TIỂU LUẬN
“Nhân tố con người trong lực lượng
sản xuất với chiến lược phát triển
giáo dục đào tạo nguồn nhân lực theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở việt nam trong thời kỳ quá độ”
Tiểu luận Triết học
1
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của kinh tế tri thức, đòi hỏi mỗi
con người phải được đào tạo trình độ học vấn, năng lực ; tu dưỡng rèn luyện
phẩm chất đạo đức, ý thức lao động tốt hơn để có thể đáp ứng những yêu cầu
của sự biến đổi khoa học công nghệ hết sức nhanh chóng.
Trong sự nghi
ệp đổi mới CNH, HĐH đất nước với những mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hiện nay, con
người và nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết
biến giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình.
Như vậy, xét về mặt tính chất thì khái niệm LLSX, nó phản ánh một
số tính chất c
ăn bản sau:
Trước hết, nó phản ánh quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất. Là động vật cao cấp nhất, là tinh hoa của muôn loài, con
người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của giới tự nhiên.
Con ngưòi phải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời
sống tự nhiên như thức ăn, thức uống, nhà để
ở. Theo một số nhà nhân học
khẳng định nhánh người bắt đầu hình thành rõ cách đây khoảng 10 triệu năm
bắt đầu từ “vượn người ”. Khi đó vượn người đã biết sử dụng gậy gộc, đá,
xương động vật làm công cụ và bắt đàu biết chế tạo công cụ lao động thô sơ
cũng như dùng lửa. Nhưng cuộc sống của loài vượn vẫ
n theo quy luật sinh
vật : sống hoà lẫn vào thiên nhiên, sinh sống hoàn toàn tuỳ theo bản năng
vốn có trong cơ thể và những thứ sẵn có trong tự nhiên, có thể nói là hoàn
toàn phụ thuộc vào tự nhiên.Theo thời gian vượn người tiến hoá thành người
khéo, người đứng thẳng, người khôn và con người hiện đại ngày nay. Nhưng
sự tiến hoá ấy không làm thay đổi mối quan hệ mật thiết giữa con người với
tự nhiên. Ngày nay, con người vẫn đang chinh ph
ục tự nhiên bằng nhiều
hình thức và phương pháp khác nhau. Như vậy, ngay từ thời kỳ sơ khai nhất,
con người đã biết dựa vào những thứ vốn có trong tự nhiên để cải biến nó
Tiểu luận Triết học
3
theo nhu cầu sinh tồn và phục vụ nhu cầu sống của mình. Do đó ta thấy rõ
một sự thật tất yếu khách quan là con người không thể tồn tại nếu không có
mối quan hệ mật thiết, gắn kết chặt chẽ với tự nhiên.
4
phục tự nhiên của con người đã bước lên một mốc son mới, đánh dấu một
bước phát triển cao của tiến bộ loài người. Cũng chính trong giai đoạn này
con người đã dần dần chiếm thế chủ động trong quá trình lao động sản xuất.
Mặt khác, LLSX có tính khách quan trong quá trình sản xuất. Thật
vậy không có một quá trình sản xuất nào mà lại không cần đến sức lao động
của con người hay nh
ững yếu tố sẵn có trong tự nhiên. Nói cách khác trong
quá trình sản xuất vật chất không thể không cần đến LLSX.
b. Cấu trúc LLSX.
LLSX bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất.
Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con
người vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội.
Chính những người lao độ
ng là chủ thể của quá trình lao động sản
xuất, với sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động
trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất
ra của cải vật chất.
Bước kinh tế tri thức, sự phát triển của LLSX biểu hiện ở hai mặt :
. Trí lực đóng vai trò chủ đạo, t
ức là sẽ xuất hiện một tầng lớp lao động trí óc
đông đảo hợp thành chủ thể trong đội ngũ những người lao động.
. Những nhân tố mới thúc đẩy LLSX sẽ được phát triển rộng khắp.
Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động. Con
người không thể SXVC mà không cần đến những yếu tố sẵn có trong tự
nhiên như đất, nước, khoáng sản, không khí, … Đó chính là những đối
tượng lao động. Đặc trưng nổi bật của công cụ sản xuất và đối tượng lao
động biểu hiện chủ yếu ở sự gia tăng hàm lượng khoa học và công nghệ,
Tiểu luận Triết học
6
Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ
thời cổ đại đến hiện đại. Trong đó quan niệm của triết học Mac-Lênin về
con người và bản chất con người, xuất phát từ giác độ khái quát nhất, đứng
trên lập trường duy vật biên chứng, làm cơ sở phương pháp luận cho việc
giải quyết những vấn đề khác của con người, có th
ể nói là đúng đắn nhất cho
tới ngày nay.
Trước hết con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với
mặt xã hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản
phẩm của thế giới tự nhiên. Con người là một bộ phận của tự nhiên.Con
người không thể tồn tại mà thoát ly khỏi quá trình tấ
t yếu đó là sinh ra, phát
triển rồi chết đi. Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn
thành người điều đó được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của
Đacuyn. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm sinh lý,
các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con
người.
Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản
ch
ất con người . Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới
loài vật là mặt xã hội. Thông qua hoạt động lao động sản xuất con người sản
xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình hình thành
và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động
là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hộ
i của con người đồng thời hình
thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát
ủa con người. Chỉ trong toàn bộ các mối quan
hệ đó, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất của mình. Trong điều kiện lịch
sử cụ thể nhất định, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người sản xuất
ra của cải vật chất đồng thời hoàn thiện bản thân mình.
Tiểu luận Triết học
8
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử. Không có giới tự
nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy con
người là sản phẩm của lịch sử. Song điều quan trọng là con người luôn luôn
là chủ thể của lịch sử - xã hội.
Con người sáng tạo ra lịch sử, nhưng không bao giờ sáng tạo ra lịch
sử trong những hoàn cảnh và điều kiệ
n được lựa chọn, mà trong hoàn cảnh
và điều kiện sẵn có do quá khứ để lại. Do đó ta phải luôn chú ý tới mối quan
hệ hai chiều giữa hiện tại và quá khứ, đặc biệt là môi trường sống của con
người. Thông qua môi trường sống con người có sự tác động qua lại lẫn
nhau thực hiện các quan hệ xã hội tạo nên bản chất người, làm cho con
người khác với con vật.
b. Con người là nhân tố trung tâm có tính quy
ết định LLSX.
Trong các yếu tố của LLSX, “LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại
là công nhân là người lao động”. Con người là nhân vật chính của lịch sử,
vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển xã hội. nhân tố con người vừa
là phương tiện sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần, sáng tạo
và hoàn thiện ngay chính bản thân mình đồng thời vừa là chủ nhân sử dụng
có hiệu quả
mọi tài sản vô giá ấy. Trên phương diện đó vai trò nhân tố con
người lao động trong LLSX là yếu tố động nhất sáng tạo nhất của quá trình
sản xuất. Nhân tố trung tâm của con người chính là sức lao động bao gồm
nhiên nói chung và đối tượng lao động nói riêng, chỉ là những vật vô tri vô
giác mà thôi. Nó chỉ có ý nghĩa khi trở thành sản phẩm phục vụ nhu cầu của
con người. Muốn vậy tất yếu người lao động phải tác động vào tư liệu sản
xuất để sản sinh ra nó. Như thế quá trình SXVC không thể thoát ly khỏi lao
độ
ng của con người. Trong thời đại mới, nhân tố con người có tri thức ngày
càng đóng vai trò quyết định hơn trong LLSX. Có thể khẳng định rằng nhân
tố con người đóng vai trò quyết định quá trình lao động sản xuất ra của cải
vật chất.
Tiểu luận Triết học
10
II.CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN GD ĐT NGUỒN NHÂN LỰC THEO
HƯỚNG CNH, HĐH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ.
1. Tính tất yếu khách quan và nội dung CNH, HĐH của Việt Nam trong
thời kí quá độ.
a. Tính tất yếu khách quan nước ta phải CNH, HĐH.
Mỗi phương thức sản xuất đều ra đời và tồn tại trên một cơ sở VCKT
tương ứng với nó. Cơ sở VCKT của CNXH là một nền công nghiệp lớn hi
ện
đại, trước hết là công nghiệp nặng có đủ khả năng trang bị kỹ thuật hiện đại
cho công nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, nhằm không
ngừng phát triển nền sản xuất lớn xá hội chủ nghĩa và cải thiện đời sống
nhân dân.
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện hoạt động kinh
tế, dịch vụ và quản lý từ trạng thái sử dụng s
ức lao động là chính sang trạng
thái sử dụng sức lao động kết hợp với kỹ thuật công nghệ hiện đại tạo ra
năng suất lao động ngày càng cao.
CNH, HĐH là một tính quy luật để xây dựng cơ sở VCKT cho
. Tạo ra cơ sở cho việc phát triển kinh tế đối ngoại.
. Để xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ phải có một nền công nghiệp
hiện đại tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, đảm bảo an toàn lương thực.
. Nó là cơ sở vật chất cho củng cố an ninh quốc phòng, độc lập dân tộc và
CNXH được bảo vệ vững chắc.
b. Nội dung CNH, HĐH nước ta.
Thực chất CNH, HĐH là chuyển nền kinh tế từ lao động thủ công
sang lao động cơ khí hay nói cách khác là tiến hành trang bị kỹ thuật hiện
đại cho nền kinh tế quốc dân. Không tiến hành cách mạng kỹ thuật thì không
thể biến m
ột nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có nền sản xuất lớn.
Nó sẽ làm thay đổi đến tận gốc rễ LLSX của xã hội . Trước tiên phải làm
biến đổi công cụ lao động - thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con
Tiểu luận Triết học
12
người và là cơ sở phân biệt các thời đại với nhau. Muốn vậy ta phải thực
hiện nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại trên thế
giới. Một yếu tố không thể thiếu nữa, đó là ta phải phát huy được lợi thế so
sánh. Ta đi sau cạnh tranh, thu hút, sử dụng công nghệ hiện đại của nước bạn
thông qua việc chuyển giao công nghệ. Việc đó
được tiến hành từ các nước
khác chuyển sang nước ta bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, bao gồm
cả phần cứng tức máy móc thiết bị và phần mềm tức phương pháp và công
nghệ. Nhờ đó cho phép ta khai thác được các nguồn lực trong nước và khắc
phục được nguy cơ tụt hậu kinh tế cũng như thúc đẩy nền sản xuất hướng về
xuất khẩu ra th
ị trường quốc tế.
Ngoài ra, ta phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý. Cơ cấu kinh tế
là tổng thể các ngành, vùng kinh tế trong đó cơ cấu kinh tế ngành là quan
t
ạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội.
Tỷ trọng (%) các khối kinh tế trong GDP
Ngành
Năm
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
1998 25,75 33,35 41
2010 17 40 43
[Nguồn : Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010, trang 7]
Nói đến nguồn lực con người là nói đến chất lượng và số lượng nguồn
nhân lực. Chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thực trạng đó ở nước ta như
sau:
Cơ cấu ngành còn bất hợp lý.
Cơ cấu vùng miền chưa hợp lý. Bình quân chung nước ta là 118 sinh
viên/ 1 vạn dân, nhưng Tây Bắc là17 sinh viên/ 1 vạn dân.
Hình thức
đào tạo: - Chính quy : 509637
- Chuyên tu, tại chức: 235975
Tiểu luận Triết học
14
Tỉ lệ giáo viên/ sinh viên còn cao dẫn đến giáo viên phải làm việc
“chạy xô”.
Trong dạy nghề có 157 trường dạy nghề, hơn 190 trường đại học
nhưng đầu tư kinh tế còn nhỏ.
[Phạm Minh Hạc, Tổng kết mười năm (1990 - 2000) xoá mù chữ và phổ
cập giáo dục tiểu học - trang 159]
Như thế nền kinh tế nước ta chủ yếu dùng sức người với m
ột số yếu tố
của tri thức.
o nghề. Điều chỉnh cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng,
cơ cấu dân tộc…trong hệ thống GDĐT phù hợp với yêu cầu học tập của
nhân dân và phát triển kinh tế xã hội và các mục tiêu của chiến lược. Chú
trọng giáo dục hướng nghiệp thiết thực trong trường phổ thông. Mở rộng
đào tạo công nhân kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiề
u trình độ.
Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học sau đại học tập trung đầu
tư xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia ngang tầm khu vực
tiến tới đạt trình độ quốc tế. Phát triển giáo dục thường cuyên và giáo dục từ
xa.
Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ
ch
ương trình và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu mới
của sự nghiệp páht triển giáo dục trong thế kỷ XXI.
c. Mục tiêu và phương hướng phát triển GDĐT nguồn nhân lực nước ta.
Phát triển toàn diện con người cần đạt tới những giá trị xã hội sau đây
Con người có bản lĩnh, lý tưởng, niềm tin và quyết tâm thực hiện sứ
mệnh CNH, HĐH. Con người cần có tác phong công nghiệp.
Con ngườ
i có sức khoẻ cường tráng.
Có nhân cách đậm đà bản sắc dân tộc tiếp thu tinh hoa văn minh nhân
loại, sống nhân ái, tình nghĩa.
Tiểu luận Triết học
16
Có đủ trí tuệ, đầu óc duy lý của thời đại và kĩ năng lao động lành
nghề.
Có tinh thần công dân sống và làm việc theo pháp luật, thực hiện đúng
quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
Ngoài ra ta cần chú ý đến sự công bằng trong giáo dục, chú ý đến vai
hình thức thi cử và đặt ra nhiều tiêu chí.
Để nhân tài có thể phát triển được thì phải có điều kiện: Thứ nhất
nhân tài trước hết phải được đ
ào tạo rất cẩn thận, tu dưỡng, rèn luyện, tự tích
luỹ kinh nghiệm và kiến thức trong một môi trường thuận lợi thúc đẩy con
người luôn sáng tạo và hành động. Thứ hai, phải có các nguồn lực và dành
cho mỗi người một khả năng lựa chọn và huy động tổ chức các nguồn lực
thực hiện có hiệu quả mục đích đã đề ra. Tóm lại, điều kiện nảy sinh và phát
triển nhân tài là phải có một nền giáo dục tiên tiến có sự kết hợp hài hoà
giữa ba yếu tố nhà trường - gia đình - xã hội cùng quan tâm đến thế hệ trẻ và
giáo dục.
KẾT LUẬN
Ngày nay, với cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ hiện đại, đã dần
dần đi đến khẳng định sự phát triển con người là yếu tố quyết định của mọi
sự phát tri
ển. Trong sự phát triển con người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của
trí tuệ và đi liền với nó là vai trò của giáo dục đào tạo nguồn lực con người.
Đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nước ta phải coi nhân
tố con người là nhân tố quyết định, từ đó phải nâng cao dân trí cũng như
chuẩn bị tốt nguồn nhân lực có đủ trí tuệ và nghị lực, tay nghề và công ngh
ệ,
ý thức và tâm hồn thấm đượm sâu bản sắc dân tộc, khoa học và ý chí, thực
hiện sự chuyển mình từ một xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các cuộc đại thắng của dân đã đi vào lịch
Tiểu luận Triết học
18
sử suy cho cùng là thắng lợi của chính con người Việt Nam. Bài học đó còn
nguyên giá trị cho tới ngày nay. Với chiến lược giáo dục đào tạo đúng đắn
và khoa học của Đảng, với trí tuệ và phẩm chất của con người Việt Nam,