Nghiên cứu văn bia huyện Sóc Sơn, Hà Nội
Lê Thị Thông
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Hán Nôm; Mã số: 60 22 40
Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Thị Thuỳ Vinh
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Chương 1: Lịch sử, địa lý, văn hóa truyền thống huyện Sóc Sơn. Chương 2:
Đặc điểm văn bia huyện Sóc Sơn. Chương 3: Giá trị nội dung văn bia huyện Sóc Sơn.
Keywords: Văn bia; Hán nôm; Sóc Sơn
Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sóc Sơn là một huyện thuộc ngoại thành Hà Nội, là vùng đất có bề dầy lịch sử văn
hóa, nơi hội tụ giao thoa giữa hai nền văn hóa: văn hóa Kinh Bắc và văn hóa Thăng Long. Sóc
Sơn là vùng có nhiều di tích lịch sử. Đặc biệt Sóc Sơn còn lưu giữ được một số lượng văn bia
khá lớn. Văn bia nơi đây phản ánh rõ nét sự thay đổi về mặt địa lý, lịch sử cùng sự phát triển
về đời sống, văn hóa, sinh hoạt làng xã của người dân. Nghiên cứu giới thiệu về hình thức văn
bản cũng như nội dung của văn bia đang là nhu cầu của xã hội muốn tìm hiểu về cội nguồn,
về làng xã. Bởi bia đá – xét về vật thể hiện hữu, và văn bia - xét về giá trị văn bản mà bia đá
chuyển tải, xuất hiện khắp các làng quê của cả nước trong các thời kỳ lịch sử khác nhau. Bia
đá bổ sung cho chính sử, là cứ liệu khá chính xác để tìm hiểu về các làng Việt truyền thống
trong quá trình vận động và phát triển.Từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về
văn bia của huyện Sóc Sơn một cách cụ thể. Ngoài những công trình như các bộ thư mục văn
bia, bộ văn khắc Hán Nôm Việt Nam… có tính chất thông tin bước đầu, thì chỉ có một số
tuyển dịch văn bia của một vài di tích. Nghiên cứu văn bia dưới góc độ hệ thống các vấn đề
huyện Gia Lâm, Hà Nội của Th.s Phạm Minh Đức…Ngoài ra còn rất nhiều bài viết đề cập
đến văn bia một cách sâu sắc.
Huyện Sóc Sơn có 274 văn bia văn bản có niên đại sớm nhất là năm Hồng Phúc 1 (1572),
muộn nhất vào năm Bảo Đại thứ 14 (1939). Số lượng bia huyện Sóc Sơn khá lớn và có giá trị,
nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ về
số lượng văn bia này. Viết về văn bia huyện Sóc Sơn, cho đến nay đáng kể nhất phải kể đến
cuốn sách Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã của TS. Phạm Thùy
Vinh, trong đó huyện Sóc Sơn được đề cập đến là huyện Kim Hoa thời Lê.
3. Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, hệ thống tất cả những thác bản văn bia trên địa bàn huyện Sóc Sơn
gồm 274 văn bia trên địa bàn 25 xã.
3
3. 2 Phạm vi nghiên cứu
Sóc Sơn là huyện có bề dầy lịch sử, văn hóa, trải qua những bước biến đổi thăng trầm của
lịch sử, huyện Sóc Sơn cũng có những thay đổi về mặt địa lý hành chính. Văn bia huyện Sóc
Sơn là di sản vô giá, văn bia chủ yếu tồn tại dưới hai hình thức: hiện vật bia đá và thác bản
văn bia. Văn bia nơi đây mang nhiều giá trị, đặc trưng tiêu biểu của vùng đất thuộc xứ Kinh
Bắc xưa. Văn bia phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội: đời sống sinh hoạt, phong tục, tập
quán tín ngưỡng Do thời gian có hạn nên trong luận văn này chúng tôi chủ yếu tập trung
khảo sát văn bia dưới dạng thác bản. Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm 3 vấn đề:
- Tìm hiểu lịch sử địa lý và văn hóa huyện Sóc Sơn
- Khảo sát, nghiên cứu đặc điểm văn bia huyện Sóc Sơn
- Tìm hiểu nội dung văn bia của huyện Sóc Sơn
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp là vấn đề hết sức quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Để hoàn thành luận
văn, chúng tôi có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
3.3.1 Phương pháp văn bản học
Thông qua mô tả văn bản về các mặt như kích cỡ bia, độ dài bài văn bia, đặc điểm
- Phần nội dung được chia ra 3 chương:
+ Chương 1: Giới thiệu lịch sử địa lý, văn hóa truyền thống của huyện Gia Lâm, Hà
Nội.
+ Chương 2: Đặc điểm văn bia huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
+ Chương 3: Tìm hiểu giá trị nội dung văn bia huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
- Phần phụ lục bao gồm:
+ Nguyên văn một số bài văn bia của huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
+ Phiên âm, dịch nghĩa giới thiệu một số văn bia tiêu biểu.
6. Quy ước trình bày
- Các tài liệu trích dẫn để trong ngoặc vuông và đánh số theo thứ tự trong danh mục Tài
liệu tham khảo cùng số trang của tài liệu được trích dẫn. Ví dụ: Đại Việt sử kí toàn thư [159,
tr.133]. Các văn bia cũng có số thứ tự từ 1 đến 274 cũng đồng thời là những số thứ tự đầu của
chúng tôi trong phần tài liệu tham khảo. Ví dụ [1] tức là bia số 1, [2] là bia số 2
- Những chữ trên văn bia bị mờ trong phần phụ lục cúng tôi thống nhất để trong ngoặc [.].
References
A. TIẾNG VIỆT.
275. Bùi Huy Bích: Hoàng Việt văn tuyển, phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa, 1971.
276. Bùi Thiết: Từ điển Hà Nội địa danh. Nxb Văn hóa Thông tin, 1993.
277 Đào Duy Anh: Chữ Nôm nguồn gốc cấu tạo và diễn biến. Nxb KHXH H.1975.
278. Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam. Nxb Văn hóa Thông tin, 2002.
279. Đinh Khắc Thuân : Văn bia thời Mạc. Nxb KHXH, H.1996.
280. Đinh Khắc Thuân: Văn bia làng Nành. Nxb KHXH, 2003.
281. Hà Văn Tấn (chủ biên): Đình Việt Nam. Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1998.
5
282. Đỗ Thị Bích Tuyển: Nghiên cứu hệ thống văn bia chợ Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ
Hán Nôm, H.2003
283. Đỗ Văn Ninh: Từ điển quan chức Việt Nam. Nxb Thanh Niên, 2006.
1959.
6
305. Phan Đại Doãn: Làng Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế xã hội. Nxb, KHXH - Nxb.
Mũi Cà Mau, 1992.
306. Phan Huy Chú: Lịch triều Hiến chương loại chí. Nxb KHXH, 1992
307. Phan Huy Lê. Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Nxb Giáo dục H.1959
308. Phong thổ Hà Bắc đời Lê. Ty văn hóa Hà Bắc, 1971.
309. Phạm Thị Thùy Vinh: Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng
xã. Nxb Văn hóa Thông tin, 2003.
310. Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng: Các triều đại Việt Nam. Nxb Thanh Niên, H.2000.
311. Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, Dương Thị The - Phạm Thị Thoa dịch và biên
soạn. NXB. KHXH, Hà Nội, 1981.
312. Thiều Chửu: Hán Việt tự điển, Nxb. VHTT, H.1999.
313. Trần Hồng Đức: Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại
phong kiến Việt Nam, Nxb. VHTT, H.1999.
314. Trần Huy Liệu: Lịch sử thủ đô Hà Nội. NXB Hà Nội, 2000
315. Trần Nghĩa (chủ biên): Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu, 4 tập. Nxb. KHXH, H,
1984.
316. Trịnh Khắc Mạnh: Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam. Nxb. KHXH,
H.2002.
317. Trịnh Khắc Mạnh (giới thiệu và biên dịch): Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam. Nxb
Giáo dục, 2006.
318. Trịnh Khắc Mạnh: Một số vấn đề về Văn bia Việt Nam. Nxb. KHXH, 2008.
319. Từ điển Phật học Hán Việt. Nxb KHXH, H.1999.
320. Tuyển tập văn bia Hà Nội. Nxb KHXH, 1978.
321. Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm Nxb KHXH,
H.1983.
322. Nguyễn Quang Hồng (chủ biên): Văn khắc Hán Nôm Việt Nam tuyển chọn - lược
thuật. Nxb KHXH, H.1993.
Hán Nôm, số 6 - 2004.
338. Đinh Khắc Thuân: “Đá, thợ khắc và đặc trưng Bia thế kỷ XVI”, Tạp chí Hán
Nôm, số 2 1998.
339. Đinh Khắc Thuân: “Một số vấn đề về niên đại bia Việt Nam”, Tạp chí Hán Nôm,
số 2 - 1987.
340. Đinh Khắc Thuân: “Văn bia Hán Nôm với di tích, danh thắng”, Thông báo Hán
Nôm 2002, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, H. 2003.
341. Đinh Khắc Thuân: “Vài nét về kim thạch và khoa nghiên cứu kim thạch ở Trung
Quốc”, Tạp chí Hán Nôm, số 1 - 1992.
342. Đinh Khắc Thuân: Văn bia Hán Nôm với di tích, danh thắng, Thông báo Hán
Nôm năm 2002, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, H.2003.
343. Đinh Văn Minh: “Văn khắc sớm nhất ở Trung Quốc”, Thông báo Hán Nôm học,
2000, tr.284 - 289.
8
344. Đỗ Thị Bích Tuyển: “Văn bia chợ Việt Nam - Giá trị tư liệu khi tìm hiểu các vấn
đề sinh hoạt xã hội thời phong kiến”, Tạp chí Hán Nôm, số 5- 2006, tr. 48 - 58.
345. Đỗ Thị Hảo: “Nét “dân gian” trong một số Văn bia Thăng Long”, Tạp chí Hán
Nôm, số 1 - 2000.
346. Dương Thị The - Phạm Thị Thoa: “Đôi nét về bia hậu”, Tạp chí Hán Nôm, số 2 -
1987.
347. Hoàng Lê: “Vài nét về tình hình sưu tầm và nghiên cứu văn bia Việt Nam”, tạp
chí Khảo cổ học, số 2 - 1982.
348. Lâm Giang: Chữ Nôm kiêng húy trên tấm bia đời Trần, Thông báo Hán Nôm,
1998
349. Lê Đình Phụng: “Tìm hiểu nghệ thuật trang trí bia đá thế kỷ XVIII”, Tạp chí Khảo
cổ học, số 2 - 1987, tr.45 - 51.
350. Lê Viết Nga: Quan hệ giữa Lưỡng quốc Trạng Nguyên Nguyễn Đăng Đạo và Thám
hoa Nguyễn Thế Lập, Thông báo Hán Nôm, 2004.
351. Mai Hồng: “Tục bầu Hậu Thần, Hậu Phật qua một số tấm bia ở một làng quê Thái
chí Hán Nôm, số 2- 2008.
366. Phạm Thị Thùy Vinh: “Về một số bia tượng Hậu thế kỷ XVII - XVIII”, Thông báo
Hán Nôm 1996, tr 491- 501.
367. Phạm Thùy Vinh: “Lệ bầu Hậu của người Việt qua tư liệu văn bia”, Tạp chí Nghiên
cứu lịch sử, số 3 - 2006.
368. Phạm Thùy Vinh: Có một tình thầy trò như thế qua văn bia, Thông báo Hán Nôm,
1997
369. Phạm Thị Thuỳ Vinh: “Bước đầu tìm hiểu loại hình văn khắc chữ Hán của Nhật
Bản”, Tạp chí Hán Nôm, số 5 – 2003.
370. Phạm Thị Thuỳ Vinh: “Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng
xã”, Tạp chí Hán Nôm, số 5 – 2002.
371. Phạm Thị Thuỳ Vinh: “Tên gọi “Việt Nam”trong bia đá thời Lê Trung Hưng”, Tạp
chí Hán Nôm, số 4 – 1994.
372. Phạm Thị Thuỳ Vinh: “Văn bản chữ Hán trên pho tượng Phật thế kỷ XV mới được
phát hiện tại Hà Bắc”, Tạp chí Hán Nôm, số 4 – 1993.
373. Phạm Thị Thuỳ Vinh: “Bia về các Thái giám triều Lê tại Kinh Bắc”, Tạp chí Hán
Nôm, số 1- 1996.
374. Phạm Thị Thuỳ Vinh: “Vài nét về hai quả chuông thời Tây Sơn tại Sài Sơn, Hà Sơn
Bình”, Tạp chí Hán Nôm, số 1- 1987.
375. Phạm Thị Thuỳ Vinh: “Một số đặc điểm về nội dung và hình thức của văn bản văn
bia Lê sơ”, Tạp chí Hán Nôm, số 4- 2008.
376. Phạm Thị Thuỳ Vinh: Văn khắc Hán Nôm Hà Nội qua đợt sưu tầm của Viện Viễn
Đông bác cổ Pháp đầu thế kỷ 20, Tạp chí Hán Nôm, năm 2009
377. Trần Thị Kim Anh: “Bia hậu ở Việt Nam”, Tạp chí Hán Nôm, số 3 - 2004.