Kết quả bước đầu nghiên cứu định tính về hành vi dọa tự tử tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội doc - Pdf 12

TCNCYH 29 (3) - 2004

71
KếT QU bớc ĐầU NGHIêN CU ĐịNH TíNH Về HàNH VI
DOạ Tự Tử TạI HUYệN SóC SơN, Hà NộI

Trần Thị Thanh Hơng
1
, Nguyễn Thị Thanh Hơng
1
,
Danuta Wasserman
2
,
Phạm Thị Minh Đức
1
, Nguyễn Văn Tờng
1
1
Trờng Đại hoc Y Hà Nội
2
Viện Karolinska (Thuỵ Điển)
27 i tng cú hnh vi do t t vo iu tr ti Trung tõm y t Súc Sn trong khong thi gian
t 1/7/2001 n 31/7/2002 c tin hnh phng vn sõu bng nhng cõu hi m v cõu hi bỏn
cu trỳc v nguyờn nhõn t t v quỏ trỡnh din bin tõm lý dn n hnh vi t t. Nguyờn nhõn dn
n hnh vi t t nhúm > 24 tui thng do kt hp nhiu nguyờn nhõn trong khi vi nhúm 24
tui thng ch
do mt nguyờn nhõn. Quỏ trỡnh din bin tõm lý gia 2 nhúm cng khỏc nhau dn
n nhng gi ý cho vic phũng trỏnh hnh vi t t cng khỏc nhau gia 2 nhúm.

I. T VN

cỏc bnh nhõn do t t thng khụng mun
núi tht vi bỏc s v nguyờn nhõn chớnh, ụi
khi h cũn du tờn, tui, a ch v khụng
tha nhn mỡnh ó t t khin cho vic thc
hi
n nghiờn cu trờn cỏc i tng ny tr
nờn khú khn rt nhiu.
Vic xỏc nh cỏc din bin tõm lý cng
nh cỏc nguyờn nhõn sõu xa dn ti hnh vi
ny s gúp phn cho vic gi ý cỏc bin phỏp
phũng trỏnh i vi hnh vi nhy cm ny.
Do vy, chỳng tụi tin hnh nghiờn cu
nh tớnh ny vi mc ớch:
1. Xỏc nh lý do dn ti hnh vi do t
t ti huyn Súc Sn, H Ni.
2. Phõn tớch bc u mt s
c im
tõm lý dn n hnh vi do t t ngoi
thnh H Ni
II. I TNG V PHNG PHP
NGHIấN CU
1. i tng v a im nghiờn cu
Cỏc bnh nhõn do t t vo iu tr ti
Trung tõm y t Súc Sn t ngy 1/7/2001
31/7/2002 c xỏc nh da trờn bnh ỏn
lu ti bnh vin. Vi s giỳp ca nhõn
viờn y t,
a ch ca cỏc i tng c xỏc
nh li v vic chn oỏn l do t t cng
c khng nh li da trờn cỏc tiờu chun


Xác định các vấn đề, mệnh đề /chủ đề mấu chốt

Dùng các vấn đề, mệnh đề/chủ đề mấu chốt
để xem xét lại từng bả
n phỏng vấn

Tìm mối tương quan giữa mệnh đề/chủ đề

Tìm sự lý giải mối tương quan giữa các mệnh đề/chủ đề

Việc mã hoá số liệu, tìm các mệnh đề/chủ
đề được các tác giả tiến hành một cách độc
lập. Sau đó các tác giả cùng nhau thảo luận
để thống nhất các mệnh đề/chủ đề chung và
lý giải cho mối tương quan này.
Các đố
i tượng nghiên cứu được chia
thành 2 nhóm: Nhóm ≤ 24 tuổi và nhóm > 24
tuổi. Sở dĩ chúng tôi chia thành 2 nhóm tuổi
này do kết quả các nghiên cứu trước đây của
chúng tôi cho thấy tỷ lệ học sinh/sinh viên
(tương ứng với nhóm tuổi 15 – 24 tuổi) có ý
tưởng tự tử là lớn nhất,vì vậy chúng tôi cũng
muốn nghiên cứu sâu hơn các đặc điểm tự tử
của lứa tuổi này để giúp cho việc xây dựng
các mô hình can thiệ
p tiếp theo. Việc phân
tích nguyên nhân cũng như các diễn biến tâm
lý cũng được chia theo 2 nhóm này.

hành động tự tử thường rất đơn giản, chỉ có
duy nhất 1 lý do và mang tính chất bột phát.
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn với những
người trong gia đình như bố, m
ẹ, anh chị em
“Nhà em rất khó khăn. Hôm đó, em xin
tiền học phí. Bố uống rượu nhiều nên mắng
chửi em. Lúc em chuẩn bị đi học thì bố mắng
em và do đó em có ý định tự tử.” (PVT, nam
18 tuổi).
“Hôm em uống thuốc, trước đó mẹ em
mắng em rất nhiều. Em buồn quá, chả nghĩ gì
hết, pha thuốc gói ra uống 1 chén” (NTT, nữ,
20 tuổi).
Với nhóm > 24 tuổi, lý do dẫn tới hành
động tự
tử thường phức tạp, do nhiều lý do
kết hợp với nhau. Mặc dù mâu thuẫn trong
gia đình vẫn là lý do cuối cùng dẫn đến hành
vi tự tử nhưng quá trình này thường theo mô
hình sau:

Nghèo

Uống rượu Dễ dẫn đến mâu thuẫn gia đình

Thay đổi tính cách Tự tử

3. Diễn biến tâm lý dẫn tới hành vi
doạ tự tử

quá, bực quá và không muốn chịu đựng
thêm những lời mắng chửi c
ủa mẹ và nghĩ
chết là hết, là nhẹ nợ cuộc đời” (NBS, nam,
18 tuổi)
” Hôm đó, hai vợ chồng em cãi nhau, sau
đó chồng em đánh em rồi đuổi em về nhà mẹ,
em rất buồn và nghĩ đến cái chết. Em vào
nhà lấy chai thuốc trừ sâu để uống. Lúc đó có
mọi người trong gia đình chồng, mẹ chồng,
anh chồng, chị dâu, chú chồng” (NTT, nữ, 24
tuổi)
Ngược lại, với nhóm > 25 tu
ổi, 5/11 đối
tượng có kế hoạch chuẩn bị từ trước như tích
trữ thuốc, đã nghĩ đến việc lập kế hoạch cho
hành vi này trước đó (trong khi ở nhóm ≤
24 tuổi, không có đối tượng nào có kế hoạch
từ trước), chỉ có 4 người có người khác ở
bên cạnh khi xuất hiện hành vi tự tử. Tuy
nhiên những đối tượng này cũng chưa thực
sự ”mu
ốn chết”, 7 người trong số này có ”

73
TCNCYH 29 (3) - 2004

74
truyền đạt thông tin về hành vi tự tử” như liên
hệ với một ai đó, có hành động trả nợ, hay

11
5
Cần sự hỗ trợ về tinh thần
Đã nhận được sự hỗ trợ về tinh thần
16
7
9
4
Hành vi tự tử mang tính bột phát
14 3
Truyền đạt thông tin về tự tử trước khi hành động
2 7
Sử dụng thuốc trừ sâu/thuốc chuột để tự tử
14 11
Tư vấn và theo dõi sau khi điều trị
0 0
Cảm giác sau khi ra viện
Cảm giác ngại ngùng
Cảm giác ân hận

7
1

1
5
Tiếp tục có ý tưởng tự tử
Không có ý tưởng tự tử nữa
Không chắc chắn

14

TCNCYH 29 (3) - 2004
Đối với cả 2 nhóm tuổi thì việc điều trị
thường ngắn, trong vòng 1 – 7 ngày và không
có bệnh nhân nào được tư vấn và theo dõi
sau khi ra viện.
3.3. Đặc điểm tâm lý sau khi điều trị tại
bệnh viện
Với nhóm trẻ tuổi thì phần lớn các đối
tượng cảm thấy ngại ngùng khi tiếp xúc với
người xung quanh sau hành động tự tử,
nhưng đối với nhóm > 24 tuổi thì cảm giác
thườ
ng gặp là ân hận với hành động của
mình và cảm giác có lỗi với con cái (Bảng 1):
”Hỏi: Em có cảm giác như thế nào sau khi
được đưa từ bệnh viện về?
Trả lời: Em ngại hàng xóm” (DTA, nữ, 15 tuổi)
”Thực ra thì hành động đó là sai với luân
thường đạo lý, đối với tất cả những vấn đề
trong thực tế nhưng mà nói đúng thì đúng với
một mình mình thôi” (NVK, nam, 38 tuổi)
Phần lớn nhóm tuổi ≤ 24 tuổi sau đó
không còn ý tưởng tự tử nữa trong khi với
nhóm > 24 tuổi thì việc không có ý tưởng tự
tử tiếp tục là chưa thể khẳng định (Bảng 1):
” Nếu sau này có chuyện bu
ồn thì chẳng
bao giờ em dại dột làm chuyện đó nữa. Hồi
đó em còn trẻ con, còn bây giờ thì không”
(NTM, nữ, 20 tuổi)

doạ tự tử ở nhóm > 24 tuổi. Xác định sớm
các biến đổi tính cách do sử dụng rượu có
thể là một trong các biện pháp góp phần
phòng chống tự tử.

Các kết quả thu được giống với các nghiên
cứu trước

-Nguyên nhân của doạ tự tử thường do các
xung đột mang tính cá nhân.
- Không rõ mối tương quan giữa các rối loạn
tâm thần và hành vi doạ tự tử.

Các kết quả thu được thêm từ nghiên cứu
định tính
- Doạ tự tử ở người > 24 tuổi thường do nhiều
nguyên nhân kết hợp với nhau, diễn ra trong
một thời gian dài và xung đột gia đình là lý do
cuối cùng dẫn đến hành vi doạ tự tử.
- Nghèo đói, lạm dụng rượu là những nguyên
nhân quan trọng liên quan tới hành vi doạ tự tử
tại nông thôn Việt Nam.
- Hành vi doạ tự tử ở nhóm trẻ tuổi thường
mang tính bột phát trong khi ở nhóm nhiề
u tuổi
thường có kế hoạch trước.

75
TCNCYH 29 (3) - 2004
2. Diễn biến tâm lý của quá trình dẫn đến


Thuốc trừ sâu và thuốc diệt chuột là cách
thức được sử dụng phổ biến ở cả 2 nhóm tuổi.
Vì vậy tăng cường quản lý các chất này cũng
là biện pháp hữu hiệu phòng tránh tự tử.
Kết quả của chúng tôi cũng cho thấy việc
xuất hiện hành vi tự tử ở nhóm nhiều tuổi
thường sau một thời gian dài, có kế hoạch và
tr
ước đó họ thường đã nhiều lần có ý tưởng
tự tử. Các dấu hiệu “truyền đạt về ý tưởng tự
tử” có thể được thể hiện qua lời nói, qua việc
hoàn thiện một việc mà người đó mong ước,
qua việc chuẩn bị như tích trữ thuốc hay để
lại các thông tin bằng cách viết thư hay
những lời nhắn nhủ với bạn bè và ngườ
i
thân. Việc phát hiện ra các dấu hiệu này cũng

gặp các tình huống khó khăn trong cuộc
s
ống.
- Giảm “khả năng tiếp cận” với thuốc chuột
và thuốc trừ sâu cũng góp phần phòng
chống tự tử
- Phát hiện sớm các dấu hiệu “ truyền đạt
về ý tưởng tự tử” (suicidal communication)
ở nhóm người nhiều tuổi cũng sẽ có giá trị
không nhỏ trong việc phòng chống hành vi
tự tử cho nhóm này.
- Sự động viên, chia xẻ, cảm thông của
những ngườ
i thân sau khi hành vi doạ tự
tử xảy ra cũng là yếu tố tránh cho họ có ý
nghĩ tự tử lại.
Tuy nhiên nghiên cứu này của chúng tôi
mới chỉ dừng ở mức độ mô tả, chúng tôi sẽ
tiến hành theo dõi những bệnh nhân này
cũng như chọn thêm nhóm chứng để có thể
có được những kết quả sâu hơn về các yếu
tố nguy cơ cũng như các yếu tố bảo vệ của
những bệnh nhân doạ tự tử, góp phần xây
dựng một cách hoàn thi
ện những biện pháp
phòng tránh có hiệu quả.
V. KẾT LUẬN
Lý do dẫn đến doạ tự tử thường đơn giản
ở nhóm đối tượng ≤ 24 tuổi và phức tạp -
gồm nhiều nguyên nhân đối với nhóm > 24

factors for suicide behavior. Crisis 22: 43 –
47.
2. Huong TTT, Guo Xin J, Tuong NV et al:
Attempted suicide in Hanoi, Vietnam.
Submitted.
3. Phlips MR, Yang G, Zhang Y et al. Risk
factors for suicide in China: a national case-
control psychological autopsy study. Lancet,
2002: 360: 1728 – 36.
4. Wasserman D. (ed) Suicide: an
Unnecessary Death. London: Martin Dunitz,
2001.
5. Wasserman D, Varnik A. Suicide-
prevnetive effects of perestroika in the former
USSR: the rols of alcohol restriction. Acta
Psychiatr Scand Suppl, 1998: 394: 1-4
6. WHO. World Health Report 2001.
Geneva: WHO, 2001.
7. WHO. Department of Mental Health.
Preventing suicide: a resource for teachers
and other school staff. Geneva: WHO, 2000.

Summary
PRELIMINARY RESULTS OF QUALITATIVE STUDY ON ATTEMPTED
SUICIDE IN SOCSON DISTRICT IN HANOI
27 suicide attempters treated in Socson district hospital during 31 July 2001 to 31 July 2002
were in-depth interviewed by semi-structure and opened questionnaires. Causes of attempted
suicide in the age group ≤ 24 year old are simple while complex in the group > 24 year old.
Differences in psychological aspects among 2 group will suggest specific suitable ways for
suicide prevention in each group.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status