Công tác kế toán tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu tại công ty Thương mại -Dịch vụ Nhựa - Pdf 99

Lời Nói Đầu
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nớc ta tiếp tục hớng theo cơ chế thị trờng
có sự quản lý của nhà nớc, đòi hỏi các doanh nghiệp phải hết sức năng động nhạy
bén cốt lõi là phải thoả mãn nhu cầu của thị trờng, qua sự nhạy bén của các doanh
nghiệp nhà nớc liên doanh, t nhân tạo nên một sự cạnh tranh mạnh mẽ dã thúc đẩy
ngành nhựa nớc ta ngày càng phát triển.
Thông qua xuất nhập khẩu tiềm năng thế mạnh của mỗi quốc gia đợc phát huy
dựa trên cơ sở vận dụng lợi thế so sánh của mình tạo ra hiệu quả kinh tế cao cho
mỗi nớc cũng nh toàn bộ nền kinh tế thế giới. Do vậy mở rộng kinh tế đối ngoại
hiện nay đang là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong chiến lợc phát triển kinh tế
của các quốc gia nói chung cũng nh Việt Nam nói riêng.
Cùng sự chuyển đổi tích cực về đờng lối, quản lý vĩ mô của Đảng và nhà nớc
với sự chủ động sáng tạo của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hoá nhập khẩu trở lên sôi động, linh hoạt đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế
của đất nớc. Hoạt động nhập khẩu sẽ bổ xung nhu cầu trong nớc về một số mặt
hàng cha sản xuất đợc hoặc cha đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng, góp phần giải
quyết cong ăn việc làm, khắc phục những yếu kém về mặt kỹ thuật và công nghệ.
Đẩy mạnh qúa trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, tạo sức mạnh cho hoạt
động xuất khẩu góp phần không nhỏ vào việc Việt Nam hoà nhập với nền kinh tế
khu vực và thế giới.
Việc nâng cao hiệu quả của hoạt động nhập khẩu, không những duy trì sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất trong nớc
phát triển hoà nhập với nền kinh tế thế giới. Để hoạt động này có hiệu quả thì vấn
đề đầu tiên là phải có đợc thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác của quá trình nhập
khẩu từ đó mới tìm ra biện pháp đúng đắn cho việc thực hiện quá trình.
Nhận thấy đợc tầm quan trọng trên của công tác kế toán tiêu thụ hàng hoá nhập
khẩu cùng với kiến thức đợc trang bị trong nhà trờng và qua tìm hiểu thực tế tại
công ty Thơng mại -Dịch vụ Nhựa em đã chọn đề tài: Công tác kế toán tiêu
thụ hàng hoá nhập khẩu tại công ty Th ơng mại -Dịch vụ Nhựa.
1
Ngoài phần mở đầu và kết luận báo cáo có 3 nội dung chính bao gồm:

*Công tác tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu còn bổ xung kịp thời những mặt mất cân
đối của thị trờng nói chung, đảm bảo cho sự phát triển cân đối ổn định giúp cho
nhà doanh nghiệp tận dụng đợc mọi lợi thế so sánh của đất nớc.
Đặc điểm chủ yếu của hoạt động tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu bao gồm:
*Ngời mua là một doanh nghiệp khác nhau, có trình độ quản lý và tiêu dùng
cũng nh chính sách kinh tế của mỗi đơn vị, t nhân, tập thể cũng khác nhau.
*Điều kiện về mặt địa lý, phơng tiện chuyên chở, điều kiện thanh toán có ảnh h-
ởng không ít đến quá trình kinh doanh làm cho việc giao hàng và thanh toán gặp
khó khăn.
*Nội dung chủ yếu của bán hàng nhập khẩu là hạch toán các nghiệp vụ bán hàng,
mua hàng là hai hoạt động chi phối chính. Thời gian tiêu thụ hàng nhập khẩu th-
ờng chịu nhiều rủi do bởi các nhân tố bảo quản tiêu thụ lâu...
*Thu nhập chủ yếu của kinh doanh nhập khẩu là chênh lệch giữa giá bán và giá
vốn của hàng tiêu thụ, là nguồn để bù đắp chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp và thuế, nó phụ thuộc vào khối lợng hàng tiêu thụ giữa giá bán và giá vốn
của từng mặt hàng.
2. ý nghĩa và nhiệm vụ của công tác tiêu háo.
Trong quản lý kinh tế - tài chính của các doanh nghiệp, kế toán là một công cụ
sắc bén và có hiệu lực để thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra
3
quyết định và giám sát toàn bộ hoạt động kinh doanh. Đối với doanh nghiệp thơng
mại thì kế toán tiêu thụ hàng hoá là khâu quan trọng đảm bảo cho quản lý kinh
doanh đợc nhịp nhàng thông xuất đạt hiệu quả kinh tế cao đồng thời là yếu tố
quan trọng để xác định kết quả kinh doanh góp phần phát triển trờng tồn của
doanh nghiệp.
Kế toán tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu, là việc ghi chép, phản ảnh giám đốc các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh kể từ khi mua hàng, thanh toán tiền hàng, đến khi hàng
về bảo quản, dự chữ hàng cho đến khi tiêu thụ thu tiền bán hàng đồng thời phản
ảnh truy cứu trách nhiệm, đôn đốc, xử lý các trờng hợp thừa thiếu hao hụt, tổn thất
hàng hoá theo đúng quy chế.

- Phải thờng xuyên kiểm tra các chỉ tiêu kế hoạch mua hàng, bán hàng, dự trữ
đòng thời kiểm tra tiến độ thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đó.
- Thờng xuyên thực hiện các chế độ kiểm tra hàng hoá kịp thời phát hiện ngăn
ngừa những thiếu hụt, mất mát giúp lãnh đạo kịp thời xử lý các hành vi làm tổn hại
vật t, hàng hoá của doanh nghiệp và xử lý lợng hàng còn tồn đọng.
4
- Thống nhất đánh giá hàng hoá để phản ánh giá trị của hàng hoá trong sổ kế toán
chi tiết và tổng hợp.
II. Tổ chức công tác kế toán hàng hoá nhập khẩu.
Hoạt động tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu và xác định kết quả kinh doanh. Việc tổ
chức kế toán tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu dựa trên những nguyên tắc và cơ sở
chung của kế toán để xây dựng từ khâu lập chứng từ, xây dựng tài khoản kế toán
đến các báo cáo, xổ sách kế toán và tổ chức bộ máy kế toán nhằm tìm ra một mô
hình phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Chứng từ kế toán thờng dùng trong kế toán hàng hoá nhập khẩu.
Chứng từ kế toán là những minh chứng bằng giấy tờ về các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh và đã thực sự hoàn thành. Thông qua việc lập chứng từ mà kế toán kiểm
tra đợc tính hợp lý, hợp lệ của các nghiệp vụ kinh tế. Chứng từ kế toán không chỉ
là căn cứ ghi sổ, kiêm tra tình hình biến động tài chính mà còn là cơ sở để giải
quyết các tranh chấp, khiếu lại nếu xảy ra. Chứng từ kế toán thờng xuyên vận
động, sự vận động liên tục kế tiếp nhau từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của
chứng từ gọi là luân chuyển chứng từ. Luân chuyển chứng từ thờng đợc xác định
từ khâu lập ( hoặc tiếp nhận chứng từ bên ngoài ) đến khâu lu hay rộng hơn nữa là
đến khâu huỷ chứng từ. Vì vậy tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán hợp lý sẽ
giúp cho công tác kế toán tổng hợp đợc tiến hành nhanh chóng chính xác đảm bảo
cho yêu cầu quản lý.
Trong hoạt động tiêu thụ hàng nhập khẩu bộ chứng từ là cơ sở cho việc nhận
hàng thanh toán và ghi sổ bao gồm:
- Hoá đơn thơng mại ( commercial invice ): là chứng từ cơ bản của khâu thanh
toán, là yêu cầu của ngời bán đòi ngời mua phải trả số tiền hàng ghi trên hoá đơn.

tiện vận tải, bốc vác, khai báo khải quan, nộp thuế nhập khẩu, thuế GTGT của
hàng nhập khẩu...
Sự phân chia giữa hai bên và các chi phí giao hàng nh: chi phí chuyên chở hàng,
chi phí bốc giỡ, lu kho, bảo hiểm...
Sự duy chuyển từ ngời bán sang ngời mua những rủi ro tổn thất về hàng hoá.
Do nội dung của các điều kiện giao hàng hoá khá rộng rãi nên mỗi nớc, mỗi khu
vực có cách giải quyết khác nhau về cùng một điều kiện buôn bán quốc tế. Nh-
ng ở công ty TMDV Nhựa nói riêng hay ở Việt Nam thờng áp dụng hai điều kiện
FOB và CIF trong thanh toán quốc tế.
*Tính thuế GTGT theo phơng pháp khâu trừ, giá nhập kho của hàng nhập khẩu là
giá mua thực tế đợc xác định theo công thức:
- Thuế nhập khẩu đợc xác định theo công thức:
- Thuế GTGT của hàng nhập khẩu xác định:

*Khi tính thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp, giá nhập kho của hàng nhập
khẩu đợc xác định theo công thức:
6
=
Giá mua thực
tế hàng NK
Giá
CIF
+
Thuế
NK
Chi phí thu
mua hàng NK
+
-
Giảm giá

nhập khẩu phải nộp
=
)(
suấtNKThuếCIFGi
+
á
x
Thuế suất
thuế GTGT
b) Nguyên tắc xác định giá đối với hàng xuất kho của hàng nhập khẩu
Khi xuất hàng, kế toán phải xác định đợc giá hàng nhập khẩu, có nhiều phơng
pháp xác định giá hàng xuất bán, mỗi phơng pháp có các u nhợc điểm nhất định
do đơn vị có nhiều nghiệp vụ phát sinh nên kế toán thờng áp dụng phơng pháp
nhập trớc xuất trớc và một số phơng pháp khác.
- Phơng pháp nhập trớc xuất trớc: Theo phơng pháp này giả thiết số hàng này
nhập trớc xẽ xuất trớc, xuất hết số hàng nhập trớc mới đến số hàng nhập sau theo
giá thực tế của mặt hàng và nh vậy giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ sẽ là giá trị
thực tế của hàng mua và sau cùng trong kỳ. Phơng pháp này tính tơng đối hợp lý
nhng chỉ phù hợp với doanh nghiệp có ít doanh điểm hàng hoá.
- Phơng pháp bình quân cả kỳ dự trữ: Theo phơng pháp này căn cứ vào hàng tồn
kho đầu kỳ và nhập trong kỳ, kế toán tính giá trị bình quân của một đơn vị hàng
hoá, sau đó căn cứ vào giá đơn vị bình quân là lợng xuất trong kỳ để tính giá thực
tế của hàng xuất bán, theo công thức sau:
Xác định giá của hàng xuất bán trong kỳ:
Phơng pháp này có u điểm là tơng đối hợp lý, không bị phụ thuộc vào số lần
nhập kho. Tuy nhiên công việc tập trung vào cuối kỳ, khối lợng công tác kế toán
cuối kỳ sẽ tăng lên làm ảnh hởng đến việc lập báo cáo tài chính, mặt khác nó
không phản ánh đợc sự biến động giá cả hàng hoá. Phơng pháp này chỉ áp dụng ở
doanh nghiệp có ít doanh điểm hàng hoá, số lần nhập, xuất mỗi loại nhiều.
3. Tài khoản sử dụng

- TK 1562 Chi phí thu mua hàng hoá
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị thực tế của hàng hoá, tại kho ,tại
quầy,nhóm loại hàng hoá.
Bên nợ :
- Phản ảnh nghiệp vụ làm tăng giá thực tế của hàng hoá tại kho, tại quầy .
- Kết chuyển hàng tồn kho cuối kỳ.
Bên có :
- Giá trị thực tế của hàng hoá giảm giá trị do ( Xuất bán, giao đại lý giảm giá đợc
hởng)
- Phân bổ chi phí thu mua hàng tiêu dùng
- Kết chuyển hàng tồn đầu kỳ
D nợ : - Phản ánh giá trị thực tế, hàng tồn kho tồn quầy
TK 157 Hàng gủi bán: Tài khoản này phảp ánh giá trị mua của hàng gửi bán,
ký gửi đại lý cha đợc chấp nhận, thanh toán và có kết cấu nh sau.
Bên nợ :
- Phản ánh giá trị của hàng hoá gửi bán nhng cha đợc chấp nhận
Bên có :
- Giá trị của hàng đã đợc khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
- Giá trị của hàng gửi bán bị từ chối trả lại
D nợ : - Giá trị của hàng gửi bán cha đợc chấp nhận.
Tài khoản này đợc mở chi tiết cho từng loại khách hàng, cho từng lần gửi hàng
từ khi gửi cho đến khi chấp nhận thanh toán.
TK 511 Doanh thu bán hàng: Dùng đề phản ánh doanh thu bán hàng thực
tế của doanh nghiệp và các khoản giảm doanh thu tổng doanh thu ở đây có thể là
tổng giá thanh toán( Với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ).
Bên nợ :
- Các khoản giảm trừ doanh thu giảm giá hàng bán trả lại.
- Số thuế phải nộp(thuế nhập nhập khẩu,thuế tiêu thụ đặc biệt) tính trên doanh số
bán ra trong kỳ.
Doanh thu thuần và tài khoản xác định kết quả

642 chi phí quản lý doanh nghiệp ; TK 641 chi phí bán hàng ; TK 911 xác
định kết quả kinh doanh .
4. Hạch toán hàng nhập khẩu
Để quản lý hàng trong kho thì điều quan trọng doanh nghiệp phải vận dụng ph-
ơng pháp hạch toán chi tiết cho phù hợp với yêu cầu trình độ của đội ngũ kế toán
trong doanh nghiệp ở công ty TMDV Nhựa kế toán áp dụng thẻ song song.
- Điều kiện áp dụng : phơng pháp này áp dụng ở doanh nghiệp thuận lợi cho quá
trình nhập khẩu hàng hoá giá trị hàng hoá lớn cần có sự kiểm soát thờng xuyên với
mỗi loại hệ thống kho tàng tập trung kế toán doanh nghiệp đợc chuyên môn hoá.
- Theo phơng pháp này để phản ánh tình hình hiện có và biến động hàng hoá tại
kho phải mở thẻ để ghi chép về mặt số lợng còn ở phòng kế toán phải mở thẻ(sổ)
kế toán chi tiết hàng hoá để ghi chép về mặt số lợng giá trị.
Tại kho :
- Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh quá trình nhập xuất tồn kho hàng hoá về mặt
số lợng. Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho. Thẻ kho đợc mở cho từng doanh
nghiệp hàng hoá, hàng ngày hoặc định kỳ, sau khi ghi xong thẻ kho, thủ kho
chuyển chứng từ cho phòng kế toán và lập biên bản giao nhận chứng từ. Cuối
tháng kế toán tính ra số tồn kho, thẻ kho và đối chiếu với phòng kế toán.
- Tại phòng kế toán : hàng ngày hoặc định kỳ, sau khi nhận đợc các chứng từ
nhập xuất, kế toán kiểm tra đối chiếu ghi đơn giá hạch toán và tính ra số tồn. Sau
đó lần lợt chi các nghiệp vụ nhập xuất vào các sổ chi tiết hàng hoá rồi lập bảng
nhập xuất tồn hàng hoá để đối chiếu với thủ kho về mặt số lợng kế toán tổng hợp
về mặt giá trị.
- Phơng pháp thẻ song song : là một phơng pháp đơn giản dễ làm,có thể kiểm tra
chặt chẽ từng loại hàng hoá. Tuy nhiên với doanh nghiệp kinh doanh nhiều chủng
loại hàng hoá, khối lợng sẽ phải mở nhiều sổ, sẽ phải mất công sức do ghi chép
trùng lặp.
Sơ đồ hoạch toán chi tiết hàng hoá theo chi tiết thẻ song song
9
Ghi hàng ngày

302/CP của chính phủ, Bộ công nghiệp nhẹ và quyết định số 421/CNN-TCCB
ngày 01/12/1987 đổi tên công ty tạp phẩm thành liên hiệp các xí nghiệp nhựa và
tạp phẩm. Cuối năm 1989, một số đơn vị thành viên chuyển sở quản lý sang chức
năng khác, chuyển liên hiệp sản xuất, xuất-nhập khẩu nhựa hoạt động theo nghị
định 27/HĐBT ngày 22/02/1988. Để giúp cho việc chuyển biến mạnh mẽ phù hợp
với cơ chế thị trờng, đồng thời mở rộng quyền tự chủ trong sản xuất thành doanh
nhập - xuất khẩu (tạp phẩm) thành Tổng công ty Việt Nam ngày 15/03/1993.
Ngày 26/12/1994 Bộ trởng bộ công nghiệp trình thủ tớng đơn xin thành lập doanh
nghiệp nhà nớc, công văn số 2492/KTKH với tên gọi công ty nhựa Việt Nam và
nay theo quyết định số 1189/QĐ -TCCB ngày 07/05/1996 thành lập lại Tổng công
ty nhựa Việt Nam.
Mặc dù có sự biến động về mặt tổ chức, tên có nhiều thay đổi nhng trong 23
năm qua (1979-2003) Tổng công ty nhựa đã sản xuất và mang lại hiệu quả cao,
nhịp độ tăng trởng phần trăm trong toàn ngành đạt 27%/năm.
Những năm qua, với đà phát triển nhanh, nhịp độ tăng trởng cao của ngành
nhựa, cũng nh mục tiêu sản xuất, xuất -nhập khẩu đến năm 2005 mà chiến lợc
ngành nhựa đã đặt ra đòi hỏi phải có tổ chức mang tính kế thừa của chi nhánh trớc
đây để phát triển đủ làm vợt doanh nghiệp vừa kinh doanh vừa phục vụ cho các
doanh nghiệp sản xuất quốc doanh Trung Ương, địa phơng và các thành phần kinh
tế khác. Chính vì sự cần thiết nh vậy mà đầu năm 1996 theo quyết định 2999/QĐ-
TCCB của bộ công nghiệp, công ty TMDV Nhựa đã chính thức thành lập trên cơ
sở trớc đây là chi nhánh phía bắc của tổng công ty nhựa Việt Nam.
Việc tổ chức thành lập công ty TMDV Nhựa là cần thiết góp phần vào sự cần
thiết phát triển ngành nhựa Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Cùng với sự đi lên của xã hội, sự cạnh tranh trong cơ chế thị trờng, công ty
TMDV Nhựa đã hoạt động và trải qua nhiều biến đổi thăng trầm để tự khẳng định
mình hoà nhập với nền kinh tế năng động, không ngừng đi lên bám sát nhiệm vụ
và lấy sự phát triển của ngành làm phơng hớng phát triển của mình, 2. Đặc điểm
tổ chức kinh doanh của công ty TMDV Nhựa.
2.1.Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty.

2.3. Các đối thủ cạnh tranh.
Kinh doanh mặt hàng nhựa tạo ra lợi nhuận cao mà việc đầu t chỉ cần quy mô
vừa phải, giá thành hạ cho nên trong những năm gần đây thị trờng đã dung nạp rất
nhiều các doanh nghiệp đầu t vào ngành hàng có nhiều tiềm năng khai thác này.
Cho nên công ty phải đối phó cạnh tranh gay gắt với rất nhiều doanh nghiệp có
cùng lĩnh vực kinh doanh đó là công ty liên doanh Mitsui ViNa vừa mới ra đời có
u thế trong nớc nên giá cả hợp lý, chất lợng đảm bảo theo tiêu chuẩn của Nhật. đó
là công ty hoá chất có lợi thế vốn lớn hơn hay một số tiêu chuẩn kinh doanh của
Thái Lan, Hàn Quốc. Lợi thế của các đối thủ cạnh tranh là họ có cơ sở vật chất
mạnh và hiện đại, một số doanh nghiệp sản xuất đã hình thành lên bộ phận kinh
doanh chuyên tiêu thụ sản phẩm trực tiếp cho khách hàng chứ không qua trung
gian là các công ty thơng mại nh công ty nữa.
3. Đặc điểm tổ chức bộ máy của công ty TMDV Nhựa.
Công ty TMDV Nhựa là một đơn vị thành viên của tổng công ty nhựa Việt
Nam tiêu biểu cho loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ với bộ máy gọn nhẹ đảm
bảo phục vụ cho nhu cầu, nhiệm vụ do tổng công ty đề ra, tạo lập năng lực hoạt
động của công ty, thúc đẩy kinh doanh phát triển tiết kiệm chi phí và nâng cao
hiệu quả kinh tế. Qua tổ chức tìm hiểu hoạt động kinh doanh, tại công ty TMDV
Nhựa đợc xây dựng theo cơ cấu trực tuyến- chức năng thể hiện qua sơ đồ sau:
12

Trích đoạn Lựa chọn hớng đề tài tốt nghiệp tại công ty TMDV Nhựa Hà Nội.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status