Download miễn phí Luận văn Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: Tổng quan về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam 8
1.1. Khái quát chung về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 8
1.1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 8
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động đưa người lao động ra nước ngoài làm việc 14
1.1.3. Những thuận lợi và khó khăn của việc đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc trong bối cảnh hiện nay 17
1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật Việt Nam đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 21
1.2.1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam đối với hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 21
1.2.2. Những nội dung cơ bản cần được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam trong quá trình đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng 24
1.3. Lược sử quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 27
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1990 27
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1990 đến 6/2007 28
1.3.3. Giai đoạn từ tháng 7/2007 trở đi 29
Chương 2: Pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thực tiễn thực hiện 31
2.1. Nội dung của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 31
2.1.1. Các hình thức người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo pháp luật hiện hành 32
2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 36
2.1.3. Quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 37
2.1.4. Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài 38
2.1.5. Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 40
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam hiện hành về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 40
2.2.1. Những ưu điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành trong việc điều chỉnh hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 41
2.2.2. Những nhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 44
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 54
3.1. Những yêu cầu cơ bản đối với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 54
3.2. Các kiến nghị và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 56
3.2.1. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 56
3.2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Nam về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 63
KẾT LUẬN 69
Danh mục tài liệu tham khảo 70
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39486/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
ởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về vấn đề bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 8/10/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi là Thông tư số 21 năm 2007).
Đặc biệt, để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về thực hiện chương trình hỗ trợ các huyện cùng kiệt giảm cùng kiệt nhanh và bền vững, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 71/2009/QĐ-Ttg về hỗ trợ các huyện cùng kiệt đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm cùng kiệt bền vững giai đoạn 2009 – 2020. Trên cơ sở đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành và phối hợp với các cơ quan chức năng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện.
Các văn bản pháp luật này đã tạo ra khung pháp lý tương đối đầy đủ, chặt chẽ để điều chỉnh hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
2.1. Nội dung của pháp luật Việt Nam hiện hành về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Như đã đề cập ở chương 1, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là quy trình tổng thể gồm nhiều mối quan hệ đan xen với nhau, ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều chủ thể và chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật trong một quốc gia, của pháp luật các quốc gia có liên quan và pháp luật quốc tế. Do đó, trong phạm vi chuyên đề nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung đề cập đến những vấn đề của hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật lao động hiện hành. Cụ thể là các vấn đề cơ bản sau đây: i) Các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được pháp luật Việt Nam thừa nhận và thủ tục tiến hành các hình thức đó; ii) Quyền và nghĩa vụ của chủ thể đủ thẩm quyền đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo luật Việt Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh các nghĩa vụ đối với người lao động Việt Nam; iii) Quyền và nghĩa vụ của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, tuy nhiên những quyền và nghĩa vụ gắn với quan hệ lao động với chủ sử dụng lao động do được điều chỉnh chủ yếu bởi pháp luật của quốc gia tiếp nhận lao động nên được đề cập không rõ nét lắm trong quy định của pháp luật Việt Nam (là nước đưa lao động đi làm việc); iv) Vấn đề xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật Việt Nam trong việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; v) Giải quyết tranh chấp trong việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Xét một cách toàn diện, các vấn đề đã được pháp luật lao động Việt Nam điều chỉnh trên đây chưa phải là tất cả các vấn đề có liên quan hay trực tiếp phát sinh từ hoạt động đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc. Nhưng do còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước tiếp nhận lao động Việt Nam và các công ước, điều ước quốc tế về lao động nước ngoài (thuật ngữ chung trong các văn bản pháp luật quốc tế gọi là “lao động di trú”) nên sẽ được đề cập cụ thể ở những chuyên đề nghiên cứu khác.
Để có căn cứ đánh giá một cách tương đối khách quan về thực trạng pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về đưa người lao động ra nước ngoài làm việc, những ưu điểm và hạn chế cần khắc phục của hệ thống pháp luật hiện hành, trước hết cần phân tích và tìm hiểu về nội dung cơ bản của từng nhóm quy định cụ thể như đã xác định ở phần trên.
2.1.1. Các hình thức người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo pháp luật hiện hành
Thứ nhất, người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua hợp đồng ký kết với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (tạm gọi là bên A).
Đây là hình thức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phổ biến nhất hiện nay. Ở hình thức này có sự tham gia của các doanh nghiệp dịch vụ (tạm gọi là bên A) làm trung gian giữa người lao động Việt Nam (tạm gọi là bên B) với bên tiếp nhận lao động của nước ngoài (sau đây chúng tui tạm gọi là bên C). Để được cấp Giấy phép hoạt động trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, bên A phải đáp ứng các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh các điều kiện thông thường mà bên B khi thành lập doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi nước ngoài phải có theo quy định của Luật doanh nghiệp, bên A còn phải có thêm một số điều kiện khác như: phải có mức vốn pháp định là 5 tỉ đồng, ký quỹ tại Ngân hàng 1 tỉ đồng; có đề án hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; người lãnh đạo điều hành hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có trình độ từ đại học trở lên, có ít nhất ba năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hay hoạt động trong lĩnh vực hợp tác và quan hệ quốc tế; có bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động, trong đó phải bao gồm cán bộ về lĩnh vực pháp luật, ngoại ngữ…
Hoạt động của bên A là hoạt động kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong hoạt động dịch vụ đưa người đi làm việc ở nước ngoài, bên A có vai trò trung gian, là cầu nối giữa doanh nghiệp nước ngoài có nhu cầu tiếp nhận lao động (bên C) với người lao động Việt Nam (bên B). Trước hết, bên A ký kết với bên C hợp đồng cung ứng lao động. Hợp đồng cung ứng lao động phải có những nội dung phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và phải đăng ký với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, bên A sẽ tiến hành tìm kiếm người lao động, sau đó ký kết với người lao động hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (là văn bản ký giữa bên A và bên B để đưa bên B ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động ký giữa bên B và bên C). Đây là hai văn bản này có ý nghĩa pháp lý quan trọng vì nó là cơ sở đảm bảo quyền lợi và ràng buộc trách nhiệm của các bên, nhất là bảo vệ quyền lợi của người lao động (bên B) khi xảy ra tranh chấp giữa các bên. Do đó, pháp luật Việt Nam quy định khá chi tiết về các điều khoản bắt buộc trong hai hợp đồng này. Đây cũng được đánh giá là biện pháp hữu hiệu để góp phần bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam trước, trong và sau khi họ ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng.
Để có thể ký kết được hợp đồng cung ứng lao động với bên nước ngoài, bên A phải đầu tư tì...