Tiểu luận Những vấn đề pháp lý về công ty hợp danh - pdf 13

Download Tiểu luận Những vấn đề pháp lý về công ty hợp danh miễn phí



Luật doanh nghiệp 2005 đã có các quy định rất chặt chẽ về thành viên hợp danh. Từ việc để trở thành thành viên hợp danh đến việc chấm dứt, thay đổi, chuyển nhượng tư cách thành viên đều được Luật doanh nghiệp 2005 quy định một cách rất cụ thể.
Công ty hợp danh là một mô hình công ty đối nhân. Chính vì vậy nhân tố con người là rất quan trọng trong sự hình thành, phát triển của công ty hợp danh. Việc có những quy định chặt chẽ về loại thành viên hợp danh đã góp phần thể hiện và xây dựng mô hình công ty hợp danh theo đúng nghĩa của nó.
Các quy định về loại thành viên này thể hiện sự hợp lý của Luật doanh nghiệp 2005. Đặc biệt trong quy chế chuyển nhượng vốn, thay đổi hay chấm dứt tư cách thành viên hợp danh. Luật doanh nghiệp 2005 đã có những quy định rất chặt chẽ về vấn đề này nhằm đảm bảo lợi ích cho chính công ty hợp danh và các thành viên khác.
 


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38160/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

LỜI NÓI ĐẦU
Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời đã cho thấy một bước phát triển mới của pháp luật thương mại Việt Nam. Luật doanh nghiệp năm 2005 đã có rất nhiều thay đổi so với Luật Doanh nghiệp năm 1999. Trong đó có sự thay đổi rất lớn trong các quy định về công ty hợp danh.
Công ty hợp danh ở Việt Nam tuy không có được sự phát triển quá mạnh mẽ như công ty TNHH hay công ty cổ phần nhưng công ty hợp danh cũng dần khẳng định được ưu thế của mình và được nhiều người lựa chọn để thành lập doanh nghiệp cho mình.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã có những quy định rất chi tiết về việc thành lập, thành viên, quy chế về vốn…của công ty hợp danh. Sau đây dưới sự tìm hiểu của mình tui xin đi vào bình luận các quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 về công ty hợp danh
Tuy nhiên với khả năng nhìn nhận vấn đề, khả năng phân tích bình luận của một sinh viên năm thứ 3 nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi các sai lầm khuyết điểm. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Dương
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 về công ty hợp danh.
Trước hết để tìm hiểu vấn đề này, chúng ta cần biết được khái niệm về công ty hợp danh. Trên hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận công ty hợp danh là một loại hình đặc trưng của mô hình công ty đối nhân. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Theo luật doanh nghiệp năm 2005 công ty hợp danh được định nghĩa tại khoản 1 điều 130 :“Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;
b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty”.
1. Các quy định của Luật doanh nghiệp 2005 về thành viên của công ty hợp danh.
1.1. Thành viên hợp danh
Theo Điều 130 Luật doanh nghiệp năm 2005, công ty hợp danh phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh, phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên của công ty hợp danh bắt buộc phải là cá nhân.
Thành viên hợp danh là những người chịu trách nhiệm liên đới với các khoản nợ, nghĩa vụ của công ty. Thành viên hợp danh là những người quyết định sự tồn tại và phát triển của công ty hợp danh. Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty từ khi đăng kí vào bản danh sách thành viên bất kể họ có tham gia quản lý công ty hay không. Thành viên hợp danh cũng chính là người quản lý công ty. Do tính chất quan trọng đó nên pháp luật cũng có những quy định khắt khe hơn với loại hình thành viên này. Các quyền, nghĩa vụ, sự hạn chế của pháp luật đối với thành viên hợp danh đã được Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định rất chi tiết tại Điều 133 và 134.
Trong một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện như tư vấn pháp lý, khám chữa bệnh…pháp luật hiện hành yêu cầu các thành viên hợp danh cần có trình độ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề hay bằng cấp nhất định.
Tại Điều 133 có quy định về các hạn chế đối với thành viên hợp danh. Quy định này được đặt ra nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của chính công ty hợp danh và những thành viên hợp danh khác đó là :
Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hay thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác nếu không có được sự đồng ý của các thành viên còn lại.
Đây chính là một điểm khác của Luật doanh nghiệp năm 2005 với Luật doanh nghiệp năm 1999. Theo Luật doanh nghiệp năm 1999 thì nghiêm cấm thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hay thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác. Như vậy Luật doanh nghiệp năm 2005 đã quy định vấn đề này theo hướng mở nhằm tôn trọng, đề cao sự thỏa thuận giữa các bên.
Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hay nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hay phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hay toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.
Do công ty hợp danh là một loại hình đặc trưng của công ty đối nhân. Nó được thành lập hoạt động dựa trên sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa các thành viên hợp danh. Chính vì vậy so với các loại hình công ty khác, sự thay đổi về các thành viên hợp danh được pháp luật quy định một cách khắt khe hơn. Việc tiếp nhận thành viên hợp danh phải được sự đồng ý của ¾ số thành viên hợp danh đồng ý nếu Điều lệ không có quy định khác. Ngay cả trong trường hợp người thừa kế của thành viên hợp danh sau khi được nhận thừa kế cũng chưa chắc đã trở thành thành viên của công ty mà cần chờ sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại.
Việc chấm dứt tư cách thành viên hợp danh cũng được Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định khá cụ thể tại điều 138. Theo đó tư cách thành viên hợp danh chấm dứt trong các trường hợp sau :
Tự nguyện rút vốn khỏi công ty
Chết hay bị Tòa án tuyên bố chết.
Bị khai trừ ra khỏi công ty
Bị Tòa án tuyên bố là mất tích, hạn chế năng lực hành vi dân sự hay mất năng lực hành vi dân sự.
Các trường hợp khác do điều lệ của công ty quy định.
Thành viên góp vốn
Ngoài thành viên hợp danh, công ty hợp danh còn có thể có thêm thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn có thể là cá nhân, tổ chức. Khác với thành viên hợp danh, thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty trong phần vốn góp của mình.
Là công ty đối nhân nhưng các thành viên góp vốn lại được hưởng quyền lợi như ở công ty đối vốn. Chính điều này làm nên địa vị pháp lý khác nhau giữa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn không được quyền quản lý, điều hành công ty. Theo tui đây là một quy định hợp lý của Luật doanh nghiệp năm 2005. Việc quy định thành viên góp vốn giúp cho việc phát triển kinh doanh, huy động vốn trong công ty hợp danh lớn hơn. Đồng thời quy định không cho thành viên góp vốn thực hiện quản lý công ty nhằm đảm bảo lợi ích cho chính công ty và các thành viên hợp danh. Bởi dù có quyết định sai, làm ảnh hưởng đến công ty thì họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm trong phần vốn góp chứ không đên mức khánh kiệt gia sản như thành viên hợp danh.
Các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn được quy định tại Điều 140 Luật doanh nghiệp nam 2005.
2. Các quy định của Luật doanh nghiệp 2005 về cơ cấu tổ chức và quản lý nội bộ công ty hợp danh.
2.1. Hội đồng thành viên.
Đây là cơ quan quyền lực cao nhất của công ty hợp danh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 135 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì hội đồng thành viên bao gồm tấ...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status