Tiểu luận
Kinh tế trọng điểm miền Bắc
vững bứơc tới tương lai.
1
MỤC LỤC
A. Những thế mạnh của vùng 1
I. Điều kiện tự nhiên 1
1. Về vị trí địa lý 1
2. Tài nguyên thiên nhiên 1
II. Tài nguyên nhân văn 2
B. Những khó khăn của vùng 3
C. Thực trạng phát triển kinh tế của vùng 5
I. Hệ thống giao thông vận tải 5
1. Thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng 5
2. Phát triển nông nghiệp 10
3. Phát triển công nghiệp 10
D. Những định hướng phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 12
I. Về phát triển công nghiệp 12
II. Về thương mại, dịch vụ, du lịch 13
III. Về nông, lâm, ngư nghiệp 13
IV. Về kết cấu hạ tầng 13
V. Về các đô thị hạt nhân 14
2
A. NHỮNG THẾ MẠNH CỦA VÙNG.
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc nằm ở phía đông bắc đồng bằng sông Hồng và sườn đông
nam vùng đông bắc bắc bộ, tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ có 3 cực là 3 thành phố lớn là Hà Nội, Hải
Phòng, Hạ Long.ở đây Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hoá,khoa học- kỹ thuật của nước ta, có
sân bay quốc tế Nội Bài, Cát Bi cùng cụm cảng Hải Phòng, Cái Lân là cửa mở vào- ra của toàn
vùng Bắc Bộ và có thể của cả khu vực Tây Nam Trung Quốc. Tuyến đường 18 và đường 5 là hai
có rất nhiều tài nguyên văn hóa, lịch sử, những công trình kiến trúc cổ như: đền vua Đinh, Lê, văn
miếu Quốc Tử Giám, các làn điệu dân ca quan họ Bắc Ninh… Nó đã nuôi dưỡng cho người dân
nơi đây truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nứơc, truyền thống cần cù lao động.
Chính vì vậy mà chúng ta không quá ngạc nhiên khi biết trong vùng có số người mù chữ trong
độ tuổ lao động ít nhất cả nước:9.8%( so cả nước là 16.5%), số lao động có kỹ thuật cao nhất
chiếm 14 % số người lao động ( cả nước chỉ có 10% ),số cán bộ có trình độ đại học và cao
đẳngchiếm 27% trong tổng số của cả nứơc( vùng Đông Nam Bộ chỉ có 20.6%).
Nơi đây có mật độ dân số cao, cư dân trong vùng chủ yếu là người Kinh với kinh nghiệm và
truyền thống thâm canh lúa nước, xen gối vụ các loại hoa mầu, các làng thủ công mỹ nghệ hoạt
động vào thời gian nông nhàn. Vùng cũng có tỉ lệ dân tộc ít người thấp nhất của cả nước: khỏang
2.5% so với số dân.
Vào năm 1997 mật độ dân số trung bình là1.148 người/km
2
( đông nhất là Hà Nội 2.268
người/km
2
… Dân cư đông như vậy nên tiềm năng lao động rất lớn.
Mật độ dày đặc phổ biến ở các khu vực gắn với sản xuất thủ công nghiệp( Bát Tràng, Gia Lâm ở
Hà Nội và Hữu Bằng, Thạch Thất ở Hà Tây)… Đặc biệt là ở những khu vực có nghề truyền thống
như Hà Đông…là cơ sở hình thành làng nghề chuyên môn hoá của vùng.
Trong vùng có dân số đạt khoảng 12.600.123 người. Hiện nay tốc độ tăng dân số ở đây quá cao
khoảng 2%. Nguyên nhân có lẽ ở chỗ việc thâm canh lúa nước truyền thống đòi hỏi phải sử dụng
nhiều lao động đã trở thành động lực thúc đẩy dân số phát triển.
Ngòai ra vùng có hai trung tâm kinh tế phát triển lớn nhất cả nước là Hà Nội và Hải Phòng. Hà
Nội là trung tâm chính trị, văn hoá- khoa học kĩ thuật và kinh tế cả nước. Hải Phòng là thành phố
cảng quan trọng nhất miền Bắc, là vị trí tiếp nhận và trao đổi hàng hoá, nguyên liệu của vùng,
cũng như các vùng khác. Ngoài Hà Nội và Hải Phòng, trong vùng có 12 thành phố, thị xã và
khoảng 88 thị trấn. Đây là cơ sở quan trọng để hình thành bộ khung cho việc phát triển kinh tế
theo lãnh thổ.
4
còn tồn tại nhiều khổ đường, trang bị ở những ga đầu mối thiếu và lạc hậu: giao thông nội thị ở
các thành phố lớn còn hạn chế, gây ách tắc giao thông. Hệ thống mạng lưới cấp và đặc biêt là thoát
nước tại nhiều đô thị vẫn còn rất lạc hậu( nhiều nơi thiếu nước, nhất là vào mùa hè, trong khi đó
lượng nước thất thoát là rất lớn); nếu mưa lớn kéo dài là nhiều điểm bị ngập úng. Phần lớn là ở
khu vực nông thôn chưa có hệ thống nước sạch; cơ sở vật chát của nghành giáo dục,y tế, văn hoá
còn thiếu thốn.
Trình độ trang bị kĩ thuật của các cơ sở công nghiệp hiện nay nhìn chung là lác hậu( tỷ lệ
thiết bị có trình độ tương đối khá mới chiếm khoảng 1/3. Sản phẩm làm ra kém chất lượng, khó
cạnh tranh trên thị trường, tình trạng ô nhiễm môi trường là phổ biến.
VKTTĐPĐ hiện đang còn ở điểm xuất phát chưa cao. Sự phát triển của vùng chưa tương xứng
với tiềm năng hiện có. Vì thế tác dụng của nó với cả nước còn khiêm tốn. So với VKTTĐphía nam
thì nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân năm giai đoạn 1991-1997 của vùng này chỉ bằng 83%,
GDP/người chỉ là 5.4%.
VKTTĐPB nằm gần vùng phát triển nhanh của Trung Quốc. Do đó, việc cạnh tranh gặp nhiều
khó khăn và hơn nữa còn bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những tình huống phức tạp trên biển Đông và
biên giới phía Bắc.
Vùng Bắc bộ kể từ Thừa thiên- Huế trở ra có khoảng 36 triệu dân. Hiện nay và trong tương
lai gần, cuộc sống của đại bộ phận dân cư trông ccậy chủ yếu vào sản xuất nông – lâm – ngư
nghiệp. Muốn phát triển nhanh phải có động lực thíc đẩy mà trọng trách này thuộc về VKTTĐPB.
Trong vùng đã có hệ thống giao thông vận tải tương đối phát triển .Cấu trúc nhiêu nghành với
đường sắt, đường ô tô đường sông, đường biển, đường hàng không, đường ống dẫn đã tạo nên
mạng lưới dày kết hợp nhiều trong không gian lãnh thổ của vùng với trung tâm qaun trọng là hà
nội . Trong mạng lưới này có nhiều trục và hướng đường có ý nghĩa chiến lược về kinh tế và quốc
phòng.
Hệ thống đường sắt được quy tụ tại hà nội, trung tâm của vùng với 1000 km , chiếm 1/3 chiều
dàI đường sắt của toàn quốc từ hà nội, đường sắt toả ra nhiều hướng. Quan trọng nhất trong hệ
thống này là tuyyén đường sắt xuyên Việt. Đoạn từ Hà nội đến đồng giao, Hà nội _ Đồng Đăng.
Đoạn Hà Nội -Đồng Giao là 134km qua 17 ga xuyên qua vùng lúa lớn với những thị xã, thành phố
quan trọng như phủ lí, Nam Định, Ninh Bình, một đoạn đường có lưu lượng tàu qua lại từ phía bắc
vào nam và ngược lại, lớn nhất trong hệ thống đường sắt của cả nước.
vùng. Bên cạnh hai hệ thống trên , trong vùng còn hệ thống đường sông, đường biển khá phát
triển.
Dựa trên mạng lưới sông ngòi tương đối dày, nhất là hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình,
trong vùng đã hình thành một hệ thống đường sông có ý nghĩa kinh tế lớn. Các thành phố lớn, từ
duyên hải đến tận trung du, miền núi (Hải Phòng, Nam Định ,Hà Nội, Việt Trì, Bắc Giang Thái
7
Nguyên…) Cho đến các vùng chuyên canh nông nghiệp đều nằm trong mạng lưới đó. Mức nước ở
nhiều cửa sông của nhiều mạng lưới sông Hồng và sông Thái Bình có thể cho phép tàu biển có
trọng tải lớn vào sâu trong đất liền(Cửa Nam Triệu có nhiều chỗ sâu trên 9m, mức nước sâu 2.5m
đến tận Việt Trì và 1.5m đến tận trung lưu còn ở thượng lưu chỉ có 0.6 m ) . Từ đây đã tạo ra các
luồng vận tải hành khách và hàng hoá theo nhiều hưống đến nhiều địa điểm khác nhau.
Các luồng chở khách chính bao gồm:
Hà Nội- Thái Bình : 118 km , trong đó các bến chính: Hưng Yên( cách Hà Nội 75km) Nam Định
(108 Km) Hải Dương- Chũ :93 km với các bến Phả Lại( 28 km), Lục Nam (61 km) và Chũ (93
km). Sơn Tây – Chợ Bờ( Hoà Bình) : 113 km, qua 10 bến với các bến quan trọng Việt Trì, Hoà
Bình, Chợ Bờ. Hải Phòng- Bắc Giang: 107 km với nhiều bến trong đó có các bến Đông Ttriều,
Chí Linh, Phả Lại có ý nghĩa quan trọng nhất
Hải phòng – Cẩm Phả: 90 km (3/5 chiều dài đi ven bờ biển với các bến Quảng Yên , Cát Hải,
Hồng Gai, Cẩm Phả. Hải Phòng-Móng Cái:196km qua các bế Hồng Gai, Cẩm Phả, Mũi Ngọc,
Móng Cái( phần lớn đi theo đường ven biển. Hải Phong- Nam Định :153km, từ sông Cấm sang
sông Đuống về sông Hồng đén bến Hới(Tiên Lữ- Hưng Yên)và phân thành hai luồng : một luồng
qua Hưng Yên đến Dốc Lã(140km), một đường đi Nam Định (153km)
Ngoài ra còn có các luồng chở hàng hoá Hà Nội – Hải Phòng:198 km chuyên chở chủ yếu các
sản phẩm công nghiệp vật liệu xây dựng lương thực thực phẩm.
Hải Phòng –Việt Trì gần 300km chuyên chở vật liệu xây dựng, than phân bón, lương thực
thựcphẩm.
Hải Phòng- Bắc Giang – Thái Nguyên 217 km chuyên chở xi măng sắt thép các sản phẩm công
nghiệp tiêu dùng.
Hải Phòng – Hòn Gai – Gẩm Phả - Móng Cái:196 km, chuyên chở than, xi măng, lương thực thực
phẩm.
cảng mới có thể nhận tàu viễn dương và xây dựng them đường sắt từ Uông Bí xuống Quảng Yên
rồi ra cảng.Điều đó sẽ tạo thêm điều kiện mới để mở rộng mối quan hệ kinh tế quốc tế của vùng.
Với các cảng trên , ĐBSH đã có hệ thống đường biển để tạo ra mối liên kết kinh tế và quốc
phòng giữa các vùng trong nước :Hải Phòng – Bến Thuỷ; Hải Phòng - Đà Nẵng. Hải Phòng – Qui
nhơn, Hải phòng – Sài gòn… hoặc các tuyến đường biển quốc tế: Hải phòng –Hồng công; Hải
phòng –Hà khẩu; Hải phòng –Bắc hải; Hải phòng – Tôkyô; Hải phòng –Vladivôxtôc.
ĐBSH có mạng lưới đường tương đối phát triển, tạo điều kiện thuân lợi cho việc liên hệ với
các vùng trong và ngoài nước. Từ Hà nội có các đường bay nội địa và quốc tế. Đáng lưu ý nhất là
sân bay quốc tế nội bài.
Nằm ở phía bắc thành phố, sân bay quốc tế nội bài có đường bay dài nhất và hệ thống viễn
thông hiện đại nhất trong vùng, có thể tiếp nhận các loại máy bay dân dụng và quân sự hạng nặng.
Đó là sân bay quốc tế duy nhất trong vùng và là một trong ba sân bay quốc tế của cả nước. Ngoài
ra trong vùng còn có sân bay Gia Lâm và sân bay Cát bi ( Hải phòng).
9
2. PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
trong nông nghiệp trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn, chủ yều là trồng cây lương thực: lúa chiếm 70%
diện tích cây lương thực của vùng. Mỗi năm đã sản xuất trên 3.5 triệu tấn lúa, hoa màu chủ yếu là
ngô, khoai lang,. Cây công nghiệp chủ yếu là đay. Ngoài ra còn có đỗ tương, lạc , mía, thuốc lá…
Chăn nuôi tuy có bước phảt triển nhưng vẫn còn mất cân đối so với trồng trọt. Phát triển nhất là
đàn lợn.Đàn trâu chủ yếu làm sức kéo, lấy phân bón nên đàn trâu nhiều hơn đàn bò. Những năm
gần đây, sức kéo cơ giới được tăng lên và chăn nuôi theo hướng cung cấp thực phẩm nên đàn bò
lại nhiều hơn đàn trâu. Đàn gia cầm phát triển nhất là gà công nghiệp và vịt. Chăn nuôi thuỷ sản
phát triển hơn trước. Sản phẩm nông nghiệp xuất sang các vùng khác là 5% và giành cho xuất
khẩu là 10%
3. PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP.
Công nghiệp trung ương, công nghiệp địa phương và các thành phần kinh tế đều được khuyến
khích phát triển nên giá trih sản xuất ngày càng tăng. Ngành công nghiệp có bước phát triển nhất
là công nghiệp cơ khí chế tạo, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến lương thực , thực phẩm và
sản xuất hàng tiêu dùng
nhiễm môi trường, tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt, một phần để thay thế hàng nhập khẩu
và một phần để xuất khẩu. Phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực trên cơ sở tài nguyên và
lợi thế của vùng
Song song với việc phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo, cần tập trung phát triển các
ngành công nghiệp có khả năng bố trí phân tán nhằm giải quyết việc làm, phát triển những nhà
máy có quy mô vừa và nhỏ với công nghệ tiên tiến.
Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp tập trung tại khu vực ngoại vi thành phố lớn, dọc
đường 18, đường 21 và đường 5.
Những ngành công nghiệp trọng điểm cần được ưu tiên phát triển là: kĩ thuật điện, điện tử,
sản xuất thiết bị máy móc, đóng và chữa tàu thuỷ, lắp ráp chế tạo ô tô, xe gắn máy, sản xuất vật
liệu xây dựng, năng lượng, luyện cán thép, chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp dệt, da,
may.
II.VỀ THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ, DU LỊCH:
Thương mại, dịch vụ ,du lịch cần trở thành động lực cho quá trình tăng trưởng của vùng theo
hướng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ. Trước hết đặc biệt coi trọng phát triển có hiệu quả các
trung tâm thương mại hiện đại và tiên tiến. Phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn
với các tuyến du lịch độc đáo để thu hút khách, mở thêm các tuyến du lịch quốc tế nối Hà Nội, HảI
1 1
Phòng, Hạ Long với các nước trên thế giới và trong khu vực. Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết
cấu hạ tầng gắn khai thác với tôn tạo, bảo vệ tài nguyên du lịch, truyền thống văn hoá dân tộc.
Đặc biệt, dịch vụ tài chính ngân hàng và viễn thông phải được hiện đại hoá và đạt trình độ tiên
tiến so với thế giới. Từng bước trở thành trung tâm dịch vụ tàI chính lớn trong nước và khu vực.
III.VỀ NÔNG, LÂM, NGƯ NGHIỆP:
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đưa tỉ trọng chăn nuôI từ 36% hiện nay lên 45% vào năm 2010.
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của các
thành phố lớn. Các khu công nghiệp tập trung, tạo nguồn nguyên liệu cho việc chế biến sản phẩm
cao cấp phục vụ xuất khẩu.
Phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ, vùng rừng ngập mặn ven biển. Tăng cường việc trồng cây
xanh trong các đô thị và các khu công nghiệp.
Đẩy mạnh việc nuôi trồng thuỷ, hải sản nước ngọt, nước lợ. Tăng cường đánh bắt hảI sản xa bờ.
Nội Bài (khoảng 3 000 ha và 14-15 vạn dân vào năm 2010), Hoà Lạc (khoảng 7 000 ha và 30 vạn
dân vào năm 2010), v.v…
Thành phố Hải Phòng tíêp tục giữ vai trò là một trong những đầu mối lớn về giao lưu liên vùng và
cửa ngõ mở ra thế giới của cả nước ở phía Bắc, trên cơ sở phát huy tiềm năng và lợi thế về cảng,
công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và dịch vụ. Không gian thành phố sẽ mở rộng ra vùng ven đô
phía Nam và Đông Nam: hình thành khu phố mới ở phía Bắc sông Cấm gắn với việc xây dựng cầu
Bính (thuộc khu vực Tân Dương, Vũ Yên của huyện Thuỷ Nguyên). Dân số của thành phố vào
năm 2010 khoảng 75 vạn dân, sau đó có thể lên tới trên 1 triệu. Phát triển các điểm vệ tinh ở khu
vực Minh Đức, Vật Cách, Kiến An, Đình Vũ… để cùng với nội thành hình thành một chùm đô thị.
Thành phố Hạ Long trong tương lai có dân số khoảng 30 – 50 vạn người. Đây là thành phố du lịch
hàng đầu của cả nước, gắn với cảng biển lớn nhất ở Bắc Bộ trong tương lai. Việc phát triển công
nghiệp, cảng biển theo các mục tiêu nêu trên.
Phát triển các cụm đô thị Chí Linh – Phả Lại, Đông Triều – Mạo Khê với quy mô mỗi cụm
đô thị khoảng 30 – 35 vạn dân.
VỀ CÁC TUYẾN TRỤC (HÀNH LANG) KINH TẾ:
Tuyến hành lang đường 5 có vai trò quan trọng trong các tuyến hành lang của vùng này nói riêng
và Bắc Bộ nói chung, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Ưu tiên bố trí các ngành công nghiệp với
công nghệ tiên tiến, đòi hỏi sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao động lành nghề, hạn chế việc
sử dụng đất nông nghiệp, nhất là đất lúa. Tập trung sức đầu tư khai thác tiềm năng để phát triển
1 3
công nghiệp chế biến nông sản và công nghiệp nhẹ hướng về xuất khẩu cũng như các dịch vụ, thúc
đẩy sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả khu vực nông thôn dọc tuyến hành lang.
Tuyến hành lang đường 18 (từ sân bay Nội Bài qua thi xã Bắc Ninh, Phả Lại, Hạ Long và kéo dài tới
Móng Cái ) ngày càng có vị trí quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của vùng. Cùng với tuyến
hành lang đường số 5, nó tạo thành bộ khung cho cả Bắc Bộ. Đây là địa bàn có điều kiện phân bố
công nghiệp nhất là công nghiệp nặng, vật liệu xây dựng, năng lượng, làm xoay chuyển hẳn sự
phân bố công nghiệp của toán vùng và kèo theo sự phát triển đô thị . Trong quá trình phát triển
tuyến hành lang này cần xử lí các mối quan hệ giữa công nghiệp nặng với công nghiệp nhẹ, giữa
công nghiệp với du lịch, giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường…
Tuyến hành lang đường 21 sẽ là khu vực bố trí công nghiệp, các trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa
Xoá bỏ dần chế độ phân cấp chủ quản đối với các doanh nghiệp nhà nước, đồng nhất hoá
cấu trúc kinh tế trên địa bàn địa phương, tạo thuận lợi cho điều phối và triển khai thực hiện KH
cho vùng.
Để làm được việc này cần:
-Tăng cường chức năng quản lý nhà nước về kinh tế cho các Bộ, ngành đặc biệt là quản lý các
chiến lược quy hoạch, phát triển ngành, các tiêu chuẩn hoá, quy trình quy phạm kỹ thuật và các
tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của ngành.
-Chấn chỉnh và tăng cường nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm về quản lý hành chính nhà nước
của chính quyền địa phương đối với các doanh nghiệp trên địa bàn.
-Tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của các doanh nghiệp trong quản lý vốn, lao động, các yếu
tố nguồn lực, thực hiện các phương án liên doanh và liên kết sản xuất cũng như nghĩa vụ chấp
hành chính sách, luật pháp, nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước.
Thực hiện thủ tục hành chính đơn giản, thông thoáng: “ Chế độ một cửa” để các nhà đâù
tư nhanh chóng xin giấp phép, đặc biệt là các nhà đâù tư nước ngoài khi đem nguồn vồn FDI đến
kinh doanh tại Việt Nam.
Thị trường tài chính: minh bạch, công khai tài chính của các doanh nghiệp để người dân
có điều kiện tiếp xúc với công ty một cách dễ dàng, từ đó họ sẽ mạnh dạn hơn trong việc mua
chứng khoán của công ty. Đây là một cách huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng hiệu
quả.
1 5
K ế h o ạ c h
q u ố c g i a
K ế h o ạ c h n g à n h
K ế h o ạ c h đ ị a p h ư ơ n g
K ế h o ạ c h v ù n g
- Phát triển nhanh chóng các quỹ tín dụng và tổ chức tài chính trung gian để người dân có thể tiếp
xúc với nguồn vốn khi muống phát triển công việc kinh doanh của mình. Đặc biệt là phát triển
mạnh hơn nữa hệ thống này ở nông thôn và dành cho nông dân. Ngoài ra để tạo niềm tin cho dân
chúng khi đem tiền đi gưỉ, các ngân hàng nên thực hiện “bảo hiểm tiền gửi” cho số tiền trong quỹ
của mình.