Đồ án tốt nghiệp
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN) và khu
vực mậu dịch tự do ASEAN
(ASEAN free trade area:
AFTA)
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I: Khái quát chung về AFTA
I. Khu vực hoá kinh tế và các hình thức chủ yếu của nó.
1. Nhận định chung
2. Các hình thức chủ yếu của nó
II. Xu hướng quốc tế hoá kinh tế và sự ra đời của AFTA.
I 1. Xu hướng quốc tế hoá kinh tế.
II 2. Sự ra đời của AFTA
III. Sự cần thiết ra nhập AFTA của Việt Nam
Chương II: HỘI NHẬP AFTA: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM.
I. Thực trạng, vị thế hiện nay của các doanh ngiệp công nghiệp Việt Nam trong khu vực.
1. Thực trạng hiện nay của các DNCNVN.
1 1.1. Thành tựu.
1.2. Hạn chế
1.3. Nguyên nhân
2 2. Vị thế hiện nay của các DNCNVN trong khu vực.
2.1. Về mậu dịch
2.2. Về sản xuất.
II. Cơ hội và thách thức đối với các DN CNVN khi hội nhập AFTA .
1. Cơ hội.
2. Thách thức
3 III. Những phương hướng và giải pháp cơ bản.
Vì đây là nghiên cứu mang tính khoa học đầu tiên và cùng với những hạn chế về kiến thức
cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên đề án còn nhiếù sai sót, em mong cô giáo Thạc sĩ Nguyễn
Thu Thuỷ giúp đỡ, chỉ bảo để đề án được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AFTA
I / Khu vực hoá kinh tế và các hình thức chủ yếu của nó
Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đang diễn ra ở những cấp độ khác nhau với
xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu hướng khu vực hoá.
Toàn cầu hoá kinh tế là hình thành một thị trườngthế giới thống nhất, một hệ thống tài
chính, tín dụng toàn cầu , là việc phát triển và mở rộng phân công lao động quốc tế theo chiều sâu,
là sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học công nghệ giữa các nước trên quy mô toàn cầu;là việc
giải quyết các vấn đề kinh tế –xã hội có tính chất toàn cầu như vấn đề dân số,tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ mội trường sinh thái…Trong khi đó , khuvực hoá kinh tế chỉ diễn ra trong một
không gian địa lý nhất định dưới nhiều hình thức như: khu vực mậu dịch tự do, đồng minh (Liên
minh) thuế quan, đồng minh tiền tệ,thị trường chung, đồng minh kinh tế…Nhằm mục đích hợp
tác,hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, từng bước xoá bỏ những cản trở trong việc di chuyển tư
bản,lực lượng lao động, hàng hoá dịch vụ …Tiến tới tự do hoá hoàn toàn những di chuyển nói trên
giữa các nước thành viên trong khu vực.
Ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển (hay còn gọi là các quốcgia công nghiệp
phát triển), thì xu hướng tham gia hội nhập vào nềnkinh tế các nước trong khu vực và bảo hộ mậu
dịch ngày càng gia tăng. Việc tham gia mạnh mẽ và rộng rãi vào các khối liên kết kinh tế khu vực,
từng bước tiến tới sự nhất thể hoá cao thông qua các văn bản,hiệp định kí kết đã đưa lại cho các
quốc gia trong liên minh sự ổn định, hợp tác cùng phát triển. Trong điều kiện đó, các doanh
nghiệp của các quốc gia thành viên được hưởng những ưu đãi về thương mại cũng như phải gánh
vác các nghĩa vụ về tài chính, giảm thuế cũng như các miễn giảm khácv.v (các quốc gia trong
hiệp hội mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA ), các quốc gia trong liên minh châu âu(EU) là những
liên kết phản ánh rõ nét các xu hướng trên). Kinh tế giữa các nước thành viên.Theo thoả thuận hợp
tác này, các quốc gia trong liên minh bên cạnh việc xoá bỏ thuế quan và những hạn chế về mậu
dịch khác giữa các quốc gia thành viên, còn cần phải thiết lập một biểu thuế quan chung của khối
tiếp sau Nhật Bản là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kong, Singapo đã theo đuổi chính sách hướng
ngoại, mở cửa và tích cực hội nhập vào thị trường quốc tế ; thực hiện tự do hoá từng bước . Kết
quả bốn nước này đã tăng thu nhập đầu người từ mức 20% so với các nước công nghiệp vào năm
1965 lên 70% vào năm 1995. Con đường hướng ngoại,thực hiện tự do hoá thương mại được thực
hiện tiếp nối ở Chi Lê, Malayxia và Thái Lan vào đầu thập niên 70 và sau đó là Trung Quốc vào
đầu thập niên 80. Nhiều người cho rằng khi hội nhập vào kinh tế khu vực sẽ giảm bảo hộ sản xuất
trong nước, do đó sẽ tăng thất nghiệp và giảm tăng trưởng. Lịch sử đã chứng minh không một
nước nào có thể đạt tốc độ phát triển nhanh mà không mở cửa kinh tế, không tích cực hội nhập .
5
Theo WB số người sống ở mức nghèo khổ ở Châu á (dưới 1USD/ ngày) đã giảm từ 700tr người
xuống còn 300tr người năm 1995. Trung quốc nhờ thoả thuận với Mỹ mở cửa thị trường hơn nữa
và chuẩn bị ra nhập WTO sẽ làm cho thu nhập quốc dân tăng thêm 30% năm nhờ vậy tăng thêm
12 triệu việc làm.
Rõ ràng xu hướng khu vực hoá Kinh tế là tất yếu. Nó mang lại những lợi ích kinh tế to lớn
cho cả người sản xuất và người tiêu dùng trong các nước thành viên . Một quốc gia nào đó gia
nhập các nước thực hiện ưu đãi mậu dịch thường đưa lại những lợi ích chủ yếu sau đây:
Một là, tạo lập quan hệ mậu dịch giữa các nước thành viên, mở rộng hơn nữa khả năng xuất
nhập khẩu hàng hoá của các nước trongliên minh với các nước, các khu vực khác trên thế giới.
Cũng trong điều kiện này mà tiềm năng kinh tế của các nước thành viên được khai thác một cách
có hiệu quả. Chính việc tạo lập mậu dịch tự do hội nhập khu vực đã làm tăng thêm phúc lợi thông
qua việc thay thế các ngành, trước hết là công nghiệp của các nước chủ nhà có chi phí cao (lãng
phí nguồn lực) bằng những ngành có chi phí thấp hơn (tức có hiệu quả hơn) của những quốc gia
nhận được sự ưu đãi. Cũng trong điều kiện này, lợi ích của người tiêu dùng cũng được tăng lên
nhờ hàng hoá của các nước thành viên đưa vào nước chủ nhà luôn nhận được sự ưu đãi. Do đó giá
hàng hoá giảm xuống làm cho người dân ở nước chủ nhà có thể mua được khối lượng hàng hoá
lón hơn mức chi phí thấp hơn.
Hai là, Hội nhập khu vực còn góp phần vào việc chuyển hướng mậu dịch. Sự chuyển hướng
này diễn ra phổ biến khi hình thành liên minh thuế quan, vì khi đó các điều kiện buôn bán giữa các
nước thành viên trong liên minh sẽ trở nên thuận lợi hơn, hấp dẫn hơn.
Ngay cả trong trường hợp một nước nào đó trong liên minh tiến hành nhập khẩu những sản
nước thành viên hoặc khi hiệp định về mậu dịch không làm giảm đi những hoạt động buôn bán
giữa các nước thành viên với các khu vực và các quốc gia còn lại trên thế giới.
Ba là, hội nhập vào khu vực, thực hiện tự do hoá thương mại tạo điều kiện cho mỗi quốc gia
thành viên có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu vốn, công nghệ, trình độ quản lý,… từ quốc
gia khác trong liên minh. Về lâu dài tự do trương mại góp phần tăng năng xuất lao động , tăng
trưởng kinh tế. Tự do hoá thương mại thúc đẩy tăng trưởng kinh té bằng hai cách: tăng xuất khẩu
và tăng năng xuất cận biên của hai yếu tố sản xuát là vốn và lao động. Trước hết, việc đâỷ mạnh
xuất khẩu sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất của từng quốc gia, điều đó được thể hiện:
- Thực hiện tự do hoá thương mại đang gây ra áp lực lớn đối với mỗi quốc gia trong liên
minh trong các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, buộc các ngành phải phấn đấu giảm giá hoặc giữ
giá ở mức tương đối thấp. Muốn vậy các ngành này phải nhanh tróng thay đổi công nghệ, áp dụng
rộng rãi những kinh nghiệm quản lý, những thành tựu mới và hiện đại của cuộc cách mạng khoa
học – công nghệ.
7
- Trong điều kiện hội nhập, các quốc gia thành viên đang có xu hướng tập trung đầu tư và
phát triển các ngành sản xuất hàng xuất khẩu có hiệu quả nhất và phát huy tối ưu những lợi thế về
nguồn lực của mình.
- Việc hội nhập vào khu vực sẽ cho phép mỗi quốc gia thành viên năng cao hiệu quả xuất
khẩu theo quy mô và do đó thúc đẩy tăng trưởng sản xuất.
- Đẩy mạnh xuất khẩu có hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng vốn tích luỹ và
do đó thúc đẩy tái sản xuất mở rộng không ngừng.
- Tăng cường xuất khẩu góp phần tạo lập cân bằng cán cân thanh toán theo hướng tích cực,
tăng dự trữ ngoại tệ cho quốc gia đây là điều kiện quan trọng để giảm lãi xuất cho vay khuyến
khích người sản xuất kinh doanh vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tốc độ tăng
trưởngvà phát triển kinh tế… Tiếp đến việc tăng hiệu quả sản xuất nhờ nâng cao năng xuất cận
biên của hai yếu tố sản xuất cho phép mỗi quốc gia thành viênkhông cần phải thay đôỉ cơ cấu vật
chất của sản xuất, thậm chí không tăng thêm chi phí sản xuất mà vẫn đạt hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên bất cứ vấn đề gì cũng có tính hai mặt của nó. Việc hội nhập kinh tế khu vực
cũng có mặt trái của nó, cũng có những thách thức mà một quốc gia phải lường trước, tính toán để
hạn chế , vượt qua. Đó là :
• Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra một khối thị
trường thống nhất.
• Làm cho Asean thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi đặc
biệt là phát triển các thoả thuận thương mại khu vực trên thế giới.
Để biến ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do và thực hiện các mục tiêu của AFTA thì các
nước thành viên đã kí kết Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT. Đây là động lực
quan trọng nhất. Nội dung của CEPT là trong vòng 10 năm (19 93-2003) giảm thuế quan trong
thương mại nội bộ Asean xuống còn từ 0- 5% đối với sáu nước thành viên cũ Asean vào năm 2006
đối với Việt Nam và muộn hơn với Lào, Campuchia đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định
lượng và các hàng rào phi thuế quan. Để thực hiện chương trình giảm thuế này, toàn bộ các mặt
hàng trong doanh mục biểu thuế quan của mỗi nước được chia vào 4 danh mục sau:
1. Danh mục các sản phẩm giảm thuế gồm các mặt hàng được đưa vào cắt giảm thuế
quan ngay với lịch trình giảm nhanh và giảm bình thường.
2. Danh mục sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế gồm các mặt hàng tạm thời sẽ chưa
phải giảm thuế và sau một thời gian nhất định các quốc gia phải đưa toàn bộ các mặt hàng này vào
danh mục giảm thuế.
3. Danh mục sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm, các mặt hàng trong doanh
mục này có thời hạn cắt giảm thuế quan muộn hơn, cụ thể là năm 2010 hoăc muộn hơn nữa đối
với mặt hàng nhạy cảm cao.
9
4. Danh mục loại trừ hoàn toàn gồm những sản phẩm không tham gia Hiệp định
CEPT. Đây là có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức…
Bên cạnh việc cắt giảm thuế quan ,CEPT còn quy định việc xoá bỏ hạn chế về số lượng
nhập khẩu , các rào cản phi thuế quan khác và lĩnh vực hợp tác trong lĩnh vực hải quan.
Hiệp định CEPT áp dụng mọi sản phẩm chế tạo kể cả sản phẩm nông sản. Muốn được
hưởng ưu đãi giảm thuế trong khuôn khổ CEPT cần thoả mãn hai điều kiện sau.
1. Phải là sản phẩm nằm trong doanh mục sản phẩm giảm thuế và được hội đồng
AFTA xác nhận.
2. Các sản phẩmphải có tối thiểu 40%giá trị được chế tạo từ các nước thành viên
Asean.
Philippin 75%, Singapo 80%, Thái Lan 71%.
Đặc biệt khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới thường thấp
do chất lượng thấp, giá cả cao, mẫu mã không phong phú hệ thống pháp luật yếu và chưa tương
thích với luật pháp của các quốc gia trong khu vực, đội ngũ cán bộ còn yếu kém.
Trong hoàn cảnh như vậy ,Việt Nam tham gia vào AFTA là một tất yếu không những vì Việt
Nam đã là thành viên của ASEAN mà còn do những tác động tích cực của nó đối với sự phát triển
kinh tế của đất nước ta. Chính những thực trạng khó khăn trên của Việt Nam lại là cơ hội để Việt
Nam tham gia AFTA
Hội nhập AFTA là điều kiện để Việt Nam đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH, HDH, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào năm 2002.
Do Việt Nam phải cắt giảm thuế theo hiệp định CEPT nên giá cả hàng hoá Asean nhập vào
Việt Nam sẽ trở nên rẻ làm tăng số dư của người tiêu dùng.
Hội nhập AFTA sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoá sang các nước Asean vì
hàng rào của họ cũng được cắt giảm thuế bảo hộ như của mình.
Một thị trường rộng lớn với đòi hỏi không quá cao về chất lượng sẽ được mở ra cho các
DNVN, thị trường tiêu dùng được mở rộng ra là một yếu tố giúp VN huy động tiềm năng lao động
và tài nguyên dồi dào của mình và tăng xuất khẩu kể cả đối với các hàng hoá xuất khẩu sang thị
trường ngoài Asean thì lợi ích mà AFTA mang lại cho Việt Nam là giảm giá thành sản xuất nhờ
mua được vật tư đầu vào với gía hạ hơn từ các nước Asean. Chính điều đó làm cho Việt Nam hấp
dẫn hơn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.
Trước sự cạnh tranh khốc liệt khi nhà nước giảm thuế theo CEPT sẽ buộc cả phiá nhà nước
và phía các doanh nghiệp công nghiệp cố gắng hội nhập, có những thay đổi trong tư duy, trong
chính sách , chiến lược để tạo ra môi trường pháp lý, kinh doanh, đầu tư hiệu quả hơn, học hỏi,
tiếp thu nâng cao trình độ để có thể tham gia vaò cuộc cạnh tranh đầy khốc liệt.
11
Hội nhập AFTA sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hình thành mở rộng hơn nữa các mối quan
hệ giữa nền kinh tế Việt Nam với khuôn khổ nền kinh tế chung của khu vực và thế giới. Đây chính
là cơ hội nữa để nền kinh tế Việt Nam bắt kịp với những xu hướng chung của khu vực và thế giới,
tìm ra tiếng nói chung, chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng quốc tế mà trước hết là với các nước
trong khối mậu dịch tự do Asean, mở ra một thế đứng vững vàng hơn trong quan hệ của Việt Nam
chúng ta vẫn còn một khoảng cách khá xa cần vượt qua. Các DNCNVN còn yếu thế và lực. Cơ sở
hạ tầng , máy móc thiết bị của các doanh nghiệp còn thiếu đồng bộ và lạc hậu. Ngoài các xí
nghiệp do nước ngoài đầu tư, các xí nghiệp công nghiệp trong nước chỉ có khoảng được coi là
trang thiết bị vào loại tương đối tiên tiến, tốc độ đổi mới thiết bị công nghệ còn khiêm tốn, khoảng
13
10 –11%. Điều này đã hạn chế rất nhiều đối với nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản
xuất. Nhiều sản phẩm sản xuất trong nước có giá cao hơn sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ 20 –
40%.
Các DNCNVN hiện nay vẫn chưa coi trọng vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng
klhả năng cạnh tranh. Đến giữa năm 1999, cả nước mới có trên 100 doanh nghiệp được cấp chứng
nhận tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000, trong đó DNNN chiếm 70%, riêng vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ mới có 16 xí nghiệp. Phần nhiều các DNCNVN phải dựa vào đối tác nước ngoài biểu
trưng, thiết kế sản phẩm, quy trình công nghệ tiếp thị và phân phối sản phẩm.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao và đang có xu hướng giảm dần. Theo báo cáo của
phòng Thương Mại Việt Nam số nợ phải trả của DNNN bằng 12% vốn của Nhà nước trong khi nợ
phải thu chiếm 60% nợ phải trả. Mặt khác qui mô vốn của DNNN rất nhỏ, số DNNN có vốn dưới
5 tỉ đồng chiếm 65,4 %, vốn trên 10 tỉ đồng chỉ có 20,89%.
Những khó khăn về vốn về thị trường cộng với sự yếu kém, lỏng lẻo, công kềnh của bộ máy
quản lý doanh nghiệp đã dẫn tới tình trạng thua lỗ. Hiệu quả sử dụng vốn rất thấp có đến hơn 50%
số DNNN có tỉ suất sinh lời trên tổng số vốn thấp hơn lãi suất tiết kiệm.
Hơn nữa, các DNNN đang gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu, phần lớn các
sản phẩm kém khả năng cạnh tranh do chí phí tăng cao (nhập nguyên nhiên liệu ,công suất sử
dụng máy móc thấp, kỹ năng quản lý, trình độ công nhân có tay nghề cao và khả năng tiếp thị còn
hạn chế) . Mặt khác, các DNNN mới tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và Thế giới
vào đầu những năm 90, do đó gặp nhiều khó khăn về kinh nghiệm tiếp cận thị trường cũng như
các thông tin cần thiết liên quan đến quá trình hội nhập. Trong khi đó các DNVN cho đến nay vẫn
chưa xác định được nội dụng hoạt động và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trước sự cọ
sát với các đối tác doanh nghiệp trong khu vực.
c/ Nguyên nhân :
Các hạn chế trên một phần là do yếu tố khách quan đó là tác động của cuộc khủng hoảng
cấu kinh tế của các quốc gia ASEAN chứ không có vị thế cạnh tranh thực sự.
Khoảng cách giữa các mức thuế hiện hành và mức thuế dưới 5% sau khi thực hiện AFTA
đối với những mặt hàng công nghiệp chế biến mà một số doanh nghiệp Việt Nam có thể tăng
cường xuất khẩu trong tương lai gần như đồ nhựa, da, cao su, dệt may, đá quý,… không lớn.
Ngược lại, các mặt hàng này dễ bị ASEAN chiếm lĩnh ngay trên thị trường nội địa Viêt Nam khi
thuế nhập khẩu ở mức thấp. Các nhà sản xuất đồ nhựa của Việt Nam có thể rơi vào tình trạng như
cách đây vài năm khi đồ nhựa Thái Lan tràn ngập thị trường với chất lượng tốt, kiểu dáng phong
phú và giá thành tương đối rẻ. Mức độ cạnh tranh giữa các hàng hoá của ASEAN trên thị trường
nội địa sẽ càng trở nên gay gắt hơn khi AFTA được thực hiện đầy đủ.
15
Hàng hoá nhập về từ ASEAN chủ yếu dùng làm đầu vào cho doanh nghiệp sản xuất và hàng
công nghiệp như: nhôm, xi măng, hoá chất, hàng điện tử, phân hoá học, thuốc chữa bệnh, giấy,
xăng dầu, các phương tiện vận chuyển. Hơn một nữa trong số này có mức thuế thấp hơn 5% và
857 mặt hàng đã được đưa vào danh sách tham gia CEPT kể từ 1/1996. Sự tham gia đó chỉ ảnh
hưởng rất nhỏ tới sản xuất trong nước cũng như buôn bán.
Đối với quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước ngoài ASEAN thì lợi ích thu được
đối với các doanh nghiệp sản xuất là giảm giá thành sản xuất nhờ mua được vật tư đầu vào với giá
hạ hơn từ các nước ASEAN góp phần tăng cường khối lượng hàng hoá xuất khẩu. Tuy nhiên các
nướcASEAN cũng xuất khẩu ra thị trường thế giới những sản phẩm tương tự Việt Nam cho nên
họ cũng tăng sức cạnh tranh khi ra nhập AFTA.
2.2/ Về sản xuất.
Như đã đề cập ở trên, hàng công nghiệp chế tạo xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 18% tổng
kim ngạch xuất khẩu, một con số rất khiêm tốn nếu đem so sánh với con số tương ứngcủa các
nước ASEAN khác. Các mặt hàng công nghiệp chế tạo của Việt Nam hầu như chưa có mặt trên thị
trường ASEAN, ngược lại hàng hoá công nghiệp chế tạo của ASEAN đã thâm nhập khá sâu vào
Việt Nam. Trong số 15 nhóm hàng giảm thuế nhanh, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu
của Việt Nam trong thời gian tới khó có thể có sản phẩm để xuất khẩu. Hàng hoá do các doanh
nghiệp Việt Nam sản xuất vừa chưa có chất lượng được tin cậy lại chưa gây được ấn tượng về
hình thức, kiểu dáng. Ngành công nghiệp điện tử non trẻ của Việt Nam phải đương đầu với cú sốc
1995
1996
1997
1998
1999
1,112
1,364
1,911
2,372
2,463
2,378
2,788
3,166
3,749
3,288
3,490(23,9%)
4,152(33,4%)
5,077(25,5%)
6,122(29,1%)
5,751(28,4%)
Nguồn (Vụ hợp tác đa biên, Bộ thương mại, tháng 5-2000 )
Thứ hai, thông qua AFTA, các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam có cơ thuận lợi mở
rộng hợp tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, mua được nguồn nguyên liệu đầu vào rẻ hơn từ các
nước ASEAN, tận dụng lợi thế sẵn có về nhân công, tài nguyên thiên nhiên trong nước nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh.
Khi môi trường thương mại nội bộ khu vực ngày càng tự do, cũng có nghĩa là mức độ hội
nhập giữa các thành viên ngày càng tăng lên: Các hình thức liên kết khác như đầu tư nội bộ
ASEAN (AIA), hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO), tài chính , năng lượng, GWT… đang tạo
điều kiện cho các DNCNVN một ’’sân chơi” rộng để có khả năng nâng cao hiệu quả và chất
Nam sẽ trải qua quá trình sàng lọc tự nhiên thông qua cạnh tranh quốc tế Những doanh nghiệp vốn
vẫn được trợ cấp sẽ nhanh chóng bị thay thế bởỉ những doanh nghiệp nứơc ngoài hay doanh
18
nghiệp trong nước có đủ khả năng, nếu không tự mình cố gắng đổi mới vươn lên. Nền sản xuất
trong nước sẽ hiệu quả hơn và thích ứng nhanh hơn đối với các điều kiện quốc tế thay đổi.
Thứ năm, vị thế của các Doanh nghiệp Công nghiệp Việt Nam được cải thiện nhờ quá trình đa
phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ khu vực và thế giới. Trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận
cũng như sức mạnh tập thể của tổ chức ASEAN, các DNCNVN sẽ tạo được thế và lực trong đàm
phán thương mại song phương và đa biên với các cường quốc kinh tế cũng như các tổ chức quốc
tế như APEC,EU, WTO…
2/ Thách thức
Bên cạnh những cơ hội những thuận lợi có được khi tham gia AFTA thì với những hạn chế
còn tồn tại, các DNCNVN hiện nay đang phải đương đầu với một số khó khăn và thách thức chủ
yếu sau đây:
Thứ nhất, năng lực cạnh tranh yếu, năng suất lao động, hiệu quả của các sản phẩm, dịch
vụ của các DNCNVN còn thấp dẫn đến giá cả chất lượng mẫu mã của các sản phẩm hàng của các
DNCNVN khó có thể cạnh tranh được với hàng hoá của các nước ASEAN khi hàng rào thuế quan
và phi thuế quan được dỡ bỏ.
Thứ hai, hiện trạng các DNCNVN hiện có khoảng 53000 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế với gần 3 triệu lao động. Tuy nhiên, nếu so sánh với các doanh nghiệp của các nước
ASEAN, phần lớn các DNCNVN là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu,
năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh. Về tỷ trọng của công
nghiệp chế tạo hiện nay chỉ bằng mức của Thái Lan 1970, tức là chỉ chiếm 15% GDP. Tài sản cố
định bình quân cho một lao động của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), chỉ có 44 triệu đồng,
trong đó gần một nửa doanh nghiệp nhà nước chỉ có 20 triệu đồng. Đối với doanh nghiệp tư nhân,
bao gồm 23000 doanh nghiệp vốn tài sản cố định chỉ chiếm 16% tổng số vốn tài sản cố định của
doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa trang thiết bị máy móc của doanh nghiệp CNVN phần lớn lạc
hậu, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu lớn hơn nhiều so với các doanh nghiệp của một số nước
ASEAN khác. trình độ công nghệ của các doanh nghiệp CNVN tụt hậu khoảng 25-30 năm so với
Thái Lan dẫn đến chi phí đầu vào cao hơn từ 30-50% so với các đối tác ASEAN khác
kể các nguồn vốn đầu tư đến cơ sở hạ tầng , mặt bằng sản xuất….Riêng nguồn vốn lưu động của
các DNNN mới chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu. Đây là bài toán khó đặt ra cho ngân sách NN.
Tuy nhiên điều nghịch lý ở chỗ một số DNCNVN mặc dù thiếu vốn nhưng ngại vay vốn từ nhà
băng hoặc huy động vốn từ các nguồn khác. Thực tế cho thấy lãi suất cho vay của ngân hàng với
các doanh nghiệp hiện nay thấp khoảng 1% kèm theo các thủ tục vay vốn đơn giản nhưng cũng
không thu hút được nhiều doanh nghiệp vay vốn. Sở dĩ có tình trạng này là do các doanh nghiệp
lúng túng khi làm thủ tục giải ngân cũng như khó khăn tìm đầu ra cho nơi tiêu thụ sản phẩm. Mặt
khác, chính sách thẩm định nguồn vốn cho vay của nhà băng còn bộc lộ nhược điểm khi đánh giá
thực trạng và năng lực kinh doanh của từng xí nghiệp. Chúnh vì vậy dẫn đến tình trạng những
doanh nghiệp kinh doanh lành mạnh cần có vốn đầu tư chưa được đáp ứng kịp thời. Ngược lại có
những doanh nghiệp sản xuất không hiệu quả, sử dụng vốn sai mục đích do những mối quan hệ
20
với một số cán bộ phụ trách ngân hàng đã chiếm dụng vốn đáng kể, dẫn đến thất thoát nghiêm
trọng nguồn vốn ngân sách, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình kinh doanh, hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp cần vay, được cấp phát vốn. Điều này hết sức bất lợi với các DNCNVN khi hội
nhập AFTA, doanh nghiệp cần vốn để đầu tư, thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao được khả
năng cạnh tranh với các doanh nghiệp trong khu vực. Thêm vào đó khi hội nhập AFTA thì nguồn
thu ngân sách từ thuế của Nhà Nước giảm sẽ ảnh hưởng ngay lập tức đến các doanh nhgiệp sản
xuất thuộc các ngành sản xuất mang tính chiến lược đang được trợ cấp.
Thứ ba, phần lớn các DNCNVN chưa có sự chuẩn bị đầy đủ cho quá trình hội nhập kinh
tế khu vực, chưa đưa ra được các chiến lược, chính sách thích ứng để tham gia AFTA .
Vấn đề này liên quan đến nhiều yếu tố. Trước hết, mức độ phổ cập các thông tin liên quan đến
vấn đề AFTA đối vói các doanh nghiệp còn thiếu, không đồng bộ. Nội dung của chương trình
AFTA còn mang tính khái quát mà chưa có những nội dung cụ thể gắn với mục tiêu và chính sách
hội nhập kinh tế của doanh nghiệp , chưa có các biện pháp điều chỉnh sản xuất để tồn tại và phát
triển trong môi trường mở cửa, không còn hàng rào bảo hộ. Nhiều doanh chưa nghiệp có định
hướng phát triển xuất khẩu một cách khả thi để tận dụng cơ hội của AFTA mang lại. Kế hoạch
Xuất Khẩu ( nếu có ) chỉ là những chỉ tiêu Xuất Khẩu dựa trên kế hoạch về sản lượng so sánh với
kế hoạch tiêu dùng mà không có những phân tích so sánh cụ thể dựa trên tiêu chí về giá thành,
chất lượng, khả năng tiêu thụ… Các doanh nghiệp chưa có thói quen khai thác tìm hiểu thông tin
đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp nước ngoài tại VN. Thực tế diễn biến ở thị trườngVN hiện
nay cho thấy tình trạng “ cung vượt cầu” trong một số sản phẩm CN như điện tử, dệt may, vải sợi,
xe máy, sắt thép…. Nguyên nhân chủ yếu là do sức mua trong nước giảm. Kết quả dẫn đến hiện
tượng tồn đọng vốn lưu chuyển cũng như làm tăng lãi suất vay ngân hàng của các doanh nghiệp .
Chính vì thế cũng làm giảm vị thế cạnh tranh cũng như cải thiện môi trường kinh doanh của các
DNCNVN.
Việc Việt Nam gia nhập AFTA là yêu cầu tất yếu, có vậy chúng ta mới phát huy hết thế mạnh
của việc tham gia vào hoạt động kinh tế khu vực. Tuy nhiên, việc loại bỏ hàng rào ngăn cản buôn
bán giữa Việt Nam và các nước ASEAN tất yếu sẽ tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực tới
nền kinh tế Việt Nam nói chung và các DNCNVN nói riêng. Vấn đề đặt ra là các DNCNVN phải
phát huy thế mạnh và tận dụng cơ hội của mình cũng như hạn chế những ảnh hưởng xấu của nó
tới hoạt động kinh doanh của mình. Các DNCNVN phải coi những tác động tích cực đó là cơ bản
và là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp tồn tại và phát triển ; đưa đất nước tiến lên ngang trình
độ với các nước trong khu vực trong thời gian ngắn nhất
22
III ) NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN
Về bản chất, hội nhập tức là mở cửa kinh tế, mở cửa thị trường trong nước, chấp nhận cạnh
tranh bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài ngay trên “sân nhà” theo những luật chơi chung
do cộng đồng kinh tế quy định. Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, với sự xâm nhập và bành
tướng của các công ty đa quốc gia thì sức ép đổi mới với các DNCNVN ngày càng lớn để có thể
thích nghi được với những tính chất, đòi hỏi mới. Do đó Doanh Nghiệp cần phải tự mình đưa ra
phương hướng , giải pháp để tồn tại và phát triển cùng với sự hỗ trợ từ phía Nhà Nước
I. VỀ PHÍA DN
Đối với một đất nước thì hội nhập là con đường duy nhất để phát triển, còn đối với từng
Doanh Ngghiệp thì không phải hoàn toàn như vậy. Chỉ có Doanh Nghiệp nào chuẩn bị tốt để hội
nhập thì mới có cơ may tồn tại, nếu không thì nguy cơ bị đào thải, bị loại khỏi cuộc đua là hoàn
toàn hiện thực. Tuy vậy, hiện nay hầu hết các DNCNVN chưa ý thức được nguy cơ đó, coi hội
nhập là việc của Nhà Nước. Thực ra đây là quan niệm sai lầm, để tận dụng được các cơ hội phát
triển do hội nhập mang lại, các DNCNVN phải làm rất nhiều việc, cần thực hiện nó với tinh thần
chuẩn bị tốt nhất để hội nhập. Những điều này không mới nhưng nhiều Doanh Nghiệp có thể
đảm bảo được khả năng cạnh trạnh. Điều này nhìn chung là đúng nhưng chưa đủ. Với trang thiết
bị là như nhau nhưng Doanh Nghiệp vẫn có thể có năng suất lao động khác nhau, chí phí khác
nhau, hiệu quả khác nhau, nói cách khác là sức cạnh tranh klhác nhau. Một trong những bí quyết
thành công của các Doanh Nghiệp Nhật Bản đó là họ rất chú ý đến cải tiến quản lý, họ chú ý đến
từng chi tiết nhỏ nhất của quá trình sản xuất, hợp lý hoá tối đa nhằm giảm chi phí. Đồng thời họ
cố gắng tạo ra bầu không khí làm việc thoải mái, tin cậy giữa chủ Doanh Nghiệp và công nhân,
chia sẻ thành quả hoạt động của Doanh Nghiệp. Đây là những điều mà DNCNVN cần học tập.
Nhiều khi thành công cỉa Doanh Nghiệp lại bắt đầu từ những việc tưởng như là nhỏ nhặt đó.
Hai là, đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ gắn với năng lực quản lý và trình độ tay
nghề của cán bộ, công nhân viên trong Doanh Nghiệp để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản
phẩm. Đối với nhiều Doanh Nghiệp của ta hiện nay, đây là khâu yếu và còn ở dưới tầm yêu cầu,
do đó cần đặc biệt coi trọng vấn đề đổi mới công nghệ. Sản phẩm, hàng hoá của Việt Nam khi hội
nhập AFTA cần phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Mỗi Doanh Nghiệp cần xuất phát từ nhu cầu thị
trường về số lượng, chủng loại chất lượng sản phẩm và kỹ năng điều kiện của mình mà lựa chọn,
trình độ và phương thức đổi mới công nghệ thích hợp. Về định hướng và trình độ : Đổi mới HĐH
công nghệ truyền thống để nâng cao chất lượng sản phẩm theo hương duy trì, phát triển yếu tố văn
hoá của sản phẩm và đảm bảo sự thích ứng của sản phẩm với yêu cầu thị trường. Trang bị hiện đại
và đồng bộ cho dây truyền sản xuất. Phương thức đổi mới , có thể đổi mới công nghệ bằng các
cách : Liên doanh với nước ngoài để chuyển giao công nghệ hiện đại từ nước ngoài ; Hợp tác gia
24
công sản xuất với nước ngoài sẽ trang bị công nghệ máy móc , thiết bị và trừ dần vào sản phẩm ;
vay vốn ngân sách để mua trang thiết bị hiện đại
Đồng thời phải tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân của Doanh Nghiệp có cơ hội nâng cao
trình độ tay nghề đặc biệt các cán bộ phải được đào tạo cơ bản, nâng cao về kinh tế, quản trị kinh
doanh, về luật quốc tế, về tài chính quốc tế…
Ba là nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng điều này phụ thuộc vào thái độ và cách phục
vụ, mở rộng mạng lưới tiếp thị để tạo thêm giá trị cho sản phẩm
Bốn là phải quản lý chất lượng trước, trong và sau giai đoạn sản xuất . các sản phẩm của
Doanh Nghiệp phải phấn đấu đạt tiêu chuẩn sản phẩm quốc tế, cải tiến chất lượng bao bì và nhất
thiết các sản phẩm phải thực hiện mã vạch. Có lẽ đã đến lúc các Doanh Nghiệp phải nghiên cứu