Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm nhựa trên thị trường ngoài ngành của Công ty Nhựa cao cấp Hàng không - pdf 19

Download miễn phí Luận văn Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm nhựa trên thị trường ngoài ngành của Công ty Nhựa cao cấp Hàng không



Nhình chung, cơ cấu hoạt động của hệ thống kênh phân phối hiện nay của Công ty tương đối hợp lý. Quy mô của hệ thống kênh phân phối phù hợp với quy mô sản xuất, quy mô thị trường và khả năng tài chính của Công ty. Nhưng với quy mô hiện tại, Công ty không thể mở rộng thị trường ra các khu vực miền Trung như kế hoạch chiến lược đề ra. Hiện nay, với hệ thống kênh phân phối đã có, Công ty chỉ phân phối được cho thị trường Hà Nội và một số tỉnh thành lân cận. Còn những thị trường tiềm năng như ở miền Trung thì hoạt động phân phối của Công ty vẫn còn rất yếu, chưa đủ sức để khai thác được khu vực thị trường này.
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

ay, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng Công ty đã đứng vững và vượt qua những khó khăn, khẳng định vị trí của mình trên thị trường. Những nghiên cứu về Công ty cho thấy rằng kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty tăng đều đặn qua các năm, có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển của ngành Hàng không. Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty đem lại việc làm ổn định cho gần 200 cán bộ công nhân viên với thu nhập tương đối ổn định (1.158.000 đồng/ tháng).
Từ năm 1995, cùng với sự hội nhập và mở cửa của nền kinh tế, quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng, Công ty Nhựa cao cấp Hàng không phải kịp thời cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm để phục vụ nhu cầu đang tăng lên của khách hàng. Bởi vậy, Công ty đã đầu tư đổi mới máy móc, công nghệ để nâng cao năng lực sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, tránh tình trạng phụ thuộc vào một mảng thị trường duy nhất, Công ty chủ động tìm kiếm, mở rộng thị trường ngoài ngành bằng các sản phẩm nhựa gia dụng và các sản phẩm nhựa phục vụ cho công nghiệp. Với quyết tâm đó, Công ty đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Doanh thu của Công ty không ngừng tăng kể từ năm 1995 đến năm 2000. Đây là một sự nỗ lực rất lớn vượt qua thời điểm khó khăn của cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu á năm 1997– 1998. Nhưng lại có một vấn đề là lợi nhuận của Công ty không tăng tương ứng với doanh thu. Đặc biệt, trong năm 2000, mặc dù doanh thu vẫn tăng nhưng lợi nhuận giảm xuống chỉ còn 240 triệu đồng. Điều này là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ. Sang năm 2001, doanh thu giảm xuống chỉ còn 19 tỷ đồng nhưng lợi nhuận vẫn tăng so với năm 2000. Như vậy là Công ty đã chủ trương tập trung vào việc sản xuất và kinh doanh có hiệu quả hơn. Theo kế hoạch thì sang năm 2002, Công ty sẽ tăng lợi nhuận lên là 350 triệu đồng, doanh thu tăng lên tương ứng. Như vậy, Công ty sẽ tiệp tục duy trì mức hiệu quả đã thực hiện được trong năm 2001.
Hiện nay, sản phẩm của Công ty mới xuất hiện chủ yếu trên thị trường Hà Nội và một số tỉnh lân cận. Khu vực miền Trung và miền Nam còn ít biết đến sản phẩm của Công ty. Hơn nữa, bước vào cơ chế thị trường, Công ty đã gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ vốn đã ra đời trước. Sở dĩ như vậy là vì Công ty ra đời trong những năm bắt đầu có sự thay đổi về cơ cấu nền kinh tế, hiện tại lại có một quy mô hoạt động không lớn.
Dưới đây là bảng tổng kết về thị phần của thị trường ngoài ngành với nhóm thị trường khác: (tính trên tổng doanh thu)
Đơn vị: %
Thị trường
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
Thị trường nhựa
công nghiệp
19
24
23
27
27
28
28
Thị trường nhựa
bao bì
9
5
9
15
14
14
18
Thị trường nhựa
gia dụng
19
6
21
15
22
22
24
Thị trường nhựa cho Vietnam Airlines
54
66
47
43
37
36
30
Trong những năm gần đây, tỷ trọng sản phẩm cung cấp cho thị trường ngoài ngành của Công ty tăng dần. Biểu hiện ở chỗ Công ty mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh mà số lượng hàng hóa do Vietnam Airlines tiêu thụ vẫn không có sự thay đổi đáng kể. Cụ thể là trong năm 2001, tỷ trọng sản phẩm hàng hóa cung cấp cho Vietnam Airlines giảm xuống chỉ còn 30% trong tổng doanh thu của Công ty Nhựa cao cấp Hàng không. Điều này cho thấy rằng Công ty đang mở rộng lĩnh vực kinh doanh ra các sản phẩm nhựa ngoài ngành cụ thể là tỷ phần của các loại sản phẩm: thị trường nhựa bao bì: 18%; thị trường nhựa công nghiệp: 28%; thị trường nhựa gia dụng: 24%. Đối với Công ty việc mở rộng ra thị trường ngoài ngành là tất yếu do mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, tính chuyên môn hóa trong việc sản xuất kinh doanh một mặt hàng ngày càng được nâng cao. Nhưng đây cũng là vấn đề mà Công ty cần đặc biệt quan tâm. Việc mở rộng ra thị trường ngoài ngành và hiện tượng doanh thu cũng như lợi nhuận bị giảm xuống đã chỉ ra việc hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong đoạn thị trường này chưa thực sự có hiệu quả. Vì đây là một lĩnh vực kinh doanh mới đối với Công ty nên trong giai đoạn hiện nay cần quan tâm, chú trọng nhiều đến chất lượng kinh doanh. Theo kế hoạch thì sang năm 2002, Công ty sẽ vẫn tăng tỷ trọng phần thị trường ngoài ngành lên trên tổng số doanh thu. Song song với công việc này, Công ty cũng vẫn phải duy trì được hiệu quả sản xuất kinh doanh như năm 2001 và đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, Công ty có một thế mạnh là duy trì được mảng thị trường trong ngành làm hậu phương vững chắc hỗ trợ cho việc kinh doanh trên lĩnh vực ngoài ngành. Đây là một lợi thế rất lớn để có được chỗ đứng trong nền kinh tế thị trường trong tương lai, khi Việt Nam ra nhập APEC.
Kết hợp với tình hình kinh doanh nói chung của toàn Công ty thì ta có thể biết được Công ty đang có những kế hoạch để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh làm tăng lợi nhuận do tình hình kinh doanh của Công ty trong thời gian gần đây không được tốt như trước kia. Như vậy, trong những năm gần đây, tình hình doanh thu và lợi nhuận đã có hướng giảm xuống. Đây là một kết quả tất yếu đối với các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ khi phải đối đầu với cuộc khủng hoảng kinh tế Châu á. Nhưng với tiềm năng sẵn có và nếu biết cách phát huy thế mạnh nội lực của mình thì chắc chắn trong tương lai gần, Công ty sẽ ngày càng tiến xa hơn trên con đường kinh doanh. Công ty cần mở rộng quy mô sản xuất, cung cấp nhiều sản phẩm mới với chất lượng tốt, góp phần đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường Việt Nam, vững vàng bước vào thị trường cạnh tranh gay gắt với đầy thách thức và rủi ro trong kinh doanh khi hội nhập kinh tế (AFTA).
III. Thực trạng về việc tổ chức (thiết kế) mạng lưới kênh phân phối sản phẩm nhựa trên thị trường ngoài ngành.
1. Thực trạng về cấu trúc mạng lưới kênh phân phối.
Do có lợi thế hơn các doanh nghiệp khác vì có đối tượng tiêu thụ cho Công ty một khối lượng sản phẩm khá lớn, đó là Tổng công ty Hàng không dân dụng Việt Nam. Khối lượng sản phẩm phục vụ thị trường trong ngành có thể đảm bảo cho Công ty trong việc tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, có thể tồn tại trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt. Thị trường tiêu dùng mà Công ty phục vụ chủ yếu tập trung ở khu vực miền Bắc và miền Trung. Khách hàng công nghiệp của Công ty tập trung chủ yếu ở khu vực Hà Nội và các tỉnh lân cận. Sản phẩm phục vụ trên thị trường tiêu dùng rất đa dạng với nhiều chủng loại hàng hóa, mỗi loại sản phẩm, hàng hóa chiếm vị trí tuy không lớn trên thị trường nhưng thực sự có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty. Các loại sản phẩm chính của Công ty là các loại cốc, sản phẩm gia dụng như phích đá, bình đựng nước, bình đựng đường, ghế nhựa, thiết bị vệ sinh 707, 606, âu cơm, các loại túi nhựa đựng thực phẩm…. Các loại sản phẩm này chiếm khoảng 25% thị trường miền Bắc. Tỷ phần thị trường này không lớn và chủ yếu tập trung là ở thị trường Hà Nội.
Ngoài ra, để đảm bảo phát triển sản xuất, Công ty luô...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status