Download Tiểu luận Những rủi ro từ cạnh tranh trong thị trường Viễn thông Việt Nam miễn phí
VNPT đã có thêm 1.08 triệu thuê bao cố định vào năm 2007, đưa tổng số
người dùng lên 8.8 triệu cùng 2.64 triệu khách hàng sử dụng dịch vụ cung cấp bởi
Viettel và SPT, và phản ánh múc gia tăng 14% một năm. Tuy nhiên, cần nhớ rằng,
thuê bao cố định truyền thống, dụa trên hệ thống điện thoại mạch cắm thông
thường (PSTN), chỉ chiếm 77% thị trường điện thoại cố định, số còn lại là dịch vụ
cố định không dây. Đến cuối năm 2007, ước tính khách hàng sử dụng đường
truyền cố định là 11.44 triệu, tương đương với một tỷ lệ thâm nhập 13,2%. Khác
với thị trường viễn thông ở châu Á, khu vực mạng cố định ở Việt Nam vẫn có cơ
hội phát triển. Tháng 12 năm 2006, Bộ Bưu chính Viễn thông cấp giấy phép cho
FPT Telecom. Dịch vụ cố định của FPT dựa trên hệ thống mạng thế hệ mới hỗ trợ
việc cung cấp điện thoại bằng giọng nói trên nền IP, cũng như băng thông rộng tốc
độ cao và IPTV. Ngoài việc kiểm soát phần lớn của thị trường điện thoại cố định,
cho đến năm 2002, chỉ có VNPT độc quyền cung cấp dịch vụ đường dài và quốc
tế. Tuy nhiên, cả Saigon Postel và Viettel kể từ khi bắt đầu xuất hiện đã đưa ra
dịch vụ gọi trong nước và quốc tế qua IP (VoIP). VDC cũng giới thiệu VoIP trả
trước và trả sau của riêng của mình dưới tên gọi FoneVNN trong năm 2003 và,
trong tháng 11 của năm đó, đã trở thành nhà cung cấp dịch vụ mạng riêng ảo
(VPN) đầu tiên của Việt Nam. Trong một nỗ lực để mở rộng thị phần, VNPT đã
chọn nhà cung cấp Thụy Điển Ericsson cung cấp thiết bị để tăng thêm 200.000
thuê bao cố định khu vực miền Trung. Liên kết trên là một phần của giai đoạn hai
của dự án để mở rộng phạm vi và năng lực trong khu vực. Giai đoạn đầu bắt đầu
vào tháng 8 năm 2006, khi Ericsson giành được hợp đồng cài đặt 600,000 đường
truyền.
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-29845/
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!Tóm tắt nội dung:
nghiệp. Tiếp theo, chúng ta sẽ thực hiện việc phân loại rủi ro. Có nhiều loại rủi ro khác nhau tiềm ẩn đối với doanh nghiệp. Chúng có thể có nguồn gốc ngay bên trong doanh nghiệp hay từ bên ngoài. Dựa trên bản chất của các rủi ro, người ta có nhiều cách phân loại rủi ro. Tuy nhiên, phổ biến nhất là việc phân loại rủi ro thành 04 nhóm như sau: Rủi ro tài chính: Lãi suất, tỷ giá hối đoái, nguồn tín dụng, dòng tiền và khả năng thanh toán…; Rủi ro chiến lược: Cạnh tranh, thay đổi của khách hàng, thay đổi của ngành, rủi ro đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển, sở hữu trí tuệ…; Rủi ro hoạt động: Bộ máy lãnh đạo, rủi ro về văn hóa doanh nghiệp, vi phạm quy chế quản lý, kiểm soát tài chính, hệ thống thông tin…; Rủi ro nguy hiểm: Rủi ro về môi trường, nhà cung cấp, thiên tai, rủi ro đối với tài sản, các hợp đồng, sản phẩm và dịch vụ… Việc phân loại rủi ro như trên giúp doanh nghiệp quản lý rủi ro một cách có hệ thống và có cái nhìn tổng thể, toàn diện hơn về rủi ro trong mọi mặt hoạt động.
*Đánh giá và xếp hạng rủi ro
Nguồn lực của doanh nghiệp là có hạn trong khi số lượng các rủi ro là rất lớn. Vì vậy, bước tiếp theo sau khi lập được bản danh sách các rủi ro tiềm ẩn, chúng ta sẽ tổ chức đánh giá và xếp hạng các rủi ro theo mức độ cần ưu tiên ứng phó. Để thực hiện việc xếp hạng rủi ro, doanh nghiệp sẽ phân tích, đánh giá từng rủi ro theo 2 tiêu chí: khả năng xảy ra của rủi ro và mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến doanh nghiệp nếu xảy ra. Để làm căn cứ xếp hạng rủi ro, thông thường người ta sẽ thực hiện việc cho điểm đối với từng rủi ro theo cả 2 tiêu chí. Dựa trên kết quả cho điểm rủi ro, các rủi ro sẽ được xếp hạng theo thứ tự ưu tiên giảm dần. Rủi ro mà doanh nghiệp cần ưu tiên ứng phó, phòng ngừa là những rủi ro mà khả năng xảy ra cao và mức độ ảnh hưởng lớn như minh họa trong bảng sau: Thông thường thì chỉ 10-20 rủi ro có thứ hạng cao nhất sẽ được doanh nghiệp ưu tiên lên kế hoạch và tổ chức ứng phó. Số lượng cụ thể tùy theo mức độ sử dụng các nguồn lực và quy mô, tiềm lực của doanh nghiệp.
* Xây dựng kế hoạch ứng phó
Xây dựng kế hoạch ứng phó là giai đoạn quan trọng trong quá trình quản lý rủi ro. Tại giai đoạn này doanh nghiệp phải đưa ra các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát cụ thể cần thực hiện để phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại nếu rủi ro xảy ra. Điều quan trọng ở đây là doanh nghiệp đưa ra được các biện pháp khả thi, hữu hiệu và ít tốn kém. Có 3 nội dung phải được xác định cụ thể đối với từng rủi ro khi xây dựng kế hoạch ứng phó, đó là: 1. Những biện pháp phải thực thi để phòng chống, ngăn ngừa rủi ro xảy ra; 2. Thời hạn cụ thể phải thực hiện xong các biện pháp đã đưa ra; và 3. Ai là sẽ người chịu trách nhiệm chính quản lý rủi ro đó.
* Tổ chức giám sát việc thực hiện các biện pháp
Trong quá trình thực thi các biện pháp ứng phó, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống báo cáo thường xuyên nhằm đảm bảo kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hiện. Doanh nghiệp cũng cần đảm bảo mọi thiếu sót trong việc thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro phải được thông tin kịp thời đến cấp quản lý có trách nhiệm. Thường xuyên tổ chức kiểm tra và đánh giá việc tuân thủ chính sách quản lý rủi ro và các tiêu chuẩn liên quan. Môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động là không ngừng vận động, do vậy doanh nghiệp cần quan tâm xem xét điều chỉnh các biện pháp đang thực hiện cho phù hợp với những chuyển biến của môi trường. Định kỳ, doanh nghiệp cần xem xét lại mức độ phù hợp của danh sách các rủi ro cùng với biện pháp ứng phó tương ứng. Tóm lại, để thiết lập được một hệ thống quản lý rủi ro hoạt động hiệu quả, bên cạnh việc xây dựng chính sách quản lý rủi ro của doanh nghiệp, bản thân lãnh đạo doanh nghiệp phải cam kết ủng hộ việc triển khai, đảm bảo không tồn tại khái niệm "vùng cấm" trong doanh nghiệp, những khu vực không được tiếp cận đánh giá, kiểm soát.
Đồng thời, lãnh đạo doanh nghiệp cũng phải thật sự coi trọng công tác thông tin, tuyên truyền và đào tạo để xây dựng văn hóa quản lý rủi ro đến mọi đối tượng trong doanh nghiệp. Đã đến lúc các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam cần nhìn nhận một cách nghiêm túc về vai trò của hoạt động quản lý rủi ro, cân nhắc thiết lập và duy trì một hệ thống quản lý rủi ro trong doanh nghiệp của mình. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, một khi rủi ro được dự báo trước, doanh nghiệp hoàn toàn có thể xây dựng và triển khai những kế hoạch ứng phó hiệu quả và phát triển bền vững.
II- THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM:
1. Thị trường Viễn thông Việt Nam:
Thị trường viễn thông Việt Nam hiện là khu vực phát triển nhanh thứ hai trên thị trường viễn thông Châu Á, với khoảng 14 triệu thuê bao trong các dịch vụ viễn thông và hơn 10 triệu người sử dụng Internet. Nếu xét trong khu vực thì ngành viễn thông Việt Nam đang dẫn đầu ở khu vực Đông Nam Á.
Theo số liệu từ Bộ Thông tin và Truyền thông, năm 2008, tốc độ phát triển thuê bao điện thoại của Việt Nam tăng mạnh, Năm 2008, ngành Viễn thông Việt Nam đã chứng kiến những con số khá ấn tượng, tổng số thuê bao điện thoại trên toàn mạng là 82,25 triệu máy tăng 100% so với năm 2007, thuê bao di động chiếm 85.5%, mật độ điện thoại là 97,5 máy/100 dân. Toàn quốc có trên 20,67 triệu người sử dụng Internet đạt mật độ 24,20%. Tổng số thuê bao băng rộng đạt 2 triệu. Doanh thu Bưu chính – Viễn thông năm 2008 đạt 92.445 tỷ đồng, tăng gần 38% so với năm 2007.
Biểu đồ tổng doanh thu ngành viễn thông
Nguồn MIC
a- Thị trường di động:
Thị trường di động là thị trường có tốc độ phát triển nhanh nhất trong ngành viễn thông ở Việt Nam. Được đánh giá là thị trường phát triển nhanh nhất và nóng nhất trong khu vực và thế giới. Với sự phát triển không ngừng của hạ tầng, công nghệ, đặc biết là số lượng doanh nghiệp tham gia ngành ngày càng nhiều. Các doanh nghiệp đua nha cạnh tranh về giá, khuyến mãi và dịch vụ gia tăng nhằm thu hút khách hàng.
Doanh thu thị trường mạng di động
Nguồn MIC
Có được thông tin đáng tin cậy về số lượng thuê bao di động bời 6 nhà cung cấp dịch vụ di động ở Việt Nam là một thách thức. Thực tế thì bộ văn hóa và thông tin(MIC) đã cam kết thực hiện một cuộc điều tra để xem xét liệu các Sim điện thoại có đang ở tình trạng hoạt động hay không. Để minh chứng cho sự rối rắm này, cả Vietel và Mobifone đều dẫn ra những nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu. Theo một nghiên cứu tham khảo , Vietel mạng điện thoại được sở hữu bởi quân đội Việt nam đang dẫn đẩu thị trường với 29% thị phần,x ếp trên Mobifone và Vinafone với thị phần lần lượt là 28% và 25%. Cả Vinafone và Mobifone được sở hữu bởi VNPT. Cùng với nhau, 3 nhà cung cấp dịch vụ di động GSM thống trị 82% thị trường tính đến cuối 2008. Số lượng thuê bao CDMA đạt đến 6 triệu tính đến cuối năm 2007, vượt lên hẳn so với mức 2 triệu cuối năm 2006. .
Vinafone đang n...