu trú của khách du
lịch trong nước và quốc tế.


Khi gặp du khách nước ngoài nhân viên thường rất lúng túng trong giao tiếp, hướng dấn
hoặc đáp ứng nhu cầu của khách
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
23
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thanh Ngọc yếu về trình độ ngoại ngữ
- Khả năng lao động trong ngành du lịch đáp ứng được về trình độ ngoại ngữ chỉ chiếm
khoảng từ 8% đến 12% trong tổng số lao động của ngành du lịch
- Riêng về các thứ tiếng Pháp, Nhật, Đức rất hạn chế chỉ chiếm khoảng từ 5% đến 7%
- Đặc biệt về tiếng Anh là ngoại ngữ thông dụng nhất nhưng số lao động thành thạo
ngoại ngữ này chỉ có khoảng 18%, biết đủ để sử dụng giao tiếp 30%, số lượng còn lại hâù
như rất hạn chế về thứ ngôn ngữ này.
- Lao động trong ngành du lịch còn yếu về khả năng xử lý tình huống
Đặc biệt lao động trong ngành du lịch còn rất yếu về các kiến thức văn hóa chung,
kiến thức kinh tế, kiên thức về chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức về chính trị tư tuởng,…
Kiến thức văn hóa chung: sự hiểu biết còn hạn chế trong lĩnh vực văn học, lịch sử, địa lý,
hội họa, âm nhạc, quan hệ giao tiếp xã hội, phong tục tập quán,…
Kiến thức kinh tế: thiếu khả năng phân tích các hoạt động kinh tế, khă năng quản lý hoạt
động của các doanh nghiệp,…
Kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ: lao động trong ngành du lịch chưa nắm được những
kỹ năng kỹ xảo của nghiệp vụ du lịch
Ví dụ:
Nhân viên phục vụ nhà ăn, khách sạn còn thiếu kỹ xảo về các phương diện bày bàn ăn,
đưa thức ăn lên, rót rượu,…
Nhân viên phòng khách chưa nắm vững kỹ xảo phục vụ, đón khách, dọn dẹp phòng
khách,…
Kiến thức chính trị tư tưởng: lao động chưa có khả năng nhận diện đúng và dám đấu
tranh chống lại những việc làm sai trái gây ô nhiễm du lịch, ô nhiễm tinh thần.

Trích đoạn Biện pháp chung một số giải pháp cụ thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status