Tài liệu CÁC QUYẾT ĐỊNH VỀ DỰ TOÁN VỐN ĐẦU doc - Pdf 10

BÀI 10
CÁC QUYẾT ĐỊNH VỀ DỰ TOÁN VỐN ĐẦU TƯ Giảng viên: Th.S. Hồ Phan Minh Đức
Mục tiêu
• Giải thích tầm quan trọng của “giá trị theo thời gian của tiền tệ” trong các quyết định về
dự toán đầu tư.
• Nắm được cách qui đổi tương đương các dòng tiền xảy ra ơ những thời kỳ khác nhau.
• Sử dụng được phương pháp “hiện giá ròng” và phương pháp “suất thu lợi nội bộ” để
đánh giá hiệu quả của một phương án đầu tư.
• Nắm được phương pháp so sánh các phương án đầu tư theo phương pháp “hiện giá ròng”
và phương pháp “suất thu lợi nội bộ”.
• Phân tích ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp lên quyết định đầu tư.
• Tính toán được mức khấu hao hàng kỳ của các tài sản cố định theo các phương pháp trích
khấu hao.
• Xác định được dòng tiền sau thuế của một phương án đầu tư.
• Thảo luận các khó khăn trong vấn đề xếp hạn các phương án đầu tư.
• Nắm được các phương pháp “thời gian hoàn vốn” và phương pháp “suất sinh lời kế toán”
để đánh giá phương án đầu tư
Quyết định về vốn đầu tư được sử dụng để mô tả các hành động lập kế hoạch để cấp vốn và
tài trợ cho các mục đích như mua máy mới, giới thiệu một loại sản phẩm mới và hiện đại hóa máy
móc thiết bị. Các quyết định về vốn đầu tư dài hạn là một nhân tố chủ yếu trong quá trình sinh lợi
của một doanh nghiệp trong dài hạn.
Để có những quyết định đầu tư khôn ngoan, các nhà quản lý cần các công cụ để hướng dẫn họ
trong quá trình so sánh và đánh giá các phương án đầu tư khác nhau. Trong bài này, chúng ta sẽ
quan tâm đến việc đạt được một sự hiểu biết và kỹ năng sử dụng các công cụ này.
1. Khái niệm về đầu tư

không có giá trị tận dụng khi hết thời gian sử dụng. Do đó, lợi tức mà các tài sản này mang lại
phải đủ để hoàn lại toàn bộ số vốn đầu tư ban đầu và đem lại một lợi tức mong muốn trên số vốn
đầu tư bỏ ra.
Giá trị theo thời gian của đồng tiền
Đặc điểm thứ hai của vốn đầu tư là chúng có thời gian thu hồi vốn dài. Như vậy, những
khoản thu - chi của dự án đầu tư xảy ra ở những mốc thời gian khác nhau. Do đó, trong các quyết
định về vốn đầu tư cần thiết phải xét đến vấn đề "giá trị theo thời gian của đồng tiền" (the time
value of money).
2. Giá trị theo thời gian của tiền tệ
2.1 Khái niệm
Một khái niệm cơ bản và rất quan trọng trong phân tích quyết định dự toán vốn đầu tư là
“giá trị theo thời gian của tiền”. Nếu chúng ta đầu tư một khoản tiền vốn hôm nay thì năm sau
chúng ta sẽ có một khoản tiền tích luỹ lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu. Sự thay đổi số lượng tiền sau
một thời đoạn nào đấy biểu hiện giá trị theo thời gian của đồng tiền. Trong phân tích đầu tư, tiền
phải được xem xét theo cả hai khía cạnh: số lượng và thời gian (Phạm Phụ, 1993).
2.2. Lãi tức và tính toán lãi tức
a) Lãi tức và lãi suất
Giá trị theo thời gian của tiền được biểu hiện thông quan lãi tức. Lãi tức là lượng tăng lên từ
số vốn gốc đem đầu tư ban đầu (hay cho vay) đến số vốn tích lũy được cuối cùng:

Lãi tức = Tổng số vốn tích lũy (cuối cùng) - Vốn đầu tư ban đầu

Khi lãi tức biểu thị theo tỷ lệ phần trăm đối với số vốn ban đầu cho một đơn vị thời gian thì
được gọi là lãi suất. Lãi suất thường được biểu thị theo khoảng thời gian tính lãi là một năm. Tuy
vậy, người ta cũng tính lãi theo thời đoạn quý, tháng, v.v…

Lãi suất = (Lãi tức trong một đơn vị thời gian / vốn gốc)* 100%

b). Lãi tức đơn và lãi tức ghép
Lãi tức đơn Lãi tức chỉ tính theo số vốn gốc mà không tính thêm lãi tức tích lũy phát sinh từ tiền

N: số thời đoạn trước khi thanh toán (rút vốn), N: số thời đoạn trước khi thanh toán (rút vốn),
i: lãi suất ghép/thời đoạn i: lãi suất ghép/thời đoạn

Trở lại thí dụ trên, theo cách tính lãi tức ghép tổng số tiền mà người đi vay sẽ phải tra sau
sáu tháng là 126,53 triệu đồng (100 triệu vốn gốc và 26,53 triệu tiền lãi). Cách tính toán lãi tức
ghép cho thời đoạn vay 6 tháng như sau: Trở lại thí dụ trên, theo cách tính lãi tức ghép tổng số tiền
mà người đi vay sẽ phải tra sau sáu tháng là 126,53 triệu đồng (100 triệu vốn gốc và 26,53 triệu
tiền lãi). Cách tính toán lãi tức ghép cho thời đoạn vay 6 tháng như sau:
Lãi tức ghép = P[(1+i)
6
– 1] Lãi tức ghép = P[(1+i)
6
– 1]

= 100[(1+4%)
6
– 1]

= 100[(1+4%)
6
– 1]
= 26,53 (triệu đồng) = 26,53 (triệu đồng)
Như vậy, từ cách tính lãi theo lãi suất đơn chuyển sang cách tính lãi theo lãi suất ghép, phần
tiền lãi đã tăng từ 24 triệu đồng lên thành 26,53 triệu đồng. Như vậy, từ cách tính lãi theo lãi suất
đơn chuyển sang cách tính lãi theo lãi suất ghép, phần tiền lãi đã tăng từ 24 triệu đồng lên thành
26,53 triệu đồng.

c). Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa c). Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa
Trong nền kinh tế thế giới, các thời kỳ ghép lãi khác nhau được sử dụng cho các loại đầu tư
khác nhau (Brigham and Houston, 2001). Nếu chúng ta muốn so sánh các khoản đầu tư với thời

biểu,
m
1
: số thời đoạn ghép lãi trong một thời đoạn phát biểu, m
1
: số thời đoạn ghép lãi trong
một thời đoạn phát biểu,
m
2
: số thời đoạn ghép lãi trong một thời đoạn tính toán. m
2
: số thời đoạn ghép lãi trong
một thời đoạn tính toán.

Ví dụ: Nếu lãi suất là 12%/năm, ghép lãi theo quý thì lãi suất thực của năm được tính toán
như sau: Ví dụ: Nếu lãi suất là 12%/năm, ghép lãi theo quý thì lãi suất thực của năm được tính
toán như sau:
i = (1+12%/4)
4
-1 = 12.55% i = (1+12%/4)
4
-1 = 12.55%

2.3. Phương pháp qui đổi tương đương dòng tiền 2.3. Phương pháp qui đổi tương đương
dòng tiền
Như đã thảo luận ở mục 2.1, tiền phải được xem xét theo hai khía cạnh là số lượng và thời
gian (thu hoặc chi). Những lượng tiền khác nhau tại những thời đoạn khác nhau có thể có giá trị
giống nhau về mặt kinh tế. Tuy nhiên, những lượng tiền bằng nhau tại những thời đoạn khác nhau
sẽ có giá trị khác nhau về mặt kinh tế. Trong phân tích tài chính đầu tư, chúng ta có nhu cầu qui
đổi tương đương dòng tiền xảy ra ở những thời đoạn khác nhau về một mốc thời gian nào đó, dựa

thức biểu thị sự tương đương về giá trị kinh tế giữa các đại lượng PV, FV và AV.
a). Giá trị tương lại của một khoản tiền hiện tại a). Giá trị tương lại của một khoản tiền hiện
tại

FV = PV(1 + i)
N
FV = PV(1 + i)
N Ký hiệu: (1 + i)N = (F/P, i%, N), và gọi là "Hệ số giá trị tích lũy đơn" (Single Payment
Compound Amount Factor: SPCAF). Ký hiệu: (1 + i)N = (F/P, i%, N), và gọi là "Hệ số giá trị
tích lũy đơn" (Single Payment Compound Amount Factor: SPCAF).

b). Giá trị hiện tại của một khoản tiền tương lai b). Giá trị hiện tại của một khoản tiền tương
lai

Ký hiệu: 1/(1+i)N = (P/F,i%,N), và gọi là "Hệ số giá trị hiện tại đơn" (Single Payment
Present Worth Factor: SPPWF). Ký hiệu: 1/(1+i)N = (P/F,i%,N), và gọi là "Hệ số giá trị hiện tại
đơn" (Single Payment Present Worth Factor: SPPWF).


N
- 1]/i = (F/A, i%, N), và
gọi là "Hệ số giá trị tích lũy chuỗi phân bố đều" (Uniform Series Compound Amount Factor:
USCAF).
Ngược lại, chúng ta có thể qui đổi một khoản tiền trong tương lai (FV) thành một chuỗi
dòng niên kim đều bằng công thức: Ngược lại, chúng ta có thể qui đổi một khoản tiền trong tương
lai (FV) thành một chuỗi dòng niên kim đều bằng công thức:

Ký hiệu: i/[(1+i)
N
- 1] = (A/F, i%, N), và gọi là "Hệ số vốn chìm" (Sinking Fund Factor:
SFF). Ký hiệu: i/[(1+i)
N
- 1] = (A/F, i%, N), và gọi là "Hệ số vốn chìm" (Sinking Fund Factor:
SFF).

d). Giá trị hiện tại của dòng niên kim đều d). Giá trị hiện tại của dòng niên kim đều
Dựa vào các biểu thức tính PV từ FV và công thức tính FV từ AV ta có: Dựa vào các biểu
thức tính PV từ FV và công thức tính FV từ AV ta có:
AV


4. Ước lượng dòng tiền
Dòng tiền hay còn gọi là ngân lưu (cash-flows) của dự án là một chuỗi các khoản thu chi xảy
ra qua một số thời kỳ nhất định (ví dụ trong suốt tuổi thọ kinh tế của dự án). Ước lượng dòng tiền
là bước quan trọng nhất, và cũng là bước khó khăn nhất trong dự toán vốn đầu tư (Brigham and
Houston, 2001). Có nhiều biến số, nhiều cá nhân, bộ phận tham gia vào công việc này.
Trong các quyết định dự toán vốn đầu tư, chúng ta dựa vào dòng tiền, chứ không phải là lợi
nhuận kế toán. Thêm một điều cần lưu ý nữa là chỉ có dòng tiền tăng thêm mới là thông tin hợp lệ.
Vì sao cơ sở để đánh giá dự án đầu tư là dòng tiền mà không phải là lợi nhuận? Lý do là lợi nhuận
không phản ánh các khoản thực thu, thực chi tiền của dự án do vậy không phản ánh tổng lợi ích
của dự án theo giá trị theo thời gian của tiền tệ.
Dòng tiền của dự án bao gồm 3 phần: Dòng tiền hoạt động, dòng tiền đầu tư, và dòng tiền tài
trợ. Để ước lượng dòng tiền, chúng ta có thể sử dụng hai phương: phương pháp trực tiếp và
phương pháp gián tiếp. Hai phương pháp này chỉ khác nhau trong việc ước lượng ngân lưu hoạt
động.
Phương pháp trực tiếp Theo phương pháp này dòng tiền của dự án được xác định trực tiếp
dựa trên dòng tiền thu vào từ các hoạt động dự án và dòng tiền chi ra cho các hoạt động của dự án.
Dòng tiền ròng = Dòng tiền thu – Dòng tiền chi

Phương pháp gián tiếp Theo phương pháp này, dòng tiền của dự án được xác định bắt đầu
từ lợi nhuận sau thuế và điều chỉnh cho khấu hao, sự thay đổi nhu cầu vốn lưu động

Dòng tiền ròng = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao +/- Thay đổi vốn lưu động

5. Chọn suất chiết tính
Lựa chọn suất chiết khấu (discount rate) là một vấn đề quan trọng và cũng rất khó khăn
trong việc ra quyết định dự toán vốn đầu tư. Suất chiết tính được xác định bởi các nhà quản lý dựa
trên chi phí cơ hội của vốn đầu tư, tức là sức sinh lời mà công ty có thể đạt được từ một phương án
đầu tư tốt nhất khác có cùng mức độ rủi ro như dự án đang thực hiện.
Suất chiết tính thường được chọn nhiều nhất là chi phí sử dụng vốn của công ty. Các nhà
quản lý chọn chi phí sử dụng vốn trung bình có trọng số (WACC) của công ty bởi vì nó được xem

tệ của dự án (chi phí và lợi ích) trong suốt thời kỳ phân tích được qui đổi tương đương thành:
a) một giá trị hiện tại (Present Value), hay gọi đầy đủ là hiện giá ròng (Net Present
Value) hoặc
b) một giá trị tương lai (Future Value) hoặc
c) một chuỗi đều giá trị hàng năm (Annual Value)

Mỗi giá trị đó là một độ đo hiệu quả kinh tế của dự án và được dùng làm cơ sở đề so sánh
và lựa chọn phương án đầu tư.
2. Suất thu lợi (Rates of Return). Suất thu lợi (Rate of Return) là tỷ số giữa tiền lời thu được
trong một thời đoạn so với số vốn đầu tư đã bỏ ra trong thời đoạn đó, được biểu thị bằng con số
phần trăm. Suất thu lợi được sử dụng phổ biến là suất thu lợi nội bộ (Internal Rate of Return -
IRR). Ngoài ra còn có một số chỉ số suất thu lợi khác, chẳng hạn như suất thu lợi nội bộ có hiệu
chỉnh (Modified Internal Rate of Return – MIRR)
3. Tỷ số lợi ích chi phí (Benefit Cost Ratio - B/C). Nói chung, đó là tỷ số giá trị tương đương
của lợi ích và giá trị tương đương của chi phí.
Ba nhóm độ đo hiệu quả đó đã tạo thành ba nhóm phương pháp chính, được sử dụng phổ
biến nhất hiện nay trong phân tích và lựa chọn phương án đầu tư. Chúng còn có tên gọi chung là
"Các phương pháp dòng tiền được chiết khấu" (Discounted Cash - Flow Methods)
Ngoài các phương pháp dòng tiền chiết khấu, trong phân tích vốn đầu tư chúng ta còn sử
dụng một số các phương pháp khác:
- Phương pháp thời gian hoàn vốn (Payback Period)
- Phương pháp suất sinh lời kế toán (Accounting Rate of Return)
- Phương pháp chỉ số lợi nhuận (Profitability Index-PI). Chúng ta sẽ sử dụng số liệu dòng tiền của hai dự án S và L được trình bày trong Bảng 10.2
để minh hoạ cho mỗi phương pháp đánh giá dự án. Chúng ta giả thiết rằng hai dự án này có độ rủi
ro là như nhau. Chúng ta sẽ sử dụng số liệu dòng tiền của hai dự án S và L được trình bày trong
Bảng 10.2 để minh hoạ cho mỗi phương pháp đánh giá dự án. Chúng ta giả thiết rằng hai dự án
này có độ rủi ro là như nhau.


trong đó NCF
t
là dòng tiền ròng năm thứ t, i là suất chiết khấu của dự án, và N là thời kỳ
phân tích.

Với suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được (suất chiết khấu) i = 10%, giá trị hiện tại ròng của
dự án S và dự án L được tính toán như sau:

NPV
S
= -1.000 + 500/(1+0.1) + 400/(1+0.1)
2
+ 300/(1+0.1)
3
+ 100/(1+0.1)
4
= $78.82

NPV
L
= -1.000 + 100/(1+0.1) + 300/(1+0.1)
2
+ 400/(1+0.1)
3
+ 600/(1+0.1)
4
= $49.18

b. Tiêu chuẩn ra quyết định lựa chọn dự án

dự án về giá trị hiện tại thì giá trị hiện tại của các dòng thu (PVR) sẽ cân bằng với giá trị hiện tại
của các dòng chi (PVC), nghĩa là:
PV
R
= PV
C
hay PV
R
- PV
C
= 0
Hay nói một cách khác, suất thu lợi nội tại của một dự án là suất chiết khấu làm cho hiện
giá ròng của một dự án bằng 0. Để xác định IRR của một dự án, chúng ta giải phương trình sau:

Suất thu lợi nội bộ (IRR) của dự án S và dự án L được tính toán như sau:

Suất thu lợi nội bộ của dự án S (IRR
S
) là nghiệm của phương trình:
-1.000 + 500/(1+IRR
S
) + 400/(1+IRR
S
)
2
+ 300/(1+IRR
S

và IRR
L
:
IRR
S
= 14.5%
IRR
L
= 11.8%

b. Tiêu chuẩn ra quyết định lựa chọn dự án
Đối với một dự án độc lập
Khi đánh giá một dự án đầu tư (cơ hội đầu tư) theo suất thu lợi nội tại IRR, dự án là đáng giá
thực hiện nếu như suất thu lợi nội tại của dự án lớn hơn hoặc bằng suất thu lợi tối thiểu chấp nhận
được. Ngược lại, dự án sẽ bị bác bỏ.
IRR ≥ MARR > dự án là đáng giá về mặt kinh tế
IRR ≤ MARR > dự án không đáng giá về mặt kinh tế

Trong trường hợp S và L là hai dự án độc lập thì cả hai dự án đều đáng giá về mặt kinh tế
nếu suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được MARR = 10% vì IRR của cả hai dự án đều lớn hơn
MARR. Nếu MARR = 15%, cả hai dự án đều bị bác bỏ.

So sánh các dự án đầu tư theo tiêu chuẩn IRR
Nguyên tắc phân tích theo giá số trong phân tích so sánh theo suất thu lợi.
Khi đánh giá và so sánh các phương án loại trừ nhau theo suất thu lợi (RR), cần phải tuân
theo các nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc 1: So sánh phương án có đầu tư ban đầu lớn hơn với phương án có vốn đầu tư
nhỏ hơn chỉ khi phương án có đầu tư nhỏ hơn là đáng giá, nghĩa là phương án đó phải có RR >
MARR.
Nguyên tắc 2: Tiêu chuẩn để lựa chọn phương án là: "chọn phương án đầu tư ban đầu lớn

bác bỏ. Lưu ý rằng, hai dự án này có cùng mức vốn đầu tư ban đầu ($1.000) nên chúng ta không
cần tiến hành thủ tục phân tích theo gia số đầu tư.

c. Ưu và nhược điểm của tiêu chuẩn IRR
Ưu điểm:
- Có tính đến thời giá của tiền tệ
- Xem xét toàn bộ dòng tiền của dự án
- IRR của dự án được xác định mà không cần biết suất chiết khấu Nhược điểm:
- Bị hạn chế khi xếp hạng các dự án loại trừ nhau có qui mô khác nhau
- Khi dòng tiền của dự án đổi dầu nhiều lần (dòng tiền bất thường), có thể tồn tại nhiều giá
trị IRR. Vì vậy, không biết chọn giá trị IRR nào để đánh giá.
- Khi tính suất thu lợi nội tại IRR, chúng ta chấp nhận một giả thiết rằng, trong quá trình
hoạt động, các dòng thu của dự án đều được đem đầu tư lại ngay với suất thu lợi i% =
IRR. Đây là một giả thiết có thể không thỏa đáng vì trong thực tế không phải luôn luôn
có sẵn cơ hội để tái đầu tư với suất thu lợi IRR, nhất là khi giá trị IRR của dự án khác
nhiều so với MARR. 6.4. So sánh phương pháp NPV và IRR
Hình 10.3 dưới đây biểu diễn mối quan giữa giá trị hiện tại ròng (NPV) và suất chiết khấu
i% của dự án S và dự án L.
Hình 10.3 Đồ thị NPV: Dự án S và dự án L Hình 10.3 Đồ thị NPV: Dự án S và dự án L
đều dẫn đến cùng một kết luận là chấp nhân hoặc bác bỏ.
- Nếu MARR < IRR, thì NPV > 0. Do đó dự án là đáng giá thực hiện dù áp dụng theo tiêu
chuẩn NPV hay IRR. - Nếu MARR < IRR, thì NPV > 0. Do đó dự án là đáng giá thực hiện dù áp
dụng theo tiêu chuẩn NPV hay IRR.
- Nếu MARR > IRR, thì NPV < 0. Do đó dự án là không đáng giá dù áp dụng theo tiêu
chuẩn PW hay IRR. - Nếu MARR > IRR, thì NPV < 0. Do đó dự án là không đáng giá dù áp dụng
theo tiêu chuẩn PW hay IRR.

Với bất kỳ suất thu lợi tối thiểu MARR nào bé hơn 11.8%, dự án L sẽ được chấp nhận theo
cả tiêu chuẩn IRR và NPV, trong khi đó cả hai phương pháp này đều bác bỏ dự án này nếu suất
thu lợi tối thiểu MARR lớn hơn 1.8%. Dự án S cũng được phân tích tương tự. Chúng ta sẽ có cùng
một kết quả là bác bỏ hoặc chấp nhận dự án theo phương pháp NPV và IRR. Với bất kỳ suất thu
lợi tối thiểu MARR nào bé hơn 11.8%, dự án L sẽ được chấp nhận theo cả tiêu chuẩn IRR và
NPV, trong khi đó cả hai phương pháp này đều bác bỏ dự án này nếu suất thu lợi tối thiểu MARR
lớn hơn 1.8%. Dự án S cũng được phân tích tương tự. Chúng ta sẽ có cùng một kết quả là bác bỏ
hoặc chấp nhận dự án theo phương pháp NPV và IRR.

b. Đối với các dự án loại trừ nhau b. Đối với các dự án loại trừ nhau NPV

400

300

0

14.5%


cả hai dự án.
Chúng ta biết rằng IRR của một dự án là một hằng số, trong khi đó giá trị hiện tại NPV của
dự án lại là một hàm số theo suất chiết khấu i%. Trên Hình 10.3, khi suất chiết khấu i% > 7.2%, cả
hai phương pháp IRR và NPV đều xếp hạng dự án S cao hơn dự án L. Ngược lại, khi suất chiết
khấu i% < 7.2%, hai phương pháp lại cho thứ tự xếp hạng của dự án S và dự án L khác nhau:
phương pháp NPV đánh giá dự án L cao hơn (NPV
L
> NPV
S
), nhưng phương pháp IRR lại đánh
giá dự án S cao hơn dự án L. Vậy, dự án nào sẽ được lựa chọn? Chúng ta biết rằng IRR của một
dự án là một hằng số, trong khi đó giá trị hiện tại NPV của dự án lại là một hàm số theo suất chiết
khấu i%. Trên Hình 10.3, khi suất chiết khấu i% > 7.2%, cả hai phương pháp IRR và NPV đều
xếp hạng dự án S cao hơn dự án L. Ngược lại, khi suất chiết khấu i% < 7.2%, hai phương pháp lại
cho thứ tự xếp hạng của dự án S và dự án L khác nhau: phương pháp NPV đánh giá dự án L cao
hơn (NPV
L
> NPV
S
), nhưng phương pháp IRR lại đánh giá dự án S cao hơn dự án L. Vậy, dự án
nào sẽ được lựa chọn?
Trong thực tế, ở những nơi có thị trường vốn, hàm mục tiêu đầu tư thường là con số lợi
nhuận tuyệt đối chứ không phải mức lợi tức tương đối. Vì vậy, phương pháp NPV được lựa chọn
để đánh giá dự án bởi vì nó lựa chọn dự án đem lại của cải nhiều nhất. Đặc biệt, khi đánh giá các
dự án có qui mô và tuổi thọ kinh tế khác nhau, phương pháp NPV thường được lựa chọn sử dụng.
Trong thực tế, ở những nơi có thị trường vốn, hàm mục tiêu đầu tư thường là con số lợi nhuận
tuyệt đối chứ không phải mức lợi tức tương đối. Vì vậy, phương pháp NPV được lựa chọn để đánh
giá dự án bởi vì nó lựa chọn dự án đem lại của cải nhiều nhất. Đặc biệt, khi đánh giá các dự án có
qui mô và tuổi thọ kinh tế khác nhau, phương pháp NPV thường được lựa chọn sử dụng.
Để khắc phục sự mâu thuẫn giữa hai phương pháp NPV và IRR trong việc so sánh và sắp

vốn không chiết khấu (T
P
) được xác định theo biểu thức sau:

trong đó: C
0
là vốn đầu tư ban đầu, trong đó: C
0
là vốn đầu tư ban đầu,
NCF
t
là dòng tiền tệ ở thời đoạn t NCF
t
là dòng tiền tệ ở thời đoạn t

Để thuận lợi cho việc tính toán thời gian hoàn vốn, chúng ta có thể sử dụng công thức sau
đây: Để thuận lợi cho việc tính toán thời gian hoàn vốn, chúng ta có thể sử dụng công thức sau
đây: trong đó n là số năm để dòng tiền tích luỹ của dự án bé hơn không (<0), nhưng dòng tiền
tích luỹ đến năm n+1 sẽ lớn hơn không (>0).
Thời gian hoàn vốn của dự án S sẽ là 2.33 năm và thời gian hoàn vốn của dự án L là 3.33
năm. Việc tính toán như sau:

Dự án S: T
P

S (i=10%)
-1000 454.55 330.58 225.39 68.30
NPV
L (i=10%)
-1000 90.91 247.93 300.53 409.81 Như vậy, thời gian hoàn vốn của dự án S sẽ là 2.95 năm và thời gian hoàn vốn của dự án L
sẽ là 3.88 năm.
Dự án S: T
P
= 2 + (-1.000 + 454.55 +330.58)/225.39 = 2.95 (năm)
Dự án L T
P
= 3 + (-1.000 + 90.91 + 247.93 + 300.53)/409.81 = 3.88 (năm)

Tuy nhiên, ngay cả khi sử dụng thời kỳ hoàn vốn có chiết khấu, lợi ích sau thời kỳ hoàn vốn
cũng không được xem xét. Thời gian hoàn vốn có chiết khấu vẫn chưa phải là một chỉ số kinh tế
chủ yếu có thể dùng như là một tiêu chuẩn để so sánh phương án. Nó chỉ được xem như là một
thông tin bổ sung về dự án, liên quan đến vấn đề rủi ro trong đầu tư. chỉ được xem như là một
thông tin bổ sung về dự án, liên quan đến vấn đề rủi ro trong đầu tư.

6.6. Phương pháp tỷ suất sinh lợi giản đơn (Simple Rate of Return Method). 6.6. Phương
pháp tỷ suất sinh lợi giản đơn (Simple Rate of Return Method).
Phương pháp tỷ suất sinh lợi giản đơn là một kỹ thuật đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư khác
mà không áp dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền. Phương pháp này còn được gọi là suất sinh
lợi bình quân trên giá trị sổ sách (average return on book value) Phương pháp tỷ suất sinh lợi giản
đơn là một kỹ thuật đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư khác mà không áp dụng phương pháp chiết
khấu dòng tiền. Phương pháp này còn được gọi là suất sinh lợi bình quân trên giá trị sổ sách
(average return on book value)


Chỉ số PI của dự án S và L được tính toán như sau: Chỉ số PI của dự án S và L được tính
toán như sau:

Năm Năm 0 0 11 22 33 4 4
NPV
S (i=10%)
-1000 454.55 330.58 225.39 68.30
NPV
L (i=10%)
-1000 90.91 247.93 300.53 409.81 Dự án S: PI
S
= (454.55 + 330.58 + 225.39 + 68.30)/1000 = 1.08
Dự án L: PI
S
= (90.91 + 247.93 + 300.53 + 409.81)/1000 = 1.05

b. Sử dụng PI để lựa chọn dự án trong điều kiện ngân sách hạn chế
Chỉ số lợi nhuận – PI là chỉ tiêu được các nhà quản lý sử dụng trong việc xếp hạng và lựa
chọn dự án đầu tư trong điều kiện ngân sách đầu tư bị giới hạn. Trình tự lựa chọn dự án theo tiêu
chuẩn PI như sau:
- Tính toán PI của từng dự án
- Sắp xếp dự án theo thứ tự PI từ cao xuống thấp
- Lựa chọn các dự án theo thứ tự ưu tiên từ dự án có PI cao nhất cho đến khi toàn bộ ngân

NPV ($) PI
F 15.000 36.000 2.40
B 5.000 11.500 2.30
C 5.000 10.500 2.10
D 7.500 12.500 1.67
Cộng 32.500 70.500

7. Tính toán khấu hao 7. Tính toán khấu hao
Khấu hao là một trong những khoản chi phí (tuy là một khoản chi không thanh toán bằng
tiền - non cash charges) được trừ ra khỏi thu nhập khi tính thuế lợi tức. Chi phí khấu hao trong
một thời đoạn càng lớn thì tiền thuế trong thời đoạn đó càng nhỏ. Vì vậy, khấu hao được xem như
là một tấm lưới chắn thuế. Khoản giảm thuế phải nộp do lưới chắn thuế của khấu hao sinh ra luôn
luôn bằng mức khấu hao nhân với thuế suất: Khấu hao là một trong những khoản chi phí (tuy là
một khoản chi không thanh toán bằng tiền - non cash charges) được trừ ra khỏi thu nhập khi tính
thuế lợi tức. Chi phí khấu hao trong một thời đoạn càng lớn thì tiền thuế trong thời đoạn đó càng
nhỏ. Vì vậy, khấu hao được xem như là một tấm lưới chắn thuế. Khoản giảm thuế phải nộp do
lưới chắn thuế của khấu hao sinh ra luôn luôn bằng mức khấu hao nhân với thuế suất:
Số tiền giảm thuế do khấu hao tạo ra = Mức trích khấu hao x Thuế suất Số tiền giảm thuế do khấu
hao tạo ra = Mức trích khấu hao x Thuế suất
Như vậy, cách tính khấu hao khác nhau có thể làm thay đổi thành phần chi phí thuế giữa các
thời đoạn. Dẫn đến chuỗi dòng tiền của dự án thay đổi và sẽ ảnh hưởng đến kết quả lựa chọn
phương án. Vì vậy, trước khi đánh giá, so sánh các phương án đầu tư, chúng ta cần xem xét sự ảnh
hưởng của khấu hao lên lợi tức sau thuế và dòng tiền trong các dự án đầu tư. Như vậy, cách tính
khấu hao khác nhau có thể làm thay đổi thành phần chi phí thuế giữa các thời đoạn. Dẫn đến chuỗi
dòng tiền của dự án thay đổi và sẽ ảnh hưởng đến kết quả lựa chọn phương án. Vì vậy, trước khi
đánh giá, so sánh các phương án đầu tư, chúng ta cần xem xét sự ảnh hưởng của khấu hao lên lợi
tức sau thuế và dòng tiền trong các dự án đầu tư.
Dưới đây là một số mô hình tính khấu hao có tính chất điển hình, được sử dụng tương đối
phổ biến. Dưới đây là một số mô hình tính khấu hao có tính chất điển hình, được sử dụng tương
đối phổ biến.

tính bằng tích số của suất khấu hao dr - hệ số biểu thị bằng phần trăm, có giá trị không đổi – và giá
trị bút toán của tài sản ở đầu năm x (cuối năm x-1). Thủ tục đó cứ lặp lại từ năm thứ 1 cho đến
cuối thời kỳ tuổi thọ của dự án hoặc cho đến khi tổng số trích khấu hao bằng giá trị tài sản bị
giảm: P - SV. Khấu hao theo kết số giảm dần (Declining Balance Depreciation - DB) là mô hình
trích khấu hao nhiều ở năm đầu và giảm dần trong những năm sau. Chi phí khấu hao ở một năm x
nào đó tính bằng tích số của suất khấu hao dr - hệ số biểu thị bằng phần trăm, có giá trị không đổi
– và giá trị bút toán của tài sản ở đầu năm x (cuối năm x-1). Thủ tục đó cứ lặp lại từ năm thứ 1 cho
đến cuối thời kỳ tuổi thọ của dự án hoặc cho đến khi tổng số trích khấu hao bằng giá trị tài sản bị
giảm: P - SV.

D
X
= BV
X-1
.dr D
X
= BV
X-1
.dr Trong thực tế sử dụng, tùy thuộc qui định của các “sắc thuế”, hệ số dr có thể có những giá trị
khác nhau, khác với giá trị xác định theo công thức trên. Ở một số nước, hệ số dr có thể là 150%,
175%, 200%, hay 250% của suất khấu hao theo mô hình khấu hao đều SL là d = 1/n.
Theo quyết định 206/2003/QĐ-BTC, ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ tài
chính, Việt nam hệ số điều chỉnh của dr được xác định dựa theo thời gian sử dụng hữu ích của tài
sản như sau:
7.4. Việc chuyển đổi giữa các mô hình khấu hao
Thông thường, người chịu thuế có thể được phép lựa chọn mô hình khấu hao và chuyển đổi
giữa một số mô hình tính khấu hao trong phạm vi những qui định của luật thuế. Ví dụ, trước đây ở
Mỹ cho phép sử dụng đồng thời các mô hình SL, DB và SYD. Đến năm 1981 và 1986 đã áp dụng
mô hình tính khấu hao mới, được gọi là "Hệ thống khấu hao nhanh chi phí đầu tư" (Accelerated
Cost Recovery System - ACRS) và "Hệ thống khấu hao nhanh chi phí đầu tư cải tiến" (Modified
Accelerated Cost Recovery System - MACRS).
Về mặt chuyển đổi mô hình, nói chung kể từ sau năm thứ nhất, người chịu thuế có thể
chuyển đổi từ một mô hình khấu hao nhanh (ví dụ DDB) sang một mô hình khấu hao chậm hơn
(ví dụ SL). Tuy nhiên, khi muốn chuyển đổi ngược lại thì phải được sự chấp thuận của cơ quan có
thẩm quyền (ví dụ: cơ quan thuế)

8. Vai trò của nhân viên kế toán quản trị trong dự toán vốn đầu tư
Để sử dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu (discounted cash flow methods) trong việc ra
quyết định về vốn đầu tư, nhà quản lý cần phải ước lượng chính xác dòng tiền của dự án. Nhân
viên kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong công việc này. Nhân viên kế toán quản trị được
các nhà quản lý yêu cầu để ước lượng dòng tiền của dự án. Công việc này hết sức khó khăn vì có
nhiều yếu tố không chắc chắn. Nhân viên kế toán quản trị thường dựa vào số liệu quá khứ để ước
lượng thông tin về chi phí. Kiến thức về điều kiện thị trường, xu hướng kinh tế, và các hành động
của đối thủ cạnh tranh cũng rất quan trọng trong việc dự báo dòng tiền.
Trên thực tế có rất nhiều cá nhân và bộ phận trong tổ chức có liên quan đến việc dự báo
dòng tiền của dự án. Chẳng hạn, việc dự báo về nhu cầu tiêu thụ và giá bán thường được thực hiện
bởi bộ phận tiếp thị, nhu cầu về vốn đầu tư cho sản phẩm mới thường do bộ phận phát triển sản
phẩm và kỹ thuật cung cấp, trong khi các chi phí hoạt động thường được tính toán bởi các nhân
viên kế toán quản trị và kế toán chi phí.
Việc dự báo chính xác dòng tiền của dự án là công việc hết sức khó khăn và nhiều rủi ro.
Hai kỹ thuật thường được sử dụng trong thực tiễn để phân tích các dự án đầu tư trong trường hợp
việc dự báo dòng tiền không chắc chắn, đó là lựa chọn suất chiết khấu cao hơn (dòng tiền của dự

những phương pháp bổ sung cho phương pháp NPV và phương pháp IRR.
Khấu hao là một trong những khoản chi phí được trừ ra khỏi thu nhập khi tính thuế lợi tức.
Cách tính khấu hao khác nhau có thể làm thay đổi chi phí thuế giữa các thời đoạn của dự án. Dẫn
đến chuỗi dòng tiền của dự án thay đổi và sẽ ảnh hưởng đến kết quả lựa chọn phương án. Vì vậy,
trong phân tích dự án đầu tư chúng ta cần xem xét sự ảnh hưởng của khấu hao lên lợi tức sau thuế
và dòng tiền của dự án. Có nhiều mô hình khấu hao khác nhau có thể lựa chọn sử dụng. Một số
mô hình khấu hao phổ biến bao gồm: khấu hao theo đường thẳng (SL), khấu hao theo kết số giảm
dần (DB) hoặc giảm dần kép (DDB), hệ thống khấu hao thu hồi vốn nhanh (ACRS, MACRS).

Câu hỏi ôn tập và bài tập
Câu hỏi ôn tập
1. Dự toán vốn đầu tư là gì? Nêu các quyết định đầu tư liên quan đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp?
2. Phân biệt giữa quyết định sàn lọc và quyết định ưu tiên?
3. Hãy giải thích khái niệm “giá trị theo thời của tiền tệ” Vì sao khái niệm này quan trọng
trong phân tích các dự án đầu tư?
4. Lãi suất ghép (compound interest) là gì? Cho một thí dụ minh hoạ.
5. Hãy phân biệt khái niệm lãi suất danh nghĩa (nominal rate) và lãi suất thực (effective rate)?
Cho thí dụ minh hoạ.
6. Hãy giải thích các thành phần trong công thức sau: FV
n
= PV(1+i)
n
.
7. Định nghĩa khái niệm giá trị hiện tại (present value).
8. “Suất chiết khấu càng cao, giá trị hiện tại của một dòng tiền trong tương lai càng lớn.” Câu
phát biểu này đúng hay sai? Giải thích câu trả lời của bạn.
9. “Nếu lãi suất là 10%, 100 triệu đồng hôm này sẽ có giá trị kinh tế tương đương 161,05 triệu
đồng vào thời điểm năm năm sau.” Hãy giải thích câu phát biểu này.
10. Phương pháp phân tích dòng tiền chiết khấu là gì? Nêu tên các phương pháp phân tích

26. Chi phí khấu hao ảnh hưởng như thế nào đến dòng tiền của dự án?
27. Chỉ số lợi nhuận (PI) là gì? Chỉ số lợi nhuận được sử dụng để đánh giá và sắp hạng các dự
án như thế nào? Bài tập
Bài tập1 Hãy trả lời các câu hỏi sau đây:
1. Một khoản vay có lãi suất 12%/năm, ghép lãi theo tháng. Lãi suất thực của thời đoạn một
năm là bao nhiêu?
2. Hãy tính lãi suất thực hàng tháng và lãi suất thực hàng năm của một khoản vay với lãi suất
danh nghĩa là 12%/năm.
3. Một khoản vay có lãi suất 12%/năm, ghép lãi theo quý. Hỏi lãi suất thực của thời đoạn 2
năm là bao nhiêu?
4. Lãi suất 12%/năm, ghép lãi theo quý. Hỏi lãi suất thực hàng tháng là bao nhiêu?
5. Lãi suất 8%/năm, ghép lãi nửa năm. Hỏi lãi suất hàng tháng là bao nhiêu? Bài tập 2 Hãy trả lời các câu hỏi sau:
1. Giá trị lúc đáo hạn của một khoản đầu tư 100 triệu đồng trong 5 năm là bao nhiêu, nếu lãi
suất đầu tư 8%/năm ghép lãi theo quý?
2. Giá trị hiện tại của số tiền 450 triệu nhận được sau 6 năm là bao nhiêu nếu lãi suất là
10%/năm, ghép lãi theo quý?
3. Lãi suất danh nghĩa hàng năm là bao nhiêu để một đầu tư hôm này là 450 triệu trở thành
538 triệu sau 3 năm? Biết rằng thời đoạn ghép lãi là quý.
4. Sau bao lâu thì một khoản đầu tư $10.000 tỷ đồng sẽ trở thành $22.609,03 với lãi suất
12%/năm, ghép lãi 6 tháng?
5. Một người phải gửi vào ngân hàng hôm nay số tiền bao nhiêu để nhận được 3 triệu đồng
hàng tháng trong 10 năm với lãi suất 8%/năm, ghép lãi theo quý.
6. Một người hàng quý gửi tiết kiệm 3 triệu đồng trong suốt 10 năm, với lãi suất 8%/năm
ghép lãi theo quý. Số tiền người này nhận được sau 10 năm sẽ là bao nhiêu?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status