Tài liệu Tiểu luận "Các công ty tài chính ở Việt Nam" doc - Pdf 10

Tiểu luận
Các công ty tài chính ở Việt Nam
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU 3
KHÁI NIỆM 3
1. CÔNG TY TÀI CHÍNH LÀ GÌ? 3
2. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 3
D. HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 4
Huy động vốn 4
Huy động tín dụng 4
Mở tài khoản và ngân quỹ 5
Các hoạt động khác 5
Các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động của công ty tài chính 6
THỰC TRẠNG CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM 7
CÔNG TY BẢO HIỂM 8
I.KHÁI NIỆM CÔNG TY BẢO HIỂM 8
II. CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM : 8
III.VAI TRÒ CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM 9
THỰC TRẠNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM 10
CÁC SẢN PHẨM BẢO HIỂM ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG HỆ THÓNG PHÁP LUẬT
VIỆT NAM: 11
LỜI NÓI ĐẦU
Với Việt Nam bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì nhu cầu
vốn đầu tư rất lớn. Xuất phát từ chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 và
những năm tiếp theo nhu cầu vốn đầu tư cho toàn xã hội trong thời kỳ 1996 - 2000 cần
vào khoảng 45 - 50 tỉ USD nhà nước ta đã tích cực trên mọi biện pháp để thu hút vốn
đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua VN chính thức gia
nhập tổ chức WTO thì nhu cầu vốn đầu tư để đổi mới công nghệ máy móc thiết bị
trong đó có cả vốn trung và dài hạn của ngành ngân hàng. Còn bị hạn chế bởi nhiều
nguyên nhân khác trong đó có chính sách đầu tư còn nhiều bất cập. Nhằm khắc phục
tình trạng này việc đưa ra một cơ chế đầu tư hợp lý là điều cấp thiết. Chính vì vậy các

141/2006/NĐ- CP của Chính phủ có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008 thì phải có
mức vốn pháp định là 300 tỷ đồng; công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và
hoạt động sau ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là 500 tỷ đồng. -
Phần vốn pháp định góp bằng tiền phải được gửi vào tài khoản phong toả không được
hưởng lãi mở tại Ngân hàng Nhà nước trước khi hoạt động tối thiểu 30 ngày. Số vốn
này chỉ được giải tỏa sau khi Công ty Tài chính khai trương hoạt động
c.) Thời hạn hoạt động.
- Thời hạn hoạt động của công ty tài chính tối đa là 50 năm. Trường hợp cần gia hạn
thời hạn hoạt động, phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận, nhưng mỗi
lần gia hạn không quá 50.
d.) Cơ hội cạnh tranh và lợi ích mang lại.
- Xét ở khía cạnh nào đó, các công ty tài chính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức độ
thấp. Theo cam kết WTO, chỉ có ngân hàng thương mại nước ngoài và công ty tài
chính nước ngoài mới được thành lập công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính
100% vốn đầu tư nước ngoài. Tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được thành lập công ty
tài chính liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài nhưng phải có tổng tài sản trên
10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn.
- Công ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty.
 Vì thế, rủi ro xảy ra đối với các công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn
hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng. - Khi các quan hệ kinh tế
trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là
không lớn.
D. HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH.
Huy động vốn.
1. Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước.
2. Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác để
huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp
luật hiện hành.
3. Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước, ngoài nước và các tổ chức tài chính

Các hoạt động khác.
* Các nghiệp vụ khác được phép thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện
hành, gồm:
1. Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác.
2. Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng.
3. Tham gia thị trường tiền tệ.
4. Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng.
5. Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh
nghiệp.
6. Được quyền nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức,
cá nhân theo hợp đồng.
7. Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng.
8. Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và
các dịch vụ khác.
** Các nghiệp vụ được các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cho phép
1. Hoạt động ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước xem xét, cấp giấy phép cho Công ty Tài
chính được thực hiện một số hoạt động ngoại hối theo quy định hiện hành về quản lý
ngoại hối.
2. Hoạt động bao thanh toán: Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm ban hành quy định
hướng dẫn việc thực hiện hoạt động bao thanh toán và xem xét cho phép Công ty Tài
chính có đủ điều kiện thực hiện hoạt động này.
Các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động của công ty
tài chính
* Việc trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro
Công ty Tài chính phải dự phòng rủi ro và hạch toán khoản dự phòng rủi ro này vào
chi phí hoạt động. Việc trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro được thực hiện theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước.
** Trường hợp không được cấp tín dụng
Công ty Tài chính không được cấp tín dụng đối với những đối tượng được quy định tại

Tài chính hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì Công ty Tài
chính được tiến hành cho vay hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
4. Các quy định về an toàn khác có liên quan của pháp luật hiện hành
THỰC TRẠNG CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM.
+ Hiện nay tại Việt Nam có khoảng 17 công ty tài chính vì đây là một hình thức tài
chính khá mới mẻ và các công ty này thuộc các tổ chức tín dụng phi ngân hàng nên
các công ty này vẫn chưa phát triển quy mô như các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên
đây là một hình thưc mới mẻ nên hệ thống các CTTC chắc chắn sẽ nhanh chóng bành
trướng trên thị trường Việt.
+ Ta biết tại Việt Nam vào thời điểm này, có vẻ như thị trường chung của các tổ
chức tín dụng phi ngân hàng vẫn đang trong giai đoạn "tự phát" là chính. Số lượng ít,
quy mô nhỏ, cộng thêm không ít rắc rối trong thủ tục hành chính tất cả đã ngăn cản
các CTTC nhỏ lẻ vượt qua được ngân hàng trong các dịch vụ bán lẻ. Thực tế, ở thị
trường nước ta, các CTTC thường vẫn "quen" làm việc với các doanh nghiệp lớn nhiều
hơn. Vô hình trung, đó lại là một rào cản cho chính họ.
Có một nguyên nhân khác nữa ảnh hưởng tới sự phát triển của CTTC, đó là việc
phần lớn các đơn vị này đều trực thuộc các Tập đoàn kinh tế của Nhà nước, hay các
Tổng công ty dưới Bộ. Nhắc tới các CTTC, giới đầu tư vẫn chỉ quen với 2 cái tên
Prudential Vietnam và Công ty Việt - Sài Gòn. Những công ty này làm ăn được tiếng
là "thoáng" và "mạnh", nhưng cũng vì họ không hoàn toàn giống như những CTTC
còn lại, hầu hết đều thuộc Nhà nước quản lý.
+ Trên thị trường nước ta, phần lớn các CTTC đều nghiêng nhiều về nhiệm vụ quản lý
và sử dụng nguồn tài chính tiền tệ thuộc "ngành dọc". Việc họ mở rộng cung cấp dịch
vụ tài chính cho "người ngoài" vẫn còn rất hạn chế.
+ Theo một thống kê không chính thức mới đây, tổng nguồn vốn huy động từ các tổ
chức phi tài chính, tính đến hết tháng 8/2007 (từ chủ yếu 9 CTTC lớn nhất nước), chỉ
đạt xấp xỉ trên 3 nghìn tỉ đồng. Nhưng điều đáng nói là tổng dư nợ cho vay của khối
tín dụng này lại đạt trên 10 nghìn tỉ. Khoản chênh lệch đó các CTTC lại đi vay từ
ngân hàng.
+ Như đã nêu trên, dù các CTTC lớn, hay nhỏ, họ vẫn thường tỏ ra rất khó khăn trong

Một nguyên tắc quản lý quan trọng cho những công ty bảo hiểm là thực hiện những
cuộc điều tra ngăn ngừa gian lận, để chỉ những người khiếu nại có căn cứ mới nhận
được bồi thường.
5.Huỷ bỏ bảo hiểm:
Sẵn sàng huỷ bỏ các hợp đồng là 1 công cụ quản lý bảo hiểm khác. Các công ty bảo
hiểm có thể kiềm chế rủi ro đạo đức nếu họ đe doạ huỷ bỏ 1 hợp đồng khi người nào
đó đang bảo hiểm có những hoạt động mà dễ khiếu nại đòi bồi thường.
6.Khoản khấu trừ:
KKT là 1 khoản tiền cố định được khấu trừ từ tổn thất của người được bảo hiểm khi
được thanh toán.Như thế, 1 khoản khấu trừ khiến cho người được bảo hiểm hành động
phù hợp hơn với những gì có lợi cho công ty mà người đó mua bảo hiểm; tức là, rủi ro
đạo đức được giảm xuống. Do rủi ro đạo đức được giảm, nên chi phí bảo hiểm của
công ty đã hạ thấp hơn cả so với mức phải bồi thường là nhờ tác dụng của khoản khấu
trừ.
7. Đồng bảo hiểm:
Khi 1 người được bảo hiểm cùng gánh chịu 1 tỷ lệ tổn thất với công ty bảo hiểm, sự
dàn xếp như thế được gọi la đồng bảo hiểm. Đồng bảo hiểm là 1 công cụ quản lí khác
rất hữu ích cho các công ty bảo hiểm.
8. Những giới hạn của số tiền bảo hiểm:
Một nguyên tắc quan trọng khác của việc quản lý bảo hiểm là có những giới hạn đối
với số tiền của bảo hiểm được cung cấp, mặc dù 1 khách hàng sẵn lòng được thanh
toán để có thêm tiền bồi thường. Các công ty bảo hiểm phải luôn luôn đảm bảo rằng
tiền bồi thường bảo hiểm của hộ không cao đến mức để rủi ro đạo đức dẫn đến các tổn
thất lớn.
III.VAI TRÒ CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM
- Khía cạnh kinh tế - xã hội:
Rủi ro tổn thất phát sinh làm thiệt hại đến các đối tượng: của cải vật chất do con người tạo ra
và chính bản thân con người, làm gián đoạn quá trình sinh hoạt của dân cư ngưng trệ hoạt
động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. nói chung nó làm gián đoạn và giảm hiệu quả của
quá trình tái sản xuất XH.

một quốc gia. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nếu các hoạt động kinh doanh bảo hiểm
không rõ ràng và minh bạch, có thể tạo ra những tác động xấu, ảnh hưởng không tốt đến nền
kinh tế (mà ví dụ điển hình là sự phá sản của ông lớn AIG hiện nay)
Sau ngân hàng thương mại thì các công ty bảo hiểm cũng được nhắc tới như những trung gian
tài chính có khả năng huy động lượng vốn nhàn rỗi khổng lồ từ dân cư từ đó cung cấp vốn
cho nền kinh tế đồng thời các công ty bảo hiểm cũng có thể được coi như những tổ chức đầu
tư chuyên nghiệp, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn .thị trường tài chính tiền tệ hoạt
động ổn định và có hiệu quả.

THỰC TRẠNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM
Qúa trình hình thành và phát triển:
Ở Việt Nam, bảo hiểm ở Việt Nam ra đời tự bao giờ? Không có một tài liệu nào
chứng minh một cách chính xác mà chỉ phỏng đoán vào những năm 1880 các Hội bảo
hiểm ngoại quốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thuỵ Sỹ, Hoa Kỳ,…. đã để ý đến
Đông Dương.
Năm 1926, chi nhánh đầu tiên là của công ty Franco- Asietique.
Đến năm 1929 mới có công ty Việt Nam đặt trụ sở tại Sài Gòn, đó là Việt Nam Bảo
Hiểm công ty, nhưng chỉ hoạt động về bảo hiểm xe ô tô.
Từ năm 1952 về sau, hoạt động bảo hiểm mới được mở rộng dưới nhiều hình thức
phong phú với sự hoạt động của nhiều công ty Bảo Hiểm trong nước và ngoại quốc.
Trước năm 1986
Hoạt động bảo hiểm của nước ta ít nhiều cũng đã có những bước phát triển ngay từ
thời kỳ thực dân Pháp. Cho tới khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt,
hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở miền Nam khá phát triển dưới chế độ nguỵ quyền.
Miền Nam trước năm 1975: Có hơn 52 công ty trong và ngoài nước đã triển khai các
loại hình nghiệp vụ khá đa dạng như bảo hiểm hoả hoạn, bảo hiểm chuyên chở, bảo
hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn lao động…Để đảm bảo cho
hoạt động kinh doanh được trôi chảy, cạnh tranh lành mạnh, các công ty Bảo Hiểm đã
sớm thành lập hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm của mình. Hiệp hội có chức năng thông
tin tư vấn, đào tạo, tạo ra một môi trường hợp tác. Việc quản lý nhà Nước đối với hoạt

phần, công ty 100% vốn nước ngoài… sẽ có ý nghĩa rất lớn với quá trình phát triển
bảo hiểm nước ta.
Ngày 18/12/1993 nghị định 100 CP về hoạt đọng kinh doanh bảo hiểm đã được
chính phủ ban hành mở ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Nó phá
vỡ thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm với
nhiều hình thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế. Mặc dù vậy, phải đến sau
năm 1995 một loạt các công ty kinh doanh bảo hiểm mới ra đời: Bảo Minh, VINARE,
PVI, PJICO… và các công ty liên doanh bảo hiểm như: UIC,VIA… Ngoài ra, với
khoản 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài và hơn 70000 đại
lý bảo hiểm, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phát triển ngày càng một sôi động.
Việc mở cửa thị trường bảo hiểm cũng như sự xuất hiện của các công ty bảo
hiểm mới đã tạ điều kiện cho bảo hiểm phát triển mạnh mẽ trong một môi truờng cạnh
tranh quyết liệt. Các công ty liên tục hoàn thiện những sản phẩm cũ đồng thời nghên
cứu và giới thiệu những loại hình nghiệp vụ mới đa dạng và hấp dẫn. Người tham gia
bảo hiểm có thể tự do lựa chọn người bảo hiểm, loại hình dich vụ bảo hiểm với mức
phí cạnh tranh nhất. Trong tương lai nhu cầu bảo hiểm sẽ càng đa dạng hơn và số
lượng, chủng loại sản phẩm chắc chắn sẽ còn được mở rộng. Không chỉ có vậy để
nâng cao tính cạnh trang công tác chăm sóc khách hàng ngày càng được chú trọng.
Bảo hiểm Vịêt Nam được đánh giá là một thị trường vẫn đang rất giàu tiềm năng phát
triển.
CÁC SẢN PHẨM BẢO HIỂM ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG HỆ
THÓNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM:
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới
ngày 11/1/2007,các quy định về mở cửa thị trường bảo hiểm quy định tại hiệp định
thương mại Việt Nam – Hoa kỳ đã được thực hiện gần như toàn diện, hệ thống pháp
luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại VIệt Nam đã được xây dựng, hoàn
thiện và áp dụng hiệu quả trong những năm gần đây.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay bên cạnh luật Kinh doanh bảo hiểm, các văn bản
hướng dẫn thi hành luật Kinh doanh bảo hiểm thì tồn tại hàng loạt các quy định khác
cũng tham gia vào việc điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động kinh doanh bảo

với người thứ 3 ở mặt đất.
Bảo hiểm xe cơ giới:
15. Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
Bảo hiểm du lịch:
16.Doanh nghiệp du lịch kinh doanh lữ hành quốc tế phải mua bảo hiểm du lịch cho khách du
lịch Việt Nam ra nước ngoài trong thời gian thực hiện chương trình du lịch


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status