Download miễn phí Đề tài WTO - Bước ngoặc mới của nền kinh tế Việt Nam
- Mục lục.
- Nhận xét của giáo viên hướng dẫn và danh sách lớp.
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
5. Phạm vi nghiên cứu.
6. Kết quả nghiên cứu.
PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lí luận của vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế.
1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế.
2.1. Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area – FTA).
2.2. Liên minh thuế quan (Customs Union).
2.3. Thị trường chung (Common Market).
2.4. Liên minh kinh tế (Economic Union).
2.5. Liên minh toàn diện (Comprehensive Union).
3. Các đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế.
4.1. Tích cực
4.2. Tiêu cực
5. Quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam.
6. Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức thương mại thế giới WTO.
Chương II: Thực trạng của Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO.
1. Các mốc đánh dấu chặng đường gia nhập WTO của Việt Nam.
2. Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam trước khi gia nhập WTO.
3. Thực trạng của Việt Nam sau khi gia nhập WTO: được và mất.
3.1. Tình hình kinh tế.
3.1.1. Về thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế
3.1.2. Về ổn định kinh tế vĩ mô và tài chính.
3.1.3. Về thể chế kinh tế.
3.1.4. Tác động đến thị trường chứng khoán 2 năm sau WTO: “ Thuyền mới – gặp bão lớn”.
3.1.4.1. “Được”
3.1.4.2. “Mất”
3.1.5. Tác động đến văn hóa xã hội.
3.1.5.1. Về văn hóa.
3.1.5.1.1. “Được”
3.1.5.1.2. “Mất”
3.1.5.2. Về xã hội.
4. Những khó khăn của Việt Nam khi gia nhập WTO.
4.1. Khó khăn về trình độ phát triển.
4.2. Bất lợi của người đi sau.
4.3. Cạnh tranh với các nước đang phát triển và phát triển.
4.4. Mâu thuẫn giữa năng lực thực thi và các cam kết.
Chương III : Định hướng, giải pháp, kiến nghị để Việt Nam phát triển vững mạnh trong tổ chức WTO.
1. Định hướng.
2. Giải pháp.
3. Kiến nghị.
3.1. Đối với nhà nước.
3.2. Đối với doanh nghiệp.
PHẦN 3: KẾT LUẬN
- Phụ lục.
- Tài liệu tham khảo.
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-18-de_tai_wto_buoc_ngoac_moi_cua_nen_kinh_te_viet_n.bGAbJX0DmP.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-45792/Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
siêu
-47,6%
-30%
-0.8%
+2.5%
-3.2%
Tăng trưởng kinh tế của VN từ 1992 đến 1996 đạt đến 9% năm, nhưng từ 1997 thì giảm dần.
Sau khủng hoảng kinh tế, chính phủ Việt Nam nhấn mạnh: sự ổn định kinh tế vĩ mô hơn là sự tăng trưởng áp dụng nguyên tắc “ chậm mà chắc”.
Nhờ chính sách đổi mới Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 Thế Giới. Bên cạnh gạo các mặt hàng xuất khẩu chính là : hồ tiêu, cà phê, chè , cao su, hạt điều , thủy sản....v.v.v và được xếp vào các thứ hạng cao trên thế giới .
Song song với những nỗ lực tăng sản lượng nông nghiệp.Việt nam đã tìm cách tăng cường sản phẩm công nghiệp. Sản phẩm công nghiệp không những nhiều gấp bội
về số loại mà còn gấp nhiều về sản lượng.Công nghiệp chiếm 32.5 % GDP năm 1999.Tính đến đầu năm 2005, cả nước có 23.2 nghìn doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động với tổng số gần 3.2 triệu lao động , tổng số vốn gần 677,2 nghìn tỉ đồng, tài sản cố định 400 nghìn tỉ đồng .
Về thương mại việc mua bán ở trong nước được tự do hóa, nhiều sản phẩm cung đã vượt cầu .Hiện Việt Nam có quan hệ với hơn 220 quốc gia và nền kinh tế, kim ngạch xuất khẩu tăng 20% /năm liên tục trong nhiều năm qua, giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2006 tương đương trên 60% GDP cả nước.
Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng tới 60 lần, từ mức 789 triệu USD năm 1986 lên hơn 48,5 tỷ USD năm 2007. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) liên tiếp lập những kỷ lục mới trong năm 2007 với mức cam kết lần lượt là 21,3 tỷ USD và 5,4 tỷ USD.
Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD.Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện
Kể từ 1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vượt bậc trên hầu hết các lĩnh vực, tạo nên thế và lực mới, và mở ra rất nhiều tiềm năng và cơ hội phát triển cho đất nước . Liên tục trong vòng 20 năm, tăng trưởng kinh tế khá cao, GDP tăng bình quân 7% / năm, riêng năm 2005 và 2006 tăng trưởng trên 8%/năm. Dự báo kinh tế Việt Nam tăng trưởng 8,5% trong năm 2007. Đất nước đã chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Chính phủ Việt Nam đang hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Cùng với Trung Quốc, Nam Phi, và Vê-nê-zu-ê-la, đầu tháng 5/2007, tổ chức ASEAN đã chính thức ra tuyên bố công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường đầy đủ. Theo số liệu của IMF, tổng sản phẩm quốc dân của Việt Nam tăng từ 45 tỷ USD năm 2004 lên hơn 60 tỷ USD năm 2006, kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm đạt 40 tỷ USD, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vượt trên 10 tỷ USD.riêng năm 2006 đã thu hút được 10,2 tỷ USD.
Những thành tựu kinh tế chung của đất nước đã góp phần cải thiện đời sống các tầng lớp nhân dân. Công cuộc xoá đói giảm cùng kiệt đạt kết quả nổi trội, Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa cùng kiệt trước thời hạn 10 năm, tỷ lệ hộ cùng kiệt theo tiêu chuẩn quốc tế giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 19% năm 2006.
Chỉ số phát triển con người của Việt Nam do UNDP công bố đứng ở mức khá cao so với các nước đang phát triển cùng mức thu nhập bình quân đầu người.
Việt Nam đang phấn đấu thực hiện mục tiêu để sớm ra khỏi nước kém phát triển năm 2010, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
3. Thực trạng của Việt Nam sau khi gia nhập WTO: Được và mất.
3.1 Tình hình kinh tế
3.1.1 Về thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế:
Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 và 2008 tương ứng đạt 48,6 tỷ và 62, 9 tỷ USD, tăng tương ứng 21,9% và 29,5%; Riêng năm 2008 nếu loại trừ trị giá tái xuất sắt thép, vàng và yếu tố tăng giá thì xuất khẩu hàng hoá chỉ tăng 13,5%; Như vậy có thể nói, xuất khẩu vẫn chưa thể hiện mức độ bứt phá so với các năm trước.
Tổng đầu tư xã hội năm 2007 đạt tới 44% GDP và năm 2008 ước khoảng 43,1% GDP. FDI bùng phát kể từ năm 2007 FDI đăng ký tới 21,3 tỷ USD mức cao nhất kể từ khi có Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1987 thực hiện đạt trên 8 tỷ USD riêng phần vốn nước ngoài là 6,7 tỷ USD. Các con số về vốn cam kết và thực hiện giải ngân tương ứng năm 2008 là 60.3 tỷ USD, 11,5 tỷ USD. Vốn đầu tư nhà nước năm 2007 vẫn chiếm tỷ trọng tới 47,2% tổng vốn đầu tư xã hội; đặc biệt, đầu tư của khu vực DNNN năm 2007 tăng rất mạnh. Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước trong tổng vốn đầu tư xã hội đã giảm đáng kể, từ 37-38% giai đoạn 2004-2006 xuống còn 31,6% năm 2007. Sang năm 2008, vốn đầu tư nhà nước năm chiếm tỷ trọng 41,3% tổng vốn đầu tư xã hội; trong khi đó khu vực ngoài nhà nước chiếm 41,3% và khu vực đầu tư nước ngoài chiếm 29,8%.
Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007 tiếp tục đà tăng trưởng của những năm trước đó và đạt 8,5%. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chậm cải thiện. Tăng trưởng GDP năm 2008 chỉ đạt 6.23%.
3.1.2. Về ổn định kinh tế vĩ mô và tài chính:
Lạm phát (tốc độ thay đổi chỉ số giá tiêu dùng CPI so với tháng 12 năm trước) năm 2007 là 12,6% và năm 2008 – 19,98%. Đây là 2 năm có lạm phát cao kỉ lục có sự leo thang kể từ năm 1995. Có nhiều nguyên nhân, song sự lúng túng, bất cập trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, nhất là trong năm 2007 và quí I/2008 đã làm xấu thêm tình hình.
Do nhập khẩu tăng quá nhanh, nên thâm hụt thương mại hàng hoá năm 2007 và 2008 tương ứng lên tới 14,1 tỷ USD và 17,5 tỷ USD (dù đã có xu hướng giảm theo tháng). Năm 2007, nhờ các khoản tiền kiều hối và lao động từ nước ngoài chuyển về, FDI, ODA, và đầu tư gián tiếp,… tăng mạnh nên cán cân thanh toán quốc tế tổng thể có thặng dư hơn 10 tỷ USD. Trong nửa năm đầu năm 2008, khả năng tài trợ cho thâm hụt thương mại trở nên thiếu bền vững hơn; cán cân thanh toán tổng thể vẫn có thặng dư, song thấp chỉ khoảng 0,5 tỷ USD.
Năm 2006-2007 chứng kiến sự bùng nổ thị trường chứng khoán, các hoạt động tài chính, ngân hàng. Các chỉ số đo độ sâu tài chính (như tín dụng/GDP và M2/GDP) và qui mô thị trường chứng khoán (như mức độ vốn hoá, số doanh nghiệp niêm yết, số công ty chứng khoán,…) đều tăng cao. Hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính Việt Nam đã có bước phát triển nhất định. Tuy nhiên, rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro bất ổn hệ thống ngân hàng tăng lên. Một số ngân hàng đã và đang phải đối mặt với các vấn đề kém thanh khoản và tỷ lệ nợ xấu tăng.
Thu Ngân sách nhà nước năm 2007 và 2008 tăng đáng kể; riêng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu năm 2007 tăng 15,4% so với năm 2006 và 6 tháng đầu năm 2008 tăng 53,7% (do nhập khẩu hàng hoá bùng nổ). Tuy nhiên, tính bất định của thu NSNN trong thời còn cao, trong khi sức ép tăng chi thường xuyên và chi đầu tư, nhất là cho phát triển kết cấu h...