Khái niệm và đặc trưng cơ bản của giao tiếp
Nguồn: www.tamlyhoc.net
1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một trong những phạm trù trung tâm của tâm lý học. Tư tưởng
về giao tiếp được đề cập đến từ thời cổ đại qua thời kỳ phục hưng và đến giữa thế
kỷ XX thì hình thành nên một chuyên ngành Tâm lý học giao tiếp. Ngay từ khi
còn là các tư tưởng về giao tiếp đến khi xuất hiện Tâm lý học giao tiếp thì khái
niệm, bản chất giao tiếp chưa bao giờ thống nhất hoàn toàn. Mỗi tác giả đề cập
đến một mặt, một khía cạnh của hoạt động giao tiếp.
Tuy mới hình thành mấy chục năm gần đây nhưng trong chuyên ngành
Tâm lý học đã có nhiều ý kiến, quan điểm, thậm chí trái ngược nhau về giao tiếp.
Khi tìm hiểu khám phá bản chất giao tiếp các nhà Tâm lý học đã có các hướng khá
rõ nét:
1.1. Trên thế giới
Nhà tâm lý học ng¬ười Mỹ Osgood C.E cho rằng giao tiếp bao gồm các
hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin.
Theo ông, giao tiếp là một quá trình hai mặt: Liên lạc và ảnh h¬ưởng lẫn nhau.
Tuy nhiên ông ch¬ưa đư¬a ra đư¬ợc nội hàm cụ thể của liên lạc và ảnh hư¬ởng
lẫn nhau. Sau ông, nhà tâm lý học ng¬ười Anh M.Argyle đã mô tả quá trình ảnh
hư¬ởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau. Ông coi giao tiếp thông tin
mà nó đ¬ược biểu hiện bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ giống với việc
tiếp xúc thân thể của con ng¬ười trong quá trình tác động qua lại về mặt vật lý và
chuyển dịch không gian. Đồng thời, nhà tâm lý học Mỹ T.Sibutanhi cũng làm rõ
khái niệm liên lạc - nh¬ư là một hoạt động mà nó chế định sự phối hợp lẫn nhau
và sự thích ứng hành vi của các cá thể tham gia vào quá trình giao tiếp hay nh¬ư
là sự trao đổi hoạt động đảm bảo cho sự giúp đỡ lẫn nhau và phối hợp hành động.
Ông viết: “Liên lạc tr¬ước hết là phư¬ơng pháp hoạt động làm giản đơn hoá sự
thích ứng hành vi lẫn nhau của con ngư¬ời. Những cử chỉ và âm điệu khác nhau
trở thành liên lạc khi con ng¬ười sử dụng vào các tình thế tác động qua lại”.
Các tác giả trên mới chỉ dừng lại ở sự mô tả bề ngoài của hiện tượng giao
một nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (tư¬ơng tác). Thông tin hay
thông điệp đ¬ược nguồn phát mà ng¬ười nhận phải giải mã, cả hai bên đều vận
dụng một mã chung.
Theo “Tâm lý học đại c¬ương” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên). Giao tiếp
là quá trình tiếp xúc giữa con ngư¬ời với con ngư¬ời nhằm mục đích nhận thức,
thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh h¬ưởng tác động
qua lại lẫn nhau.
Theo “Tâm lý học xã hội” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên). Giao tiếp là sự
tiếp xúc trao đổi thông tin giữa ngư¬ời với ng¬ười thông qua ngôn ngữ, cử chỉ,
tư¬ thế, trang phục…
Như vậy, có rất nhiều đinh nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi tác giả tuỳ theo
phương diện nghiên cứu của mình đã rút ra một định nghĩa giao tiếp theo cách
riêng và làm nổi bật khía cạnh nào đó. Tuy vậy, số đông các tác giả đều hiểu giao
tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng
tình cảm…Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người.
Nói tóm lại, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về giao tiếp, và như vậy
dẫn đến rất nhiều phương pháp tiếp cận, nghiên cứu các vấn đề về giao tiếp. Các
quan điểm trên đây còn nhiều điểm khác nhau nh¬ưng đã phần nào phác họa nên
diện mạo bề ngoài của giao tiếp. Giao tiếp và hoạt động không tồn tại song song
hay tồn tại độc lập, mà chúng tồn tại thống nhất, chúng là hai mặt của sự tồn tại xã
hội của con người. Giao tiếp được coi như:
- Qúa trình trao đổi thông tin
- Sự tác động qua lại giữa người với người.
- Sự tri giác con người bởi con người.
2. Các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp
Với sự nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như tâm lý học, xã
hội học, kinh tế học, ngôn ngữ học, y học…đặc biệt với sự phát triển của tin học
và điều khiển học, khái niệm giao tiếp không chỉ đơn thuần như một quá trình
truyền đạt thông tin từ một điểm phát tới một điểm thu. Để quá trình giao tiếp phát
huy được hiệu quả cao nhất thì phải tính đến các yếu tố tham gia trong giao tiếp.
- Ở bất kỳ một cuộc giao tiếp nào giữa con người với con người đều để lại
trong chủ thể và đối tượng giao tiếp một phẩm chất nhất định về nhận thức. Nội
dung nhận thức trong giao tiếp rất phong phú, đa dạng và sinh động. Thông qua
giao tiếp để người ta trao đổi vốn kinh nghiệm, tranh luận về quan điểm, thái độ.
Sau mỗi lần giao tiếp mọi thành viên đều nhận thức thêm được những điều mới
mẻ. Thông qua giao tiếp để người ta truyền đạt và lĩnh hội những tri thức về tự
nhiên, xã hội. Cũng chính thông qua giao tiếp để người ta hiểu biết lẫn nhau.
Như vậy, nội dung nhân thức có thể xảy ra trong suốt cả quá trình giao tiếp
hoặc chỉ xẩy ra mạnh mẽ tại thời điểm gặp gỡ. Dù ở thời điểm nào thì kết thúc quá
trình giao tiếp cũng đưa lại cho con người một nhận thức, một hiểu biết mới.
- Thành phần thái độ cảm xúc: Từ thời điểm bắt đầu, qua diễn biến rồi đến
kết thúc của một quá trình giao tiếp đều biểu hiện một trạng thái xúc cảm nhất
định của chủ thể và đối tượng giao tiếp. Trong giao tiếp, ngoài sự định hướng về
hình thể, nội dung giao tiếp, con người bao giờ cũng thể hiện thái độ của mình
trước khi bắt đầu tiếp xúc: Thiện chí, hữu nghị hay lãnh đạm, thiếu quan
tâm…Những thái độ cảm xúc này mang tính định hướng cho quá trình giao tiếp,
chúng thay đổi cùng với nội dung và hoàn cảnh giao tiếp, có thể từ thiện chí đến
không thiện chí, từ thờ ơ đến quan tâm…
- Hành vi, một nội dung tâm lý quan trọng trong quá trình giao tiếp. Nó
được biểu hiện qua hệ thống những vận động của đầu, chân tay, nét mặt, ánh mắt,
miệng, ngôn ngữ…sự vận động của toàn bộ những bộ phận trên hợp thành hành vi
giao tiếp. Tất cả những hành vi đó đều chứa đựng một nội dung tâm lý nhất định
trong một hoàn cảnh cụ thể.
2.3.2. Nội dung công việc.
Nội dung công việc trong giao tiếp chỉ tính chất mối quan hệ xã hội. Nội
dung công việc trong giao tiếp chỉ tính chất mối quan hệ xã hội. Nội dung công
việc mang tính chất tạm thời, vụ việc xẩy ra trong quan hệ con người với con
người. Bất kỳ một tiếp xúc nào giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp đều tìm thấy
một.nội dung nhất định. Ngay trong nội dung công việc cũng phải có nội dung tâm
lý biểu hiện. Công việclà sự biểu hiện bên ngoài, công việc thực hiện tốt hay
tiếp có những đặc trưng cơ bản sau
3.1. Mang tính nhận thức
Cá nhân ý thức được mục đích giao tiếp, nhiệm vụ, nội dung của tiến trình
giao tiếp, phương tiện giao tiếp; ngoài ra còn có thể hiểu đặc trưng được của giao
tiếp là khả năng nhận thức và hiểu biết lẫn nhau của các chủ thể giao tiếp, nhờ đó
tâm lý, ý thức con người không ngừng được phát triển. Nếu không giao tiếp với
những người xung quanh, đứa trẻ không nhận thức được.
3.2. Trao đổi thông tin
Dù với bất kì mục đích nào, trong quá trình giao tiếp cũng xảy ra sự trao đổi
thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan. Nhờ đặc trưng này
mà mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình theo những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của
nghề nghiệp, của vị trí xã hội mà họ chiếm giữ. Cũng nhờ đặc trưng này, những
phẩm chất tâm lý, hành vi ứng xử, thái độ biểu hiện của con người được nảy sinh
và phát triển theo các mẫu hình “nhân cách” mà mỗi cá nhân mong muốn trở
thành.
3.3. Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội.
Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện thông qua giao tiếp người - người. Con
người vừa là thành viên tích cực của các mối quan hệ xã hội vừa hoạt động tích
cực cho sự tồn tại và phát triển của chính các quan hệ xã hội đó.
3.4. Giao tiếp giữa các cá nhân mang tính chất lịch sử phát triển xã hội.
Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân thực hiện với nội dung cụ thể, trong
khung cảnh không gian và thời gian nhất định.
3.5. Sự kế thừa chọn lọc
Giao tiếp bản thân nó chứa đựng sự kế thừa, sự chọn lọc, tiếp tục sáng tạo
những giá trị tinh thần, vật chất thông qua các phương tiện giao tiếp nhằm lưu giữ,
gìn giữ những dấu ấn về tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm của con người.
Giao tiếp được phát triển liên tục không ngừng đối với cá nhân, nhóm xã hội, dân
tộc, cộng đồng tạo thành nền văn hoá, văn minh của các thời đại.
Trong cuốn Tâm lý học xã hội, giao tiếp còn có những đặc trưng cơ bản
khác như:
Chức năng này bao quát tất cả các quá trình truyền và nhận thông tin. Với tư
cách là một quá trình truyền tín hiệu, chức năng này có cả ở người và động vật.
Tuy nhiên, con người khác con vật ở chỗ có hệ thống tín hiệu thứ hai, quá trình
truyền tin được phát huy đến tối đa tác dụng của nó và kết quả là con người có khả
năng truyền đi bất cứ thông tin, tín hiệu gì mình muốn. Chức năng ngày thể hiện ở
cả chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp, nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó như
nhu cầu truyền tin, nhu cầu tình cảm, nhu cầu tiếp xúc, giải trí… . Nhưng cũng
chính vì con người có hệ thống tín hiệu thứ hai, có ý thức, có trí tuệ phát triển hơn
so với các động vật khác mà hiệu quả của quá trình này có thể được tăng lên hay
giảm đi.
- Chức năng điều chỉnh điều khiển hành vi.
Thông qua giao tiếp, cá nhân không chỉ có khả năng điều chỉnh hành vi của
mình mà còn có thể điều chỉnh hành vi của người khác. Chức năng này chỉ có ở
người với sự tham gia của quá trình nhận thức, của ý chí và tình cảm. Khi tiếp xúc,
trao đổi thông tin với nhau, các chủ thể giao tiếp đã hoặc đang ý thức được mục
đích, nội dung giao tiếp, thậm chí còn có thể dự đoán được kết quả đạt được sau
quá trình giao tiếp. Nhằm đạt được mục đích mong muốn, các chủ thể thường linh
hoạt tuỳ theo tình huống thời cơ mà lựa chọn, thay đổi cách thức hoặc phương
hướng, phương tiện giao tiếp sao cho phù hợp. Chức năng này thể hiện khả năng
thích nghi lẫn nhau của các chủ thể giao tiếp, ngoài ra nó còn thể hiện tính mềm
dẻo, linh hoạt của các phẩm chất tâm lý cá nhân trong giao tiếp. Hơn thế nữa, chức
năng này còn thể hiện vai trò tích cực của các chủ thể giao tiếp trong quá trình
giao tiếp, điều này chỉ có được trong giao tiếp xã hội5.
- Chức năng kích động liên lạc
Chức năng này có liên quan đến lĩnh vực cảm xúc của con người. Trong
quá trình giao tiếp, không chỉ xảy ra các quá trình truyền tin hay các tác động điều
chỉnh, mà còn xuất hiện các trạng thái cảm xúc của những người tham gia. Qua
quan sát thực tế cuộc sống, ta thấy giao tiếp thường nảy sinh trong chính những
thời điểm mà người ta muốn thay đổi trạng thái cảm xúc của mình. Các phương
tiện giao tiếp phi ngôn ngữ có tác dụng rất lớn đối với chức năng này.
phân loại giao tiếp khác nhau.
5.1. Theo PGS.TS Trần Thị Minh Đức
Giao tiếp được phân chia như sau
5.1.1. Căn cứ vào tính chất trực tiếp hay gián tiếp của quá trình giao tiếp
- Giao tiếp trực tiếp: Là sự tiếp xúc, trao đổi giữa các chủ thể giao tiếp,
được thực hiện trong cùng một khoảng không gian và thời gian nhất định - giao
tiếp trực tiếp còn gọi là đàm thoại. Có hai hình thức đàm thoại
+ Đối thoại: Là loại giao tiếp có tính chất trò chuyện, trao đổi của hai phía
chủ thể và đối tượng. Trong đối thoại luôn có sự thay đổi vị trí người nói, nhờ đó
hai bên hiểu được đối tượng của mình, kịp thời điều chỉnh hành vi, cử chỉ, cách
nói cho phù hợp. Đối thoại thể hiện qua các hình thức như trò chuyện, phỏng vấn,
bàn luận…
+ Độc thoại: Là loại giao tiếp trong đó chỉ có người nói, mà không có sự
đáp lại của các đối tượng trong giao tiếp như diễn thuyết, nghe giảng. Độc thoại
đòi hỏi người nói phải có trình độ hiểu biết về vấn đề trình bầy, phải có khả năng
biểu cảm tốt và phải nắm vững các yếu tố làm nên hiệu quả của giao tiếp.
- Giao tiếp gián tiếp: Là giao tiếp được thực hiện qua các phương tiện trung
gian như điện thoại, thư tín, sách báo, tivi…Ưu điểm của giao tiếp gián tiếp là tính
nhanh chóng, thuận lợi hơn so với giao tiếp trực tiếp. Tuy vậy nó có một số hạn
chế như phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, kém sinh động, kém hiệu quả hơn.
Trong loại giao tiếp này, hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ không đóng vai trò quan
trọng.
5.1.2. Căn cứ vào mục đích giao tiếp
- Giao tiếp chính thức: Là giao tiếp giữa các cá nhân đại diện cho nhóm,
hoặc giữa các nhóm mang tính hình thức, được thực hiện theo các lễ nghi nhất
định, được quy định bởi các nhóm chuẩn mực xã hội hoặc pháp luật. Trong giao
tiếp chính thức, nội dung thông báo rõ ràng, khúc triết, ngôn ngữ đóng vai trò chủ
đạo, thể hiện ở hình thức hội họp, bàn luận, ký kết…Giao tiếp chính thức nhằm
giải quyết những vấn đề cụ thể, mang tính thiết thực. Ví dụ các cuộc thăm viếng
chính thức của những nguyên thủ Quốc gia, cuộc họp chính thức của hội đồng
nhà buôn, hay một bác sỹ…
5.2. Trong tâm lý học xã hội
Giao tiếp được chia ra làm ba loại
5.2.1. Giao tiếp định hướng xã hội:
Chủ thể giao tiếp với tư cách đại diện cho xã hội, cộng đồng người. Giao tiếp
nhằm truyền tin, thuyết phục hoặc kích thích đối tượng giao tiếp hoạt động. Ví dụ
như những báo cáo, bài giảng về các chính sách, đường lối đối nội, đối ngoại của
một chế độ xã hội.
5.2.2. Giao tiếp định hướng - nhóm:
Chủ thể giao tiếp không đại diện quyền lợi của một nhóm xã hội nhằm giải
quyết những vấn đề trong nhóm đặt ra trong học tập, sản xuất, kinh doanh, chiến
đấu.
5.2.3. Giao tiếp định hướng - cá nhân:
Chủ thể giao tiếp không đại diện quyền lợi cho nhóm xã hội nào cả, mà hoàn
toàn vì mục đích cá nhân xuất phát từ động cơ, nhu cầu, hứng thú, sở thích…của
cá nhân.
Mặc dù giao tiếp theo cách nào thì các loại giao tiếp nói trên luôn tác động
qua lại, bổ sung cho nhau, làm cho mối quan hệ giao tiếp của con người vô cùng
phong phú đa dạng.
6. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp.
6.1. Theo B.s Nguyễn Khắc Viện
Giữa bên phát tín hiệu và bên nhận tín hiệu có khi không thể trao đổi, và
thường là dễ hiểu lầm nhau, do khác nhau về tuổi tác, về nghề nghiệp, lối sống,
trình độ kinh tế văn hoá…Có thể hiểu như sau:
+ Người phát nói không rõ ý của mình.
+ Cùng một nội dung được hai bên hiểu khác nhau.
+ Do lễ nghi, cấm kỵ, có những điều được phép nói ra,hay không được
phép nói ra, làm cho người phát và người nghe có thể không phát ra hay không
tiếp nhận.
+ Trước khi tiến hành giao tiếp cần xem xét đến hiệu quả sẽ đạt được sau đó
để không lãng phí thời gian, tiền của và công sức, đặc biệt đối với truyền thông.
Muốn đạt hiệu quả cao nhất như mong muốn, cần trả lời cặn kẽ các câu hỏi
nêu trên và kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố thì sẽ có điều kiện thành công.
- Sự phản hồi. Đối với cá nhân phản hồi một cách trung thực sẽ giúp chúng
ta sống thoải mái vì nếu để bụng khi không thể chịu đựng được nữa dễ dẫn đến
chia rẽ, bất hợp tác, giao tiếp thất bại. Nhưng cũng cần lưu ý đến cách phản hồi vì
đó là cả một nghệ thuật, nếu không khéo cũng sẽ làm cho giao tiếp gặp khó khăn
hay thất bại.
- Nghệ thuật lắng nghe. Để thành công trong giao tiếp, ngoài việc luyện khả
năng trình bày diễn đạt chúng ta còn rất biết lắng nghe. Biết lắng nghe sẽ giúp
chúng ta phản hồi được một cách trung thực những gì người kia nói và hiểu chúng
ta. Lắng nghe không hề dễ, cần phải luyện tập mới có được khả năng này, nhưng
nếu đã thực hiện được thì gần như bạn đã nắm được phần nhiều thành công trong
giao tiếp.
7. Các phương tiện giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các ứng xử rất đa
dạng và phong phú, thể hiện qua ngôn ngữ nói và viết: qua nét mặt, cử chỉ, tư thế,
giọng nói, trang phục, cách sử dụng không gian trong giao tiếp… Đó là một hệ
thống toàn vẹn, không có sự tách rời giữa biểu hiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
trong giao tiếp.
Các phương tiện giao tiếp là cách thức để biến những mục đích giao tiếp
thành hiện thực trong thực tế.
7.1. Giao tiếp ngôn ngữ
Giao tiếp ngôn ngữ là sự giao tiếp được tiến hành thông qua hệ thống tín
hiệu thứ hai: lời nói và chữ viết.
Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng cơ bản nhất trong hệ thống giao tiếp xã
hội bởi nó có những chức năng: chức năng thông báo, chức năng diễn cảm và chức
năng tác động.
Giao tiếp ngôn ngữ có thể được biểu hiện qua nhiều hình thức. Trong giao
ngôn ngữ bị thay thế khi kể truyền tiếp, nội dung và cách hiểu câu chuyện phụ
thuộc nhiều vào đặc điểm cá nhân mỗi người… vì thế tin đồn thường bị méo mó
sai lệch, thiếu chính xác.
Qua việc phân tích như trên, ta nhận thấy trong giao tiếp ngôn ngữ gặp phải
một số hạn chế do cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
- Chủ quan
+ Giữa các chủ thể và đối tượng giao tiếp đã không thể tạo ra được điểm
tương đồng do không xác định được những chuẩn mực ứng xử cá nhân hoặc do
những ức chế tích dồn ở các cá nhân trong quá trình giao tiếp. Kết thúc dễ dẫn đến
va chạm, xung đột.
+ Qúa trình giao tiếp phân chia làm hai cực, mỗi bên - chủ thể và đối tượng
giao tiếp - bảo vệ ý kiến riêng của mình, không có sự chấp nhận, dung hoà…Kết
cục là không đem lại kết quả như mỗi bên mong muốn.
+ Khi một bên đối thoại có những biểu hiện nổi loạn tâm lý, tư duy “không
bình thường”.
- Khách quan
+ Do sự khác nhau về phong tục tập quán, ngôn ngữ, trình độ phát triển về
văn hoá - xã hội ở các địa phương, các dân tộc và các quốc gia khác nhau
+ Môi trường giao tiếp: Tiếng ồn, nhiệt độ …
7.2. Giao tiếp phi ngôn ngữ
Giao tiếp phi ngôn ngữ được thể hiện thông qua sự vận động của cơ thể
như cử chỉ, tư thế, nét mặt; thông qua cách trang phục hoặc tạo ra khoảng không
gian nhất định khi tiếp xúc.
Giao tiếp phi ngôn ngữ ra đời trước giao tiếp ngôn ngữ, có cội nguồn sinh
học dựa trên cơ sở hành vi bản năng gắn liền với quá trình tiến hoá, di truyền từ
thế giới động vật. Trong giao tiếp phi ngôn ngữ, không phải lúc nào cũng có sự
tham gi của ý thức, vì thế nên qua hình thức giao tiếp này người ta thường bộc lộ
chân thật các cảm nghĩ, thái độ, ý kiến… của mình, tuy nhiên lại không dễ hiểu
được chúng. Đây là kiểu giao tiếp được thể hiện thông qua sự vận động của cơ thể
như cử chỉ, tư thế, nét mặt, giọng nói; thông qua sự vận động của cơ thể như cử
KẾT LUẬN
Giao tiếp là một hình thức hoạt động của con người. Thông qua giao tiếp,
những mối quan hệ giữa con người được kiến tạo. Sự hiểu biết và nắm những quy
luật của giao tiếp góp phần làm tăng hiệu quả lao động và điều chỉnh các quan hệ
xã hội.
Giao tiếp xã hội là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của mọi người
trong xã hội, đặc biệt là của các nhà Tâm lý học. Có biết bao quyển sách dạy về
ứng xử, giao thiệp xã hội, đắc nhân tâm, bí quyết thành công trong ứng xử, bí
quyết thành công trong giao tiếp kinh doanh, ngôn ngữ cơ thể…Tuy nhiên các nhà
nghiên cứu vẫn luôn khẳng định với chúng ta rằng, để đạt được hiệu quả cao trong
giao tiếp không hề dễ dàng. Hiểu biết những vấn đề chung về giao tiếp xã hội là
cần thiết song chưa đủ. Bạn đừng hy vọng sau khi đọc xong một cuốn sách nào đó
dạy về nghệ thuật ứng xử xã hội mà sau đó có thể luôn thành công trong mọi cuộc
giao tiếp. Một cuộc giao bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau, biệt là các yếu
tố chủ quan từ cả hai phía tiến hành giao tiếp. Quan trọng hơn cả là chúng ta đã
dành cho vấn đề này một sự quan tâm tìm hiểu đúng mức hay chưa và luôn cố
gắng hoàn thiện tri thức cũng như nhân cách của mình. Đó chính là bí quyết tốt
nhất giúp bạn thành công trong giao tiếp, ứng xử xã hội, qua đó có cơ hội để phát
triển hài hoà hơn nữa về mọi mặt.