Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa” - Pdf 99

“Giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại
Chi nhánh Ngân hàng Công
thương khu vực Đống Đa”
1
LỜI NÓI ĐẦU
Công cuộc đổi mới của nền kinh tế Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Đảng và
Nhà nước những năm qua đã thu được những thành tựu đáng kể (mức tăng trưởng
GDP bình quân đạt 7-9%, kiềm chế lạm phát ở mức một con số, thị trường trong
nước và quốc tế ngày càng được mở rộng ). Có được những kết quả này là nhờ
một phần không nh
ỏ vào sự thành công trong hoạt động thương mại quốc tế của
Việt Nam thông qua việc thực hiện tốt chính sách kinh tế mở và tiến hành các biện
pháp cải cách kinh tế trên nhiều mặt theo xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá.
Nhiều năm trước đây, hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam chưa phát
triển đúng với khả năng và phát huy tốt vai trò của nó đối với sự
phát triển kinh tế.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế này và một trong những nguyên nhân cơ
bản là chúng ta thiếu những nguồn vốn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu trong
đó đặc biệt phải kể đến là nguồn tín dụng ngân hàng.
Việc phát triển hình thức tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng không chỉ
mang lại lợi ích cho hoạt động xuất nhập khẩu mà còn mang lại lợi ích cho toàn xã
hộ
i và ngay cả bản thân ngân hàng bởi tín dụng là hoạt động sinh lời chủ yếu của
ngân hàng. Nhận thức rõ vấn đề đó, Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực
Đống Đa là một ngân hàng chủ lực trong lĩnh vực công thương nghiệp đã triển khai
đã bắt đầu triển khai hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu và bước đầu đã có những
thành công nhất định.
Tuy nhiên, hoạt động tín dụng xuất nhậ
p khẩu của Ngan hang Cong thuong
Dong Da còn nhiều hạn chế, chất lượng tín dụng chưa cao. Do vậy, việc nâng cao


3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
1.1.1. Sự cần thiết phát triển hoạt động xuất nhập khẩu và nhu cầu tài trợ cho xuất
nhập khẩu
1.1.1.1. Sự cần thiết phát triển hoạt động xuất nhập khẩu
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào nền
sản xuất trong nước mà còn phải quan hệ với các nước bên ngoài. Do có sự khác
nhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu mà mỗi quốc gia có thế mạnh
trong việc sản xuất một số mặt hàng nhất định. Để
đạt được hiệu quả kinh tế đồng
thời đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày một đa dạng ở trong nước, các quốc gia
đều mong muốn có được những sản phẩm chất lượng cao với giá rẻ hơn từ các nước
khác đồng thời mở rộng được thị trường tiêu thụ đối với các sản phẩm thế mạnh của
mình. Chính từ mong muốn đó đã làm n
ảy sinh nhu cầu mua bán trao đổi quốc tế
(hay thương mại quốc tế).
Hoạt động thương mại quốc tế thông qua mối quan hệ rộng rãi vượt ra ngoài
biên giới quốc gia sẽ là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế bên
ngoài, đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế ở mỗi khu vực
và trên toàn thế giới.
Thương mại quố
c tế được cấu thành bởi hai bộ phận cơ bản xuất khẩu và nhập
khẩu. Do vậy, xác định được vai trò quan trọng cũng như có sự quan tâm thích đáng
đến hoạt động xuất nhập khẩu là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động thương mại
quốc tế.

sự ổn định về cung-cầu trong nước và cao hơn là s
ự ổn định kinh tế vĩ mô.
- Nhập khẩu có tác động đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật,
đổi mới công nghệ tạo tiền đề thuận lợi cho sản xuất.
- Ngoài ra, nhập khẩu còn có vai trò thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc cung
cấp các nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho xuất khẩu cũng như góp
phần định hướng sản phẩm, định hướ
ng thị trường.
Cuối cùng, một vai trò hết sức quan trọng của cả xuất và nhập khẩu đối với sự
phát triển kinh tế-xã hội đó là tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân và
mở rộng hợp tác quốc tế.
1.1.1.2. Nhu cầu tài trợ cho xuất nhập khẩu
5
Do hoạt động thương mại quốc tế hiện nay là rất đa dạng và vì thế cũng hết
sức phức tạp (nó bao gồm nhiều mối quan hệ như: thương mại giữa các nước phát
triển, giữa các nước đang phát triển, giữa các nước phát triển và đang phát triển )
nên để phù hợp với điều kiện Việt Nam cũng như với đề tài nghiên cứu, ở đ
ây tôi
chỉ xin đề cập đến hoạt động thương mại quốc tế giữa các nước phát triển và đang
phát triển.
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển chủ
yếu là hàng hoá tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, kỹ thuật, công nghệ. Đây là
những hàng hoá mà để hoàn thành hoạt động xuất khẩu cần phải trải qua nhiều giai
đoạ
n khác nhau từ phân tích nhu cầu, kí kết hợp đồng, sản xuất cung ứng, lắp ráp
chạy thử đến thanh toán tiền hàng. Nhu cầu tài trợ thường để đáp ứng các chi phí
cho quảng cáo, thiết kế mẫu mã, sản xuất và cung cấp công trình.
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển chủ
yếu là các mặt như nông, lâm, thuỷ hải sản, hàng thô hay mới qua sơ chế Và nhu
cầu tài trợ thường là để

Trường hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhập khẩu là
người nước ngoài đang gặp khó khăn và không có khả năng đặt cọc từ nguồn vốn
riêng của mình thì nhà xuất khẩu có thể
đề nghị ngân hàng của mình một tài trợ đặt
cọc có lợi cho đối tác thương mại của mình.
+ Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã kí hợp đồng, nhà xuất khẩu sẽ tiến
hành chuẩn bị sản xuất. Nhất là việc xây dựng các công trình lớn như, nhà máy, xí
nghiệp việc này thường đi kèm với chi phí lớn vượt quá mức đặt cọc.
+ Giai đoạn sả
n xuất: Mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh toán tiếp
theo của người mua, trong thời gian này thường nảy sinh các nhu cầu tài chính cao
về vật tư và chi phí liên quan khác vượt qua các khoản thanh toán giữa chừng.
Ngoài ra, với các mặt hàng lớn như máy móc công nghệ thì nhiều khi nhà xuất
khẩu còn cần phải được tài trợ cho các chi phí xây dựng kho bãi, chuẩn bị mặt bằng
sản xuất, đào tạo người sử dụng máy móc ở n
ước nhập khẩu.
+ Giai đoạn cung ứng: Ngay cả trong giai đoạn cung ứng cũng có thể nảy
sinh các chi phí cần được tài trợ như chi phí vận tải, bảo hiểm tuỳ theo điều kiện
cung ứng.
+ Giai đoạn lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Sau khi hàng hoá được
bàn giao tới địa điểm qui định, nhà xuất khẩu còn cần chi phí cho lắp ráp chạy thử
cho tới khi được người mua thu nh
ận và chấp nhận thanh toán.
+ Giai đoạn bảo hành: Trong giai đoạn này người mua có quyền yêu cầu
được bảo hành ở ngân hàng của nhà xuất khẩu trước khi thanh toán.
+ Thanh toán: Hiện nay, để việc cung cấp hàng hoá xuất khẩu được thuận lợi
người xuất khẩu thường phải dành cho người mua một ưu đãi thanh toán trong
7
nhiều năm mà người xuất khẩu và ngân hàng của họ có thể chấp nhận được. Nhu
cầu tài trợ ở giai đoạn này thường lớn để đảm bảo vốn cho quá trình tái sản xuất

Qua việ
c xem xét nhu cầu tài trợ cho xuất nhập khẩu ở trên ta có thể khẳng
định rằng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có một nhu cầu tài trợ rất lớn. Vậy
8
thì để đáp ứng cho nhu cầu đó có những nguồn tài trợ nào. Dưới đây là một số
nguồn tài trợ thường dùng cho xuất nhập khẩu.
1.1.2. Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những hoạt động kinh tế cơ bản, do
vậy nó cũng được tài trợ từ rất nhiều nguồn khác nhau. Trong đó, những nguồn tài
trợ thường được sử dụng là:
- Tín dụng thương mại (hay tín dụng nhà cung cấp): là nguồn tài trợ được
thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ với các công cụ chủ
yêú là kỳ phiếu và h
ối phiếu. Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn được ưa dùng vì dễ thực
hiện, khả năng chuyển thành tiền mặt cao (thông qua chiết khấu tại các ngân hàng),
linh hoạt về thời hạn. Tuy nhiên, các công cụ như hối phiếu thường được sử dụng
trên cơ sở có ngân hàng đứng ra chấp nhận hay bảo đảm.
- Các khoản phải nộp phải trả: Bao gồm: thuế phải nộp như
ng chưa nộp,
phải trả cán bộ công nhân viên và các khoản phải trả phải nộp khác. Đây là nguồn
tài trợ mang tính thời điểm cao vì nó thường nhỏ và ít ổn định.
- Vốn tự có: Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp khác nhau mà vốn tự có có thể là
vốn Ngân sách cấp, vốn cổ phần của các sáng lập viên công ty cổ phần hay vốn của
chủ doanh nghiệp tư nhân.
Vốn tự có chủ yếu bao gồ
m vốn khi thành lập doanh nghiệp như nói trên và
phần lợi nhuận để lại cộng khấu hao. Sử dụng vốn tự có doanh nghiệp có thể giảm
được hệ số nợ, tạo sự chủ động trong kinh doanh. Tuy vậy, nguồn tài trợ này có hạn
chế là qui mô không lớn và nhiều khi chi phí cơ hội của việc giữ lại lợi nhuận cao.
- Phát hành cổ phiếu: Với các doanh nghiệp trong điều ki

nhập kh
ẩu còn có thể được tài trợ bằng các nguồn như đầu tư nước ngoài, vay nợ
viện trợ của nước ngoài, hỗ trợ của Chính phủ Hiện nay các nguồn này thường
cũng được sử dụng thông qua các Ngân hàng.
Như vậy, nguồn tài trợ cho xuất nhập khẩu rất đa dạng nhưng trong đó nguồn
tín dụng ngân hàng nắm giữ một vị trí đặc biệt bởi nó có thể đượ
c cung cấp thông
qua nhiều hình thức cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau và các hình thức tài trợ
khác muốn thực hiện được phần nào cũng cần sự hỗ trợ từ phía ngân hàng.

1.1.3. Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu
1.1.3.1. Khái niệm, vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập
khẩu
 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế được rất nhiều nhà kinh tế học đề
cập đến và do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về tín dụng.
10
Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì: tín dụng là một quan hệ xã hội giữa
người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua sự vận
động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng
tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên doanh trên lĩnh v
ực tiền
tệ với một bên là các tổ chức, đơn vị kinh tế-xã hội, các cơ quan Nhà nước và các
tầng lớp dân cư ”.
Tín dụng ngân hàng ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhờ có khả năng
đáp ứng tốt mọi nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà nó đã không ngừng
được mở rộng sang tất cả các ngành, lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực kinh
tế đối ngoại mà cụ thể hơn là hoạt động xuất nhập khẩu, nó đã trở thành một nguồn
tài trợ không thể thiếu đối với hoạt động xuất nhập khẩu của các quốc gia.

Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu càng có ý
nghĩa hơn khi ngân hàng thực hiện các chính sách của Nhà nước, trong đó có chính
sách hướng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ngân hàng sẽ cung cấp cho các nhà
xuất nhập khẩu những khoản tín dụng lớn với lãi suất ưu đãi mà nhờ đó họ có thể
giải quyết vấn đề thiế
u vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
.1.3.0 C
ác hình thức và qui trình tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại bao gồm nhiều hình thức
khác nhau và tuỳ trình độ phát triển của ngân hàng và những qui định của pháp luật
mà các ngân hàng lựa chọn áp dụng các hình thức cho phù hợp. Dưới đây ta sẽ xem
xét một số hình thức tín dụng xuất khẩu và tín dụng nhập kh
ẩu thông dụng.
1.1.3.2.1.Tín dụng xuất khẩu
Ngân hàng thương mại cho các cơ sở xuất khẩu vay dưới các hình thức như
cho vay thông thường, cho vay trên cơ sở hối phiếu, cho vay trên cơ sở phương
thức thanh toán nhờ thu, cho vay trên cơ sở phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ
 Cho vay thông thường
Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền
để họ sử dụng trong một thời gian nhất định. Khi hết h
ạn, người vay phải trả đầy đủ
cả gốc và lãi. Đây là hình thức tín dụng truyền thống, về kỹ thuật và phương pháp
cho vay giống như các dạng tín dụng nội địa tương ứng thông thường khác. Nó bao
gồm các phương thức như cho vay một lần, cho vay theo hạn mức tín dụng và cho
vay theo hợp đồng tín dụng tuần hoàn. Đối với các nhà xuất khẩu hình thức tín dụng
này ngoài việc được sử d
ụng cho các mục đích thu mua sản xuất, chế biến xuất
12
khẩu, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động nó còn được sử dụng để trang trải các chi phí

 Chiết khấu bộ chứng từ hàng hoá
Đây là hình thức tín dụng của ngân hàng cấp cho nhà xuất khẩu trên cơ sở
chiết khấu bộ chứng từ trước khi đến hạn thanh toán. Với hình thức này ngân hàng
13
tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu có thể thu hồi được vốn nhanh tương tự như chiết
khấu hối phiếu. Tỉ lệ chiết khấu phụ thuộc vào phương thức chiết khấu:
- Chiết khấu bảo lưu quyền truy đòi: là ngân hàng sau khi thực hiện chiết khấu
bộ chứng từ, sẽ quay lại truy đòi nhà xuất khẩu nếu bên nước ngoài từ
chối thanh
toán, lãi xuất chiết khấu trong trường hợp này thường thấp.
- Chiết khấu miễn truy đòi: là trường hợp ngân hàng mua đứt bộ chứng từ, nếu
bên nước ngoài không thanh toán thì ngân hàng chiết khấu chịu rủi ro, không được
truy đòi lại khách hàng. Tỉ lệ chiết khấu này thường cao.
 Tín dụng ứng trước cho người xuất khẩu
Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện hợp đồng xu
ất khẩu các doanh nghiệp
cũng có thể đề nghị ngân hàng tạm ứng cho một nghiệp vụ xuất khẩu cho đến khi
thu được lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu. Hình thức tín dụng này bao gồm hai
hình thức cơ bản sau:
- Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ : Sau khi lập
song bộ chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm và các chứng từ
liên quan khác,
nhà xuất khẩu sẽ nộp lên ngân hàng của mình nhờ thu hộ tiền. Ngân hàng của nhà
xuất khẩu sẽ chuyển đến ngân hàng của nhà nhập khẩu (hoặc ngân hàng giao dịch)
với chỉ thị chỉ giao chứng từ khi đã thanh toán (điều kiện D/P: Documents against
Payment) hoặc chấp nhận một hối phiếu đòi nợ kèm theo (điều kiện D/A:
Documents against Acceptance).
Trong nghiệp vụ này ngân hàng tham gia chủ yếu với tư cách trung gian,
thự
c hiện và thừa hành theo uỷ nhiệm để giảm bớt những rủi ro về tiêu thụ, thanh

trước. Ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận sẽ thu hồi số tiền ứng trước
cộng với lãi sau khi ngân hàng mở L/C thanh toán (nếu có bộ chứng từ phù hợp).
Bên cạnh đó, các ngân hàng này cũng có quyền đòi số tiền này ở ngân hàng mở
L/C nếu nhà xuất khẩu vì một lí do gì đó không xuất trình được chứng từ phù hợp
với điều kiện của L/C.
Lời lẽ trong điều khoản đỏ có thể thay đổi tuỳ từng ngân hàng nhưng tựu trung
có hai loại:
- Điều khoản đỏ trơn: Tiền được ứng trước với điều kiện người xuất khẩu cam
kết bằng văn bản tiền sẽ được sử dụng đúng mục đích quy định.
- Điều khoản đỏ chứng t
ừ: Tiền sẽ được ứng trước nếu nhà xuất khẩu cam kết
cung cấp giấy nhập kho hoặc các chứng từ khác chứng minh quyền sở hữu hàng hoá
và sau đó xuất trình các chứng từ thanh toán phù hợp với thư tín dụng.

1.1.3.2.2. Tín dụng nhập khẩu
Các ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu dưới các hình
thức như cho vay mở thư tín dụng, chấp nhận hối phiếu, cho vay th
ấu chi
Cho vay mở L/C
15
Thư tín dụng L/C là một văn bản pháp lí trong đó ngân hàng mở L/C cam kết
trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng phù hợp với những nội
dung của L/C. Thư tín dụng có tính chất quan trọng là nó được hình thành trên cơ
sở của hợp đồng mua bán nhưng sau khi được thiết lập, nó lại độc lập hoàn toàn với
hoạt động mua bán.
Ngay việc mở L/C đã thể
hiện việc cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu bởi
vì mọi thư tín dụng đều do ngân hàng mở theo đề nghị của nhà nhập khẩu nhưng
không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng có đủ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán tại ngân hàng, trong khi đó L/C lại là một đảm bảo thanh toán của ngân hàng

NH phát
hành L/C
16
(3) Khi nhận được thông báo trên ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho nhà xuất
khẩu toàn bộ nội dung về việc mở L/C và khi nhận được bản gốc L/C thì chuyển
ngay cho người xuất khẩu.
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng nếu không
thì đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng.
(5) Sau khi giao hàng người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu c
ầu của L/C và
xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở L/C xin thanh toán.
(6) Ngân hàng thông báo gửi chứng từ cho ngân hàng phát hành yêu cầu thanh toán
cho nhà xuất khẩu
(7) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến
hành trả tiền cho nhà xuất khẩu , nếu không thấy phù hợp thì từ chối thanh toán và
gửi trả lại bộ chứng từ cho người xuất khẩu.
(8) Ngân hàng mở L/C đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyể
n bộ chứng từ cho người
nhập khẩu sau khi nhận tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
Ngày nhận nợ được và tính lãi khoản cho vay mở L/C là ngày nhà nhập khẩu
phải thanh toán cho nhà xuất khẩu (ngày đến hạn thanh toán L/C)
Cho vay mở L/C có ưu điểm là cung cấp tín dụng kịp thời cho hoạt động nhập
khẩu. Tuy nhiên cũng có rủi ro cho ngân hàng vì L/C chỉ được xử lí trên cơ sở
chứng từ chứ không căn cứ
trên hàng hoá, nếu hàng hoá kém giá trị hay hư hỏng thì
ngân hàng dễ bị tổn thất.
Tín dụng chấp nhận hối phiếu
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là hình thức tín dụng được thực hiện trên cơ sở
ngân hàng kí hợp đồng tín dụng với nhà nhập khẩu. Trong đó, các ngân hàng cam
kết chấp nhận các hối phiếu mà khách hàng của mình phải thanh toán. Hình thức tín

cho nhà xuất khẩu để hưởng hoa hồng.

 Tín dụng ứng trước cho nhập khẩu
Cũng như các nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu cũng rất c
ần được cho vay theo
hình thức ứng trước của ngân hàng. Đó là khi họ cần phải thanh toán tiền mặt cho
nhà xuất khẩu. Ngoài ra, nhà nhập khẩu cũng có thể phát sinh nhu cầu tài trợ để
thanh toán cho bộ chứng từ khi hàng hoá chưa về đến cảng và doanh nghiệp chưa
tiêu thụ được hàng hoá để thu hồi vốn. Ngân hàng tài trợ trong trường hợp này có
thể sử dụng các chứng từ hàng hoá làm vật đảm bảo. Đây cũng ch
ỉ là việc tài trợ
cho các mục tiêu thanh toán ngắn hạn của ngân hàng dành cho các nhà nhập khẩu. 1.2. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
Tín dụng xuất nhập khẩu ngoài vai trò là một hình thức tài trợ cho các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu nó còn là một loại sản phẩm dịch vụ và vì thế để hiểu được
18
chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu ta cần phải hiểu được khái niệm về chất lượng
sản phẩm. Chất lượng sản phẩm theo hiệp hội tiêu chuẩn Pháp là: năng lực của một
sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng.
Từ đó, chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu đượ
c hiểu là sự đáp ứng một cách
tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn và hạn
chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận cho ngân hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế
đối ngoại nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội nói chung. Nói cách khác, một
khoản tín dụng xuất nhập khẩu có chất lượng phải đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích
của ba bên Ngân hàng, các doanh nghiệp ho
ạt động xuất nhập khẩu và của xã hội.

vay nhiều chưa hẳn là đưa đến chất lưọ
ng tín dụng cao vì lãi suất với các khoản
vốn vay thương mại thường lớn trong khi ngân hàng khó có thể cho vay với lãi suất
quá cao hơn do phải cạnh tranh lãi suất để thu hút khách hàng.

Doanh số cho vay trong kì
 Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ trong kì

Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tổ chức, quản lí vốn tín dụng, đồng thời thể
hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng trong việc sử dụng hi
ệu quả nguồn vốn tín
dụng và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Để có thể đánh giá chính xác chất lượng tín
dụng, các tiêu chuẩn tính toán cần phải đồng nhất trong việc áp dụng đối với từng
loại cho vay cụ thể.
 Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ : Nợ quá hạn là những khoản nợ đã đến
hạn thanh toán nhưng khách hàng chưa trả được. Ngân hàng có chỉ tiêu nợ
quá hạn
trên tổng dư nợ càng thấp khả năng gặp rủi ro càng thấp chất lượng tín dụng càng
cao . Chỉ tiêu này lại chia ra hai chỉ tiêu cụ thể hơn:

Nợ quá hạn từ 6-12 tháng
 Tỉ lệ nợ quá hạn khê đọng =
Tổng dư nợ

Đây là một trong những chỉ tiêu định lượng quan trọng nhất phản ánh chất
lượng tín dụng củ
a khoản tín dụng. Nếu tỉ lệ này càng cao mà ngân hàng không có
biện pháp xử lí kịp thời thì khả năng tổn thất của ngân hàng càng lớn.


Tổng dư nợ tín dụng xu
ất nhập khẩu Nợ khê đọng tín dụng xuất nhập khẩu
21
 Nợ quá hạn khê đọng =
Tổng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu Nợ quá hạn tín dụng xuất nhập khẩu
 Nợ quá hạn khó đòi =
Tổng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu

22

Lợi nhuận từ tín dụng xuất nhập khẩu
 Chỉ tiêu lợi nhuận =
Tổng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng xuất nhập khẩu. Nó cho
biết có bao nhiêu đồng lợi nhuận được sinh ra từ một đồng dư nợ. Chất lượng tín
dụng tốt phải gồm cả l
ợi nhuận mà tín dụng đó mang lại cho ngân hàng.
Với những chỉ tiêu trên đây ta mới chỉ có thể xem xét được khoản tín dụng
xuất nhập khẩu có chất lượng tốt hay không . Nhưng vấn đề đặt ra không phải chỉ
dừng lại ở đó mà là phải tìm ra các giải pháp để khắc phục các hạn chế và phát huy
những mặt mạnh nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho hoạt động sau này. Tức là
ta c
ần phải nắm bắt được các nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng xuất nhập

nghiệp. Nếu nguồn vốn không được huy động đầy đủ về số lượng và phù hợp về
thời hạn cũng như loại tiền thì ngân hàng khó có thể đáp ứng được các nhu cầu đa
dạng của khách hàng một cách nhanh chóng và đầy đủ. Do vậy, chất lượng tín dụng
khó có thể được nâng cao, thậm chí còn trở nên kém hơn.
- Công tác tổ chức của ngân hàng: Một ngân hàng có cơ cấu tổ chức khoa
học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cán bộ nhân viên
trong cùng một phòng, giữa các phòng ban với nhau và cao hơn là giữa các ngân
hàng trong cùng hệ thống, từ đó nắm bắt và triển khai tốt việc đáp ứng nhu cầu
khách hàng, nâng cao được chất lượng hoạt động tín dụng và đảm bảo được tính
th
ống nhất và hiệu quả trong quá trình hoạt động. Ngoài ra Ngân hàng còn phải
hạch toán lỗ lãi theo sản phẩm, dịch vụ, theo nhóm khách hàng, theo thị trường và
không ngừng nâng cao uy tín quốc tế của Ngân hàng qua các công ty đánh giá xếp
hạng.
- Trình độ đội ngũ cán bộ, nhân viên tín dụng xuất nhập khẩu: Đây có thể
coi là yếu tố quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của không chỉ
hoạt động tín dụng mà cả
sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Hoạt động kinh tế
đối ngoại càng phức tạp, công nghệ ngân hàng càng hiện đại thì đòi hỏi trình độ,
năng lực của cán bộ ngân hàng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu phải được nâng cao
hơn. Với một đội ngũ cán bộ nhân viên có nghiệp vụ giỏi, có đạo đức và năng lực
trong sáng tạo - quản lí, hiểu biết về hoạt độ
ng kinh doanh xuất nhập khẩu và thông
lệ quốc tế sẽ giúp ngân hàng hạn chế được những rủi ro, nắm bắt được những cơ hội
tốt để cho vay và tất yếu sẽ dẫn đến nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
của ngân hàng .
- Qui trình tín dụng: Đây là những trình tự, những giai đoạn, những bước,
công việc cần phải thực hiện theo một th
ủ tục nhất định trong việc cho vay bắt đầu
từ việc xem xét đơn xin vay của khách hàng đến khi thu nợ nhằm bảo đảm an toàn

ng như việc
chấp hành những qui định pháp luật, nội dung, qui chế, chính sách kinh doanh, thủ
tục tín dụng từ đó giúp Ban lãnh đạo có những đường lối, chủ trương đúng đắn, giải
quyết những khó khăn, vướng mắc, phát huy những nhân tố thuận lợi, nâng cao
hiệu quả kinh doanh. Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu phụ thuộc vào việc chấp
hành những qui chế, thể lệ, chính sách và mứ
c độ kịp thời phát hiện sai sót cũng

Trích đoạn Triển khai Marketing ngân hàng trong hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu Đối với Nhàn ước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status