Vai trò của vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế - pdf 12

Download Đề tài Vai trò của vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế miễn phí



MỤC LỤC
 
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I- VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ TỪ NSNN 2
I- CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN: 2
1- Vốn sản xuất 2
2- Vốn đầu tư 2
II- NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN ĐẦU TƯ: 2
1- Nguồn vốn đầu tư trong nước: 3
2- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài: 5
III- VAI TRÒ CỦA VỐN VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ: 6
IV- VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: 7
1- Vai trò của vốn đầu tư từ NSNN tới cơ sở hạ tầng: 7
2- Vai trò của vốn đầu tư từ NSNN tới nông nghiệp nông thôn: 8
I- THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM: 10
1- Tình hình kinh tế Việt Nam: 10
2- Cơ cấu vốn đầu tư ở Việt Nam và tình hình sử dụng: 11
3- Vốn đầu tư từ NSNN ở Việt Nam: 14
II - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VỐN ĐẦU TƯ TỪ NSNN TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM: 17
2 - Vốn đầu tư từ NSNN với tăng trưởng kinh tế: 19
2.1 - Ảnh hưởng cuả vốn đầu tư từ NSNN tới tăng trưởng kinh tế: 19
2.2 - Ảnh hưởng của vốn đầu tư từ NSNN tới các lĩnh vực kinh tế: 20
2.3 - Ảnh hưởng của vốn đầu tư từ NSNN tới các nguồn vốn khác: 29
 
CHƯƠNG III- GIẢI PHÁP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỦ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TỪ NSNN 33
1. Những tồn tại trong đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước: 33
2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước tại Việt Nam: 35
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
 
 


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-28417/
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!

Tóm tắt nội dung:

ch, vào ODA để làm hạ tầng. Phải tin mình và tin các nhà đầu tư để mạnh dạn mở cửa. Không thể quay lưng lại với cơ hội, nhất là khi chúng ta đã có hệ thống pháp lí quốc tế để soi chiếu, có kinh nghiệm hợp tác nhiều năm. Tâm lí e ngại đáng ra không được duy trì lâu như vậy. Giá của sự chờ đợi ấy không đáng.
Đối với vốn ODA, Việt Nam chưa thực hiện tốt tất cả các công việc cần thiết để giải ngân tốt hơn. Một phần do phức tạp thủ tục, một phần do quy định khác nhau giữa nhà tài trợ và chính phủ Việt Nam nên khó thống nhất.
Sau khi chọn được dự án ODA đã khó, việc chuẩn bị của Việt Nam khi có vốn ODA còn chậm, rõ nhất là chuẩn bị mặt bằng, và không có sẵn vốn đối ứng trong các dự án. Điều kiện con người và kinh tế kỹ thuật đã làm chậm quá trình giải ngân.
Ngay cả một nơi được đánh giá là phát triển năng động như thành phố Hồ Chí Minh cũng có tình trạng đó. Một số nhà cung cấp ODA đã thực hiện biện pháp mang tính trừng phạt nhưng cũng không thúc đẩy được bao nhiêu.
Trong khi đó, mỗi nguồn ODA có thời gian ân hạn nhất định. Nếu không làm việc, chúng ta đã tự tước bỏ đi thời gian ưu đãi ấy. Ví dụ, một dự án ODA quy định trong 10 năm được hưởng lãi suất thấp, hay không phải trả lãi. Nhưng vì quá trình giải ngân chậm, khi dự án bắt đầu đi vào sử dụng chỉ còn 2-3 năm. Chúng ta đã tự đánh mất 7-8 năm quý giá. Và cái giá của ODA trở nên đắt đỏ hơn. Chưa kể nó sẽ kìm hãm sự phát triển của khu vực, lĩnh vực đưa ODA vào.
Đây là lãng phí kép: tiền của, gánh nợ, thời gian cho phát triển. Đặc biệt, mất thời gian đồng nghĩa với mất đi các cơ hội.
Vốn đầu tư từ NSNN ở Việt Nam:
Như đã nói ở trên, tiền ngân sách chính là tiền thuế của dân đóng góp. Thế nhưng một thực trạng đáng lo ngại là đầu tư từ ngân sách lại chưa hiệu quả, và nâng cao hiều quả từ vốn đầu tư ngân sách nhà nước là một trong những vấn đề cần giải quyết.
Một số câu trả lời cho câu hỏi đó là:
- Đầu tư quá nhiều vào cơ sở hạ tầng
- Quá chú trọng tới chỉ tiêu tăng trưởng
- Chưa sẵn sàng cho hình thức đầu tư ngoài nhà nước
Đầu tư quá nhiều vào cơ sở hạ tầng, chiếm 50% ngân sách, như vậy sẽ khiến cho an sinh xã hội, giáo dục bị ảnh hưởng. Đầu tư khu vực nhà nước tuy đã có xu hướng giảm nhưng vẫn còn cao. Từ mức bình quân 51% thời kỳ 1991 – 2005, đến nay tỷ lệ này còn là 43%. Cơ cấu đầu tư đã có sự dịch chuyển theo hướng tập trung hơn cho những mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời quan tâm đầu tư hơn cho vùng nghèo, xã cùng kiệt vùng đồng bào dân tộc.
Tuy nhiên, công tác quản lý đầu tư còn yếu kém, chất lượng quy hoạch chưa cao, chưa thực sự là cơ sở vững chắc cho họach định các kế hoạch phát triển. Việc quản lý vừa rườm rà, vừa lỏng lẻo trong đầu tư thể hiện ở tất cả các khâu từ xác định chủ trương lập, thẩm định dự án, ra quyết định đầu tư, thiết bị kỹ thuất, lập tổng dự toán,… đến khâu triển khai thực hiện, theo dõi cấp phép và thanh toán gây ra tình trạng thất thoát không nhỏ cho vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, hiện nay vẫn còn có tình trạng số lượng dự án duyệt chờ ngân sách cấp vốn ngày càng tăng, vượt quá khả năng cân đối của ngân sách.
Tất cả những yếu kém trên đã khiến cho đầu tư kém hiệu quả. Điều này được thể hiện qua chỉ số ICOR ngày càng lớn. Thời kỳ 1991-1995 chỉ số này là 3, nhưng thời kỳ 1996-2000 lên tới 4,3; thời kỳ 2001-2005 khoảng 4,7 đến là trên 5,0.
Ngoài ra, nguyên nhân sâu xa là do đã đầu tư từ ngân sách nhà nước tập trung quá nhiều vào lĩnh vực hạ tầng cơ sở, chưa đầu tư thoả đáng cho các dự án có khả năng thu hồi vốn, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá có giá trị làm tăng GDP.
Đầu tư công vào cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển đời sống, kinh tế nhân dân, nhưng đây cũng không phải là cách ứng xử duy nhất, vì chúng ta có thể vận dụng những hình thức như BOT, BTO, PPP.
Hiện đầu tư công của chúng ta đã vượt xa so với khả năng của ngân sách nhà nước. Trong khi đó, đầu tư cho cơ sở hạ tầng đã chiếm tới 50% ngân sách. Điều này sẽ khiến đầu tư cho an sinh xã hội, giáo dục bị ảnh hưởng.
Quá chú trọng tới chỉ tiêu tăng trưởng. Những năm gần đây, chúng ta đã quá chú ý tới tốc độ tăng trưởng và quyết tâm đạt tốc độ tăng trưởng cao nên đã dẫn tới tình trạng đầu tư năm sau cao hơn năm trước. Bên cạnh đó, cách làm phổ biến hiện nay vẫn là chọn việc dễ để thực hiện. Cộng thêm với tâm lý quá trông chờ vào vốn ngân sách nhà nước và khai thác tận thu nguồn tài nguyên sẵn có của đội ngũ lãnh đạo đã tạo nên lối “ứng xử” địa phương cát cứ, đầu tư theo kiểu “chộp giật”. Hình thức phân bổ các dự án vẫn mang tính bình quân, theo kiểu ban phát lợi ích chứ chưa theo quy hoạch phát triển tổng thể.
Tất cả đã khiến cho những dự án quy hoạch thường có tính địa phương, ít tạo được tính kết nối thị trường. Vì vậy, cùng một khoản tiền đầu tư nhưng hiệu quả mang lại chưa có tính lan tỏa mạnh.
Ngoài ra, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước lẽ ra cần đầu tư cho bộ máy công chức thông qua tiền lương lại chưa được quan tâm thích đáng. Thiếu sự quan tâm đúng mức cũng đã làm giảm hiệu quả của đội ngũ này gây ảnh hưởng trực tiếp tới việc thẩm định, giám sát việc thực hiện các dự án.
Chưa sẵn sàng cho hình thức đầu tư ngoài nhà nước. Hiện nay, chúng ta vẫn còn quan niệm kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển. Chưa sẵn sàng cho sự chuyển đổi mô hình từ đầu tư của nhà nước sang hình thức đầu tư ngoài nhà nước.
Thêm vào đó là sự lạm dụng đầu tư công cho xây dựng cơ bản, tập trung phát triển theo chiều rộng không chú trọng tới chiều sâu. Lối tư duy nhiệm kỳ đã tạo ra tâm lý là lãnh đạo ai cũng muốn xây dựng hình ảnh đẹp trong thời gian đương nhiệm.
Ngoài ra, tư tưởng cục bộ dựa trên lợi ích của nhóm nhỏ trong xã hội cũng đã làm nảy sinh tham nhũng. Dự toán, quyết toán công trình lỏng lẻo khiến cho chất lượng của các công trình đầu tư cơ bản thường thấp. Chi phí bảo trì, duy tu công trình thường không được tính tới trong dự án càng khiến cho nhưng các công trình càng mau xuống cấp. Để các công trình này hoạt động theo đúng yêu cầu chi phí vận hành là rất lớn. Vì vậy, để các dự án đầu tư cho cơ sở hạ tầng thực sự mang lại hiệu quả về mặt nhận thức cần có sự chuyển trọng tâm đầu tư phát triển ra ngoài khu vực nhà nước. Vận dụng hình thức chìa khoá trao tay cũng sẽ tránh được việc phải điều chỉnh khi có sự biến động về giá cả. Công trình sẽ được đảm bảo tiến độ hoàn thiện và vốn đầu tư cũng không bị đội lên.
Cơ chế xin cho cũng cần được xóa bỏ thay vào đó là hình thức đầu thầu công khai, minh bạch và có sự tham gia của các nhà thầu nước ngoài. Nếu chưa tìm được đối tác thích hợp sẽ tổ chức đấu thầu lại.
II - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VỐN ĐẦU TƯ TỪ NSNN TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM:
Phân tích tác động của vốn đầu tư tới...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status