Tài liệu Báo cáo thực tập nghiệp vụ công ty than Mạo Khê - Pdf 10

Báo cáo thực tập
Nghiệp vụ công ty
than Mạo Khê

SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
1
MỤC LỤC
Báo cáo th c t pự ậ 1
Nghi p v công ty than M o Khêệ ụ ạ 1
1
M C L CỤ Ụ 2

LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế phát triển, tiến bộ khoa học kỹ thuật
ngày càng cao doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội lựa
chọn các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất. Do đó
việc hạ giá thành sản phẩm, giảm giá bán và nâng cao
chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng để doanh
nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
Ngành than mang tích chất hạ tầng cơ sở, bởi nó
cung cấp nguyên liệu đầu vào chủ yếu cho một số ngành
công nghiệp quan trọng khác phát triển và phục vụ đời
sống hàng ngày. Vì vậy, việc khai thác “vàng đen” từ
lòng đất để làm giàu cho Tổ Quốc là việc hết sức quan
trọng trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá
hiện nay.
Nhận rõ tầm quan trọng, Đảng và Nhà nước đã quan
tâm đến ngành than, tích cực đầu tư trang thiết bị máy
móc hiện đại dưới nhiều hình thức nhằm đáp ứng nhu cầu
SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
2

SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
4
I. Khái quát về tình hình chung của công ty than
Mạo Khê
Lịch sử hình thành và phát triển
Mỏ Mạo Khê được phát hiện và chính thức khai thác từ
thời Tự Đức (1846-1884), lúc đầu mỏ Mạo Khê bắt đầu
được khai thác dưới hình thức “ trưng khai” của một số
thương nhân người Trung Quốc và người Đức. Năm 1888
Pháp ép triều đình nhà Nguyễn bán mỏ Đông Triều cho
SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
5
chúng. Nắm trong tay quyền hành sử dụng Pháp bán mỏ
Mạo Khê cho đồn điền người Pháp có tên là Mac ti.
Trong những năm 1923-1929 sản lượng ở mỏ than Mạo
Khê gần bằng sản lượng than của Đông Triều chỉ kém
công ty than Bắc Kỳ, nhưng việc đầu tư trang thiết bị ở
mỏ Mạo Khê còn hạn chế. Mọi công việc từ đào lò đá,
khai thác lộ vỉa đều làm thủ công, lò giếng sâu 40m
nhưng vẫn chưa có năng lượng điện. Sản lượng khai thác
than ở Mạo Khê năm 1913 là 62000 tấn, 1925 là 107.000
tấn. Số công nhân ở mỏ Mạo Khê tính đến năm 1913 là
980 người, năm 1928 là 2.800 người.
Sau khi hoà bình lập lại mỏ Mạo Khê được đổi tên thành
mỏ than Mạo Khê, và chính thức đến ngày 16/11/2001 thì
hội đồng quản trị tổng công ty than Việt Nam quyết định
đổi tên mỏ than Mạo Khê thành công ty than Mạo Khê.
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Công ty than Mạo Khê nằm trong tam giác Hà Nội –
Hải Phòng- Quảng Ninh, là một công ty khai thác than

vĩ độ Bắc
Phía đông giáp với xã Hoàng Quế
Phía tây giáp với xã Kim Sen
Phía nam giáp với xã Yên Thọ và thị trấn Mạo Khê
Phía bắc giáp với xã Tràng Lương
Mạo Khê nằm ở vị trí tương đối thuận lợi. Các phía đông
tây, nam của mỏ là vùng nông thôn đồng bằng rộng lớn
với các xã Yên Thọ, Vĩnh Khê, Kim Sen, Hoàng Quế…
Xa hơn vượt sông Đà Bạch là huyện Kinh Môn, HảI
Dương một trong những nơi cung cấp nguồn lực cho mỏ.
Ba mặt bao quanh tương đối bằng có hệ thống giao thông
liên vùng. Về đường quốc lộ 18 đi Hạ Long và ngược lại
có Phả Lại- Bắc Ninh- Hà Nội. Đồng thời quốc lộ 18 A
lại có nhánh đường 200 đi Hải Phòng, tuyến đường sắt
quốc gia Yên Viên, Kép, Uông Bí, Hạ Long có nhiều
nhánh vào tận nhà sàng. Về đường thuỷ gần duy nhất chỉ
có con sông Đà Bạch chảy ra sông Bạch Đằng có cảng
Bến Cân là nơi trung chuyển than bằng đường thuỷ đi
khắp nơi. Các tuyến đường bộ và đường thuỷ đã hợp
thành hệ thống giao thông thuận tiện cho mỏ trong việc
SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
7
vận chuyển nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm và trong sinh
hoạt.Mỏ Mạo Khê nằm sâu trong nội địa, phía bắc là đồi
núi, còn lại là mặt bằng rộng rãi, nằm giữa hai nhà máy
nhiệt điện lớn là Uông Bí và Phả Lại, cách 2 km về phía
nam có nhà máy xi măng Hoàng Thạch vô cùng thuận lợi
cho việc cung cấp than là nhiên liệu cho các nhà máy
nhiệt điện.
Điều kiện khí hậu

tích được hình thành vào kỷ Đê Vôn và Sê riêng.Trải qua
các cuộc vận động tạo sơn đặc biệt là cuộc vận động tạo
sơn In-do-xi-at cách đây vào khoảng 170 đến 200 triệu
năm. Trên cơ sở đó than Mạo Khê ứng với độ tuổi
Triatnoli-nadini. Hướng của địa tằng chứa than chạy theo
Đông- Tây nhưng nghiêng về phía tây và chia làm 2 cánh
Bắc và Nam. Địa tầng chứa than cánh Bắc cấu tạo đơn
giản và nghiêng về một phía. Địa tầng cánh nam tương
đối phức tạp và ngược với cánh bắc.
Căn cứ vào xác định địa chất than Mạo Khê có 54 vỉa,
chiều dày là 271,74 m trong đó có 37 vỉa có giá trị khai
thác. Hầu hết các vỉa cánh bắc, cánh nam đều chạy theo
hướng Đông – Tây với chiều dài từ 6 đến 8 km. Cánh bắc
vỉa mỏng than cục ít chỉ có 3/10 than cám 4. Chiếm tỷ lệ
30% còn lại là than cám 5+6. Toàn vùng Mạo Khê không
có than cám đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, than cục độ bền cơ
học thấp. So với vùng Hòn Gai, Cẩm Phả thì than của
Mạo Khê có độ tro cao, nhiệt lượng thấp nên giá bán
bình quân thấp hơn. Tuy nhiên về giá trị sử dụng thích
SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
9
hợp với cơ khí, luyện kim và sản xuất nhiệt điện, sản
xuất vật liệu và chất đốt sinh hoạt.
Phần trữ lượng than ở mức +30 thích hợp cho khai thác
lò bằng. Phần nằm dưới mức +30 phù hợp với khai thác
bằng phương thức lò giếng.Giới hạn khai thác than của
mỏ được quy hoạch là 40 km
2
với tổng trữ lượng than
còn lại là 300 triệu tấn.

- Tập than dưới (T
3
n-r hg
1
2
): Là tập chứa than lộ ra từ
tuyến X về phía Đông, phía Bắc từ trụ vỉa 2, phía Nam từ
trụ vỉa 4 cũ hoặc sát phay FA. Địa tầng tập than dưới dày
> 1000 m, đặc trưng bởi trầm tích nhịp không hoàn chỉnh,
đá chủ yếu là sét, bột, cát kết hạt mịn sẫm màu, ít cát kết
hạt thô. Tập chứa than dưới xác định có 14 vỉa than trong
đó có 06 vỉa đạt chiều dày công nghiệp.
- Tập than giữa (T
3
n-r hg
2
2
): Phân bố rộng và chiếm
phần lớn diện tích khối Bắc kéo dài từ Tây sang Đông.
Giới hạn dưới là vỉa 2, giới hạn trên là vỉa 18, chiều dày
tập 1170m, chứa 17 vỉa than, trong đó có 09 vỉa đạt chiều
SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
11
dày công nghiệp, là đối tượng khai thác chính. Trầm tích
của tập mang tính nhịp khá hoàn chỉnh, đất đá bao gồm
bắt đầu từ hạt thô sạn hoặc cuội kết 40%, cát kết hạt thô,
mịn 30%, bột kết 20%, sét kết 5%, kết thúc là các vỉa
than hoặc sét than 5%.
- Tập than trên (T
3

. Đới ảnh hưởng và phá huỷ của đứt gãy từ 50 đến 100
mét với nhiều mặt trượt và đứt gãy nhỏ kèm theo.
Đứt gãy F
340
, F
11
, F
129
là các đứt gãy thuận cắm Bắc,
Đông Bắc có biên độ dịch chuyển lớn, trong đó F
11

biên độ dịch chuyển đứng từ 100m – 250m, F
129
có biên
độ dịch chuyển ngang lớn từ 200m – 300m với góc dốc
mặt trượt khoảng 75
0
cắt qua các vỉa V5 đến V9. Hệ
thống đứt gãy nhỏ hơn khoảng 10m -30m là các đứt gãy
F
280
, F
424
, F
433
, F
15
.
Đứt gãy F

chủ yếu là:
6 Vỉa 9B Vách 2 28
Trụ 2,78 28 - Alevrolil
7 Vỉa 10 Vách 2,65 25 - Argilil
e Tính chất cơ lý của đất đá.
Các nham thạch dày chủ yếu là sa thạch vững chắc,
bảo đảm xây dựng các công trình trên mặt đất. Đá vách
và trụ vách của vỉa chủ yếu là sạn, cát kết, bột kết và sét
kết có tính chất cơ lý được mô tả trong bảng sau:
Bảng 1-2
Tên đá
C.độ K.nén
(KG/cm
2
)
C.độ K.kéo
(KG/cm
2
)
Dung
trọng
(G/cm
3
)
Tỷ trọng
(G/cm
3
)
Sạn, cát
kết

14
f. .Phẩm chất của các vỉa than.
. Đặc điểm của các vỉa than:
Công ty than Mạo Khê - TKV đang khai thác toàn bộ
khu vực 56 từ mức -25 / +30 và khu vực - 80 gồm các
tuyến vỉa 5, 6, 7, 8, 9 nằm trong bối tà cánh Bắc được
giới hạn bởi tuyến III đến tuyến VI.
Vỉa 5: Có cấu tạo phức tạp gồm nhiều lớp đá kẹp
(Argilil) xen lẫn vỉa than, nó biến đổi từ (40 đến 60) lớp,
chiều dày vỉa không ổn định và có khả năng chia làm 3
lớp.
Vỉa 6: Cấu tạo khá phức tạp gồm nhiều lớp nhỏ là đá
(Argilil) xen kẽ, có chiều dày 0,3 -:- 1,9 mét và có 4 đến
24 lớp, vỉa được chia làm 2 lớp, lớp vách dày 3,09 mét và
lớp trụ dày 2,99 mét.
Vỉa 7: Cấu tạo lớp đá kẹp từ 8 đến 20 lớp, phân lớp
mỏng có chiều dày 0,16 đến 6,99 mét cũng chia làm 2 lớp
rõ rệt, lớp vách dày 3,56 mét và lớp trụ dày 4,38 mét.
Vỉa 8: Có chiều dày trung bình là 2,4 mét với độ dốc
25
o
và khá ổn định, đá vách trực tiếp là Argilil có chiều
dày 6 mét còn vách cơ bản là đá Alevrolit có chiều dày 20
mét.
SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
15
Vỉa 9: Có chiều dày trung bình 4 đến 4,6 mét với góc
dốc 28
o
có thế nằm tương đối ổn định và cũng chia làm 2

Hàm lượng phot pho: P = 0,001% ÷ 0,09%
Hàm lượng hiđro: H
2
= 2,38% ÷ 3,15
SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
17
Chất lượng của từng vỉa than được thể hiện qua bảng
sau:

Bảng 1-3
Chỉ tiêu

hiệu
ĐVT
Vỉa
5
Vỉa
6
Vỉa
7
Vỉa
8
Vỉa
9
VỈA
9B
Độ ẩm
W
% 4,8 4,5 5,8 4,91 4,82 4,85
Độ tro A

Cấp C2 là 8027 x 10
3
tấn
SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
18
Với chiều dầy theo phương trong phạm vi vỉa khai
thác từ tuyến III đến tuyến VI là 1000 m ÷1100 m.
g Các loại sản phẩm
Sản phẩm chính:

SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
19
Bảng 1-
4
TT Tên sản phẩm Cỡ hạt, mm Độ tro (A
k
,
%)
1 Than cám
+ Than cám 4
0 ÷ 15 15 ÷ 20
+ Than cám 5
0 ÷ 15 26 ÷ 33
+ Than cám 6a
0 ÷ 15 34 ÷ 45
+ Than cám 6b
0 ÷ 15
2 Than cục
15 ÷ 35 7 ÷ 10
+ Than cục xô

Khai thác than hầm lò
hầm lò
Đ o lò kià ến thiết CBSX
Khai thác than
Vận chuyển than ra ngo i à
qua
Hệ thống máng c oà
Hệ thống quang lật
Hệ thống băng tải
Khai thác than lộ thiên
Vận chuyển than
bằng
máng c o à
Nh s ng ( s ng tuyà à à ển
)
Than th nh phà ẩm
22
Phương pháp khấu than tại các lò chợ của công ty
chủ yếu là khoan nổ mìn kết hợp với cuốc thủ công,
chống giữ lò bằng cột thuỷ lực đơn, trong đó:
+ 08 Phân xưởng áp dụng công nghệ khai thác lò chợ
dài theo phương chống giữ bằng cột thuỷ lực đơn xà khớp
kim loại, sản lượng đạt từ 300 đến 500 Tấn/ngày.
+ 01 Phân xưởng áp dụng công nghệ khai thác lò chợ
dài theo phương chống giữ bằng giá thuỷ lực di động, sản
lượng >500 tấn ngày.
+ 03 Phân xưởng áp dụng công nghệ khai thác lò chợ
chia lớp ngang nghiêng chống bằng cột TLĐ kết hợp với
xà hộp kim loại, sản lượng đạt từ 320 đến 480 tấn/ngày.
b- Vận tải than:

24
Các đường lò trong than của công ty chủ yếu được
đào bằng phương pháp khoan nổ mìn, chống bằng vì
chống gỗ hình thang sau đó được chống gia cường bằng
khuôn tròn (khuôn 04 thìu) hoặc khuôn vuông 02 thìu nóc
tốc độ đào chống lò chỉ đạt tối đa là 80m/ tháng. Từ năm
2003, công ty bắt đầu đưa thử nghiệm vì chống sắt vào
chống thay vì chống gỗ trong các đường lò than và bước
đầu đã thu được những kết quả nhất định.
- Năm 2005 công ty đã đầu tư mua 01 máy
COMBAIN AM-45 EX phục vụ việc đào lò dọc vỉa trong
than chống bằng vì thép lòng mo hình vòm và vì thép I-
110 (I béo), hiện tại tốc độ đào chống lò bằng máy
COMBAIN đã đạt gần 200m/gương tháng.
- Ngày 20/7/2006 công ty đã triển khai đưa vào thử
nghiệm máy cào vơ ZMZ
2
B-17 để hỗ trợ việc vận tải than
trong quá trình đào chống lò dọc vỉa ttrong than nhằm
đẩy nhanh tốc độ đào lò bằng phương pháp khoan nổ
mìn.
b- Công nghệ đào chống lò đá:
Các đường lò đá của công ty được đào bằng phương
pháp khoan nổ mìn thường chống bằng vì thép lòng mo,
SV: Trần Thị Thu Hương Lớp: Kế toán DN – K50
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status