Download Tiểu luận Bình luận các quy định của luật doanh nghiệp 2005 về công ti hợp danh miễn phí
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu
Nội dung .1
I. Khái niệm và đặc điểm chung của công ty hợp danh .1
1.1 Khái niệm của công ty hợp danh .1
1.2 Đặc điểm của công ty hợp danh. 1
II. Các quy định về công ty hợp danh 6
2.1 Bản chất pháp lý của công ty hợp danh .6
2.2 Quy chế thành viên trong công ty hợp danh 7
2.3 Vốn góp trong công ty hợp danh 11
2.4 Cơ cấu và tổ chức quản lý trong công ty hợp danh .12
2.5 Giải thể và phá sản công ty hợp danh 14
Kết luận
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38315/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
thuận hợp danh, việc tuân thủ các nghĩa vụ đã cam kết của các thành viên cũng như trách nhiệm pháp lí nếu có vi phạm. Ngoài ra các thành viên hợp danh cần có chứng chỉ hành nghề (ví dụ thẻ luật sư, thẻ kiểm toán viên) đối với những dịch vụ cần có chứng chỉ và các điều kiện hành nghề khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành (khoản 5 điều 17 LDN). Hồ sơ, thủ tục thành lập công ty hợp danh được quy định trong Luật doanh nghiệpvà Nghị định 43/2010 của Chính Phủ về đang ký kinh doanh.
Thành viên công ty hợp danh:
Như vậy, theo quan điểm của các nhà làm luật nước ta thì công ty hợp danh có thể là công ty chỉ có một loại thành viên, đó là thành viên hợp danh. Cũng có thể công ty hợp danh có hai loại thành viên là thành viên hợp danh chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn, thành viên góp vốn chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp vào công ty. Điều này khác với quan niệm của các nhà làm luật ở nước ngoài. Như đã nói ở trên, công ty hợp danh là công ty đối nhân điển hình. Tất cả các thành viên đều chịu trách nhiệm trực tiếp, liên đới và vô hạn về các khoản nợ của công ty. Nếu các thành viên thỏa thuận khác, chẳng hạn có một thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn thì lập tức công ty sẽ không còn là công ty hợp danh nữa mà chuyển thành hình thức công ty khác. Việc các nhà làm luật ở nước ta quy định công ty hợp danh có hai loại thành viên dẫn tới một điều không hợp lý là: “khi công ty hợp danh có hai loại thành viên - một là thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới với nhau và một thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình - ra đời và hoạt động thì khách hàng, những người có làm ăn quan hệ với công ty, sẽ phải tìm hiểu rõ thành viên nào chịu trách nhiệm hữu hạn và thành viên nào chịu trách nhiệm vô hạn để giao dịch và đòi nợ. Bởi vì, thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn về khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn góp vào công ty. Khách hàng không có quyền đòi thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn trả toàn bộ số nợ cho mình, nếu số nợ đó lớn hơn phần vốn góp của thành viên này. Đây là điểm yếu của quy định pháp luật Việt Nam, với quy định như này thì vấn đề gặp rủi ro của khách hàng khi làm ăn với công ty sẽ cao hơn, hay nói cách khác là nhà làm luật đã đẩy rủi ro về phía khách hàng nhiều hơn.
Ta thấy luật quy định thành viên hợp danh chỉ có thể là cá nhân chứ không thể là pháp nhân vì trách nhiệm của thành viên hợp danh là trách nhiệm vô hạn, trách nhiệm này chỉ có cá nhân mới có thể đảm nhiệm được còn pháp nhân thì vấn đề này rất khó thực hiện. Đây là quy định rất đúng của luật. Còn với thành viên góp vốn thì luật quy định đó có thể là pháp nhân hay là cá nhân hay cả những người được quy định tại Điều 13 trừ cán bộ, công chức được quy định trong pháp lệnh cán bộ, công chức. Còn thành viên hợp danh thì phải tuân theo Điều 13 của luật doanh nghiệp 2003.
Chế độ chịu trách nhiệm:
Như đã nói ở trên thì công ty hợp danh có hai loại thành viên là thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới về các khoản nợ của công ty. Còn thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm theo phần vốn góp của thành viên đó vào công ty. Tuy nhiên, những quy định về thành viên góp vốn có sự mâu thuẫn với nhau, đó là mâu thuẫn giữa điểm c Khoản 1 Điều 130 với Khoản 3 Điều 131 và Khoản 2 Điều 140. Điểm c Khoản 1 Điều 130 quy định rằng thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Tuy nhiên, Khoản 3 Điều 131 thì quy định trường hợp thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó với công ty. Tại Khoản 2 Điều 140 quy định thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp. Như vậy khi xảy ra tranh chấp thật khó xác định, việc xác định ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước. Song theo tui nên quy định thành viên góp vốn chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty.
Phát hành chứng khoán.
Theo quy định của luật doanh nghiệp tất cả các loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân đều được phát hành trái phiếu trừ công ty hợp danh. Nguyên nhân của sự khác nhau về quyền phát hành chứng khoán giữa công ty hợp danh và các loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động theo luật doanh nghiệp xuất phát từ tính chất đóng và hạn chế tiếp nhận thành viên mới của công ty hợp danh. Thực tế lý do này chưa thỏa đáng. Cổ phiếu (phổ thông) đem lại quyền sở hữu và quyền quản trị công ty cho chủ sở hữu cổ phần là các cổ đông. Trái phiếu đem lại trái quyền cho chủ sở hữu trái phiếu đó, họ trở thành chủ nợ của công ty và việc phát hành trái phiếu chỉ ảnh hưởng tới khả năng tài chính của công ty. Do vậy, việc pháp luật không cho phép công ty hợp danh phát hành cổ phiếu là hoàn toàn phù hợp với bản chất của loại hình công ty này. Nhưng việc phát hành trái phiếu để huy động vốn cũng không ảnh hưởng đến tính chất đóng và hạn chế tiếp nhận thành viên mới của công ty hợp danh.
Tư cách pháp lý của công ti.
Nếu như Luật doanh nghiệp năm 1999 không quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân thì đến Luật doanh nghiệp năm 2005, các nhà làm luật đã quy định điều này. Với tư cách pháp lý này, công ty hợp danh thuận lợi hơn trong các quan hệ pháp luật và cũng phải chịu những trách nhiệm như các pháp nhân khác. Các nhà làm luật đã làm cho công ty hợp danh có tài sản riêng (một trong những yêu cầu của pháp nhân) bằng cách quy định: khi thành viên góp vốn vào công ty thì phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty. Tuy nhiên, quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân có ổn hay không? Hãy cùng xem xét vấn đề này.
Luật doanh nghiệp năm 2005 thừa nhận công ty hợp danh là một pháp nhân trong khi vẫn quy định về chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của ít nhất hai thành viên hợp danh đối với các khoản nợ của công ty là chưa nhất quán với quy định về pháp nhân trong bộ luật. Khoản 3 Điều 84 BLDS quy định pháp nhân không những phải có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác mà pháp nhân còn phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó. Theo luật doanh nghiệp khi tài sản của công ty hợp danh không còn đủ để thanh toán thì các thành viên hợp danh phải đem tài sản riêng của mình để thanh toán khoản nợ đến hạn của công ty. Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 93 BLDS quy định: “Thành viên của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ do pháp nhân xác lập, thực hiện”. Bởi vậy, trong trường hợp trên, theo quy định của luật doanh nghiệp thì rõ ràng thành viên pháp nhân đã phải chịu trách nhiệm dân sự thay pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, như vậy là mâu thuẫn với bộ luật dân sự.
Các quy địn...