Luận văn tốt nghiệp: "Một số giải
pháp nhằm hoàn thiện và phát triển
các công ty chứng khoán ở Việt Nam
giai đoạn hiện nay"
1
MỞ ĐẦU
Nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi một khối lượng vốn khổng
lồ, nhất là vốn dài hạn, mà trong giai đoạn hiện nay, thị trường tài chính mới
chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu về vốn ngắn hạn cho nền kinh tế.
Xuất phát từ đòi hỏi ấy, thị trường chứng khoán, với tư cách là kênh huy
vốn quan trọng cho công nghiệp hoá, hi
ện đại hoá trở thành một nhu cầu cấp
thiết, khách quan trong điều kiện hiện nay.
Tuy nhiên thị trường chứng khoán muốn hoạt động hiệu quả cần phải có
hàng hoá cho nó (cổ phiếu, trái phiếu ) và đồng thời phải có các công ty
chứng khoán chuyên mua bán, giao dịch các loại hàng hoá đó.
Công ty chứng khoán sẽ là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công
ty chứng khoán mà một l
cán bộ, nhân viên Vụ quản lý kinh doanh chứng khoán - UBCKNN và tất cả
các bạn đọc để các bài viết sau của em được tốt hơn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2003
Sinh viên TH: Lê Thanh Thái
3
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán.
1.1.1. Quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường tài
chính, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong
xã hội tập trung thành những nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế và Nhà nước để phát triển sả
n xuất, tăng trưởng
kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán chứng
khoán và các giấy ghi nợ trung hoặc dài hạn thường từ 01 năm trở lên. Công
cụ trao đổi trên thị trường chứng khoán rất phong phú. Vậy thị trường chứng
khoán là nơi mua bán các chứng khoán đã được phát hành và đang lưu hành
trên thị trường.
Hiện nay tồn tại hai quan điểm đố
i lập nhau:
Quan điểm một cho rằng: thị trường vốn và thị trường chứng khoán là khác
nhau vì công cụ của thị trường chứng khoán ngoài các chứng khoán dài hạn
còn có các giấy ghi nợ ngắn hạn (các tín phiếu kho bạc nhà nước có thời hạn
03 tháng hoặc 06 tháng).
Quan điểm thứ hai cho rằng: thị trường vốn và thị trường chứng khoán chỉ
khoán.
1.1.3. Các thành viên của thị trường chứng khoán.
- Người đầu tư chứng khoán:
Là những người mua bán chứng khoán gồm
có: các doanh nghiệp, các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí và lực lượng rộng
rãi nhất là tầng lớp dân chúng đầu tư vào.
- Người kinh doanh chứng khoán:
Là người được pháp luật cho phép thực
hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, bao gồm môi giới chứng khoán
(nhận mua hộ và bán hộ để hưởng hoa hồng), bảo lãnh phát hành chứng
5
khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, mua và
bán chứng khoán cho chính mình để hưởng chênh lệch giá.
- Người tổ chức thị trường: Là người tạo ra địa điểm và phương tiện để
phục vụ cho việc mua bán chứng khoán hay còn gọi là Sở giao dịch chứng
khoán.
- Người quản lý và giám sát các hoạt động của thị trường chứng khoán:
Tức là Nhà nước, người b
ảo đảm cho thị trường hoạt động theo đúng các quy
định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư, bảo đảm việc mua
bán chứng khoán được công bằng, công khai, tránh những tình trạng tiêu cực
có thể xảy ra.
Ngoài các đối tượng trên ra, còn có các đối tượng tương hỗ quan trọng
khác như: Các tổ chức thanh toán bù trừ và lưu giữ chứng khoán, tổ chức dịch
vụ sang tên và đăng ký l
ại quyền sở hữu chứng khoán, trung tâm đào tạo
người hành nghề chứng khoán, hiệp hội các nhà đầu tư, hiệp hội các nhà kinh
doanh chứng khoán.
Trong các đối tượng đó thì người kinh doanh chứng khoán (trong đó có các
Do công ty chứng khoán là một hình thức định chế đặc biệt, có hoạt động
nghiệp vụ đặc thù nên về mặt tổ chức nó có nhiều điểm khác biệt so với các
công ty thông thường. Các công ty chứng khoán ở các nước khác nhau, thậm
chí trong cùng một quốc gia c
ũng có tổ chức rất khác nhau tuỳ thuộc vào tính
chất công việc của mỗi công ty và mức độ phát triển của thị trường. Tuy vậy,
chúng vẫn có một số đặc trưng cơ bản:
a. Chuyên môn hoá và phân cấp quản lí.
Công ty chứng khoán có trình độ chuyên môn hoá rất cao ở từng phòng
ban, bộ phận, đơn vị kinh doanh nhỏ.
Do chuyên môn hoá cao nên các bộ phận có quyền tự quyết.
Một số bộ phận trong công ty có thể không phụ thu
ộc lẫn nhau (chẳng hạn
bộ phận môi giới và tự doanh hay bảo lãnh phát hành )
b. Nhân tố con người.
7
Trong công ty chứng khoán, quan hệ với khác hàng giữ vai trò rất quan
trọng, đòi hỏi nhân tố con người phải luôn được quan tâm, chú trọng.
Khác với các công ty sản xuất, ở công ty chứng khoán việc thăng tiến cất
nhắc lên vị trí cao hơn nhiều khi không quan trọng. Các chức vụ quản lí hay
giám đốc của công ty nhiều khi có thể nhận được ít thù lao hơn so với một số
nhân viên cấp dưới.
c. Ảnh hưởng của thị tr
ường tài chính.
Thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng có ảnh
hưởng lớn tới sản phẩm, dịch vụ, khả năng thu lợi nhuận của công ty chứng
khoán. Thị trường chứng khoán càng phát triển thì công cụ tài chính càng đa
dạng, hàng hoá dịch vụ phong phú, qua đó công ty chứng khoán có thể mở
rộng hoạt động thu nhiều lợi nhuận.
bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh.
Nhờ những ưu thế đó, hi
ện nay rất nhiều công ty chứng khoán hoạt động
dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
c. Công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu là các cổ
đông. Đại hội cổ đông có quyền bầu ra hội đồng quản trị. Hội đồng này sẽ
định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ
quản lý khác để điều hành công ty.
Gi
ấy chứng nhận cổ phiếu không thể hiện món nợ của công ty, mà thể hiện
quyền lợi của chủ sở hữu đối với các tài sản của công ty.
* Ưu điểm của công ty cổ phần:
+ Nó tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông hoặc cổ
đông nghỉ hưu hay qua đời.
+ Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chị
u được giới hạn ở mức nhất
định. Nếu công ty thua lỗ, phá sản, cổ đông chỉ chịu thiệt hại ở mức vốn đã
đóng góp.
9
+ Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ
phiếu.
+ Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán, nếu tổ chức theo hình thức công
ty cổ phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảng cáo
miễn phí.
+ Hình thức tổ chức quản lí, chế độ báo cáo và thông tin tốt hơn hai loại
hình hợp danh và trách nhiệm hữu hạn.
Do những ưu đ
iểm này, ngày nay chủ yếu các công ty chứng khoán tồn tại
Quá trình môi giới của công ty chứng khoán thường qua các bước chủ yếu
thể hiện ở sơ đồ sau:
Bước 1: Mở tài khoản (1).
Bước 2: Nhận lệnh (2).
Bước 3: Chuyển lệnh tới thị trường phù hợp để thực hiện lệnh (3).
Bước 4: Xác nhận kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng (4).
Bước 5: Thanh toán và giao hàng.
Bước 1:
Mở tài khoản.
Công ty chứng khoán yêu cầu khách hàng mở tài khoản giao dịch (tài
khoản tiền mặt hoặc tài khoản kí quĩ). Tài khoản kí quĩ dùng cho giao dịch kí
quĩ còn tài khoản giao dịch dùng cho các giao dịch thông thường.
Bước 2
: Nhận đơn đặt hàng.
Khách hàng ra lệnh mua, bán cho công ty chứng khoán dưới nhiều hình
thức: Điện thoại, telex, phiếu lệnh
Khách hàng
Công ty chứng khoán
(
4
)
(1)
(2)
(3) (5)
11
Nếu là lệnh bán, công ty chứng khoán sẽ yêu cầu khách hàng xuất trình số
chứng khoán muốn bán trước khi thực hiện đơn hàng hoặc đề nghị phải kí
quĩ một phần số chứng khoán cần bán theo một tỉ lệ do uỷ ban chứng khoán
12
Việc bù trừ các kết quả giao dịch kết thúc bằng việc in ra các chứng từ
thanh toán. Chứng từ này được gửi cho công ty chứng khoán. Nó là cơ sở để
thực hiện thanh toán và giao chứng khoán.
Bước 6
: Thanh toán và giao hàng.
Đến ngày thanh toán, người mua sẽ giao tiền thông qua ngân hàng chỉ định
thanh toán; người bán sẽ giao chứng khoán thông qua hình thức chuyển khoản
tại trung tâm lưu kí chứng khoán. Sau khi hoàn tất các thủ tục tại Sở, công ty
sẽ thanh toán tiền và chứng khoán cho khách hàng thông qua hệ thống tài
khoản khách hàng mở tại công ty chứng khoán.
Phí môi giới.
Hoạt động với tư cách là nhà đại lí nên công ty chứng khoán được hưởng
hoa hồng môi giới. Số tiền hoa hồng thường được tính phần tră
m trên tổng giá
trị một giao dịch. Số tiền mua bán càng nhỏ thì số phần trăm hoa hồng càng
lớn.
Một số nước hiện nay duy trì tỉ lệ hoa hồng cố định như Thái Lan,
Inđônêxia, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan. Theo đó mức hoa hồng cao, thấp
tuỳ thuộc vào giá trị hợp đồng.
Thông thường, các công ty chứng khoán đều có chế độ hoa hồng của mình
và thỉnh thoảng lại điề
u chỉnh cho thích hợp. Các công ty nhỏ thường phải
chờ xem các hãng lớn cho biết tỉ suất hoa hồng rồi mới công bố tỉ suất của
mình.
Thuế giao dịch chứng khoán.
Các công ty chứng khoán phải nộp thuế đối với hoạt động kinh doanh của
mình. Doanh thu chịu thuế tuỳ thuộc vào các nghiệp vụ mà công ty tiến hành.
Đối với hoạt động môi giới, bảo lãnh, thuế được tính trên mức hoa hồng
hay chiết kh
huỷ bỏ. Ví dụ, một công ty cố gắng bán toàn bộ 100.000.000$ cổ phiếu nó
yêu cầu công ty chứng khoán phải bán tối thiểu 60% giá trị của đợt phát
hành, tức là công ty phải nhận được lượng tiền bán tối thiểu là 60.000.000 $
nếu không toàn bộ đợt phát hành sẽ bị loại bỏ.
Một số khâu quan trọng trong quy trình bảo lãnh .
14
+ Lập nghiệp đoàn bảo lãnh.
Khi số số chứng khoán phát hành vượt quá khả năng bảo lãnh của một công
ty chứng khoán thì một nghiệp đoàn bao gồm một số công ty chứng khoán và
các tổ chức tài chính sẽ được thành lập.
Nghiệp đoàn này có ý nghĩa phân tán rủi ro trong hình thức bảo lãnh chắc
chắn. Trong nghiệp đoàn có một công ty bảo lãnh chính, thường là người khởi
đầu cho cuộc giao dịch này, đứng ra ký kết và giải quyết các giấy tờ với công
ty phát hành. Nó quy
ết định công ty chứng khoán nào được mời tham gia
nghiệp đoàn và sẽ trả chi phí bảo lãnh cho các công ty khác trong nghiệp
đoàn.
Nhóm bán:
Để việc bán nhanh hơn, nghiệp đoàn bảo lãnh có thể tổ chức thêm một
"nhóm bán". Nhóm này bao gồm một số công ty không nằm trong nghiệp
đoàn bảo lãnh, họ chỉ giúp bán chứng khoán mà không phải chịu trách nhiệm
về số chứng khoán không bán được. Do vậy, thù lao cho họ ít hơn các thành
viên trong nghiệp đoàn bảo lãnh.
+ Phân tích, định giá chứng khoán.
Định giá cho cổ phiếu rất phức tạp. Ở đây bắt gặp vấn đề nan giải: một mặt,
người phát hành cổ phiếu muốn nhận được càng nhiều tiền càng tốt từ đợt
phát hành này; mặt khác người quản lý muốn định giá sao cho có thể bán
Sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết như phân phát bản cáo bạch và phiếu
đăng kí mua chứng khoán và đợi khi đăng kí phát hành chứng khoán có hiệu
lực, công ty chứng khoán hoặc nghiệp đoàn bảo lãnh sẽ tiến hành phân phối
chứng khoán.
Phân phối chứng khoán ra công chúng có thể được thực hiện dưới các hình
thức:
Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể (như các quĩ đầu tư, quĩ bảo hiểm,
quĩ
hưu trí ).
16
Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư có quan hệ
với tổ chức phát hành.
Bán ra công chúng.
+ Thanh toán
Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phải giao tiền
bán chứng khoán cho công ty phát hành. Số tiền thanh toán là giá trị chứng
khoán phát hành trừ đi thù lao cho công ty bảo lãnh.
Thù lao cho công ty bảo lãnh có thể là khoản phí (đối với hình thức bảo
lãnh chắc chắn) hoặc hoa hồng (đối với các hình thức bảo lãnh khác).
Mức phí bảo lãnh tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát hành, tình hình thị
trường và do hai bên thoả thuận. Nếu là phát hành lần đầu thì phí bảo lãnh cao
hơn l
ần phát hành bổ sung. Đối với trái phiếu phí và hoa hồng còn tuỳ thuộc
vào lãi suất trái phiếu (lãi suất cao sẽ dễ bán, chi phi sẽ thấp và ngược lại).
Hoa hồng: là tỉ lệ (%) cố định đối với từng loại chứng khoán nhất định.
Việc tính toán và phân bổ hoa hồng do các thành viên trong nghiệp đoàn
thương lượng với nhau.
chế
tài chính đặc biệt mới được phép cấp vốn vay. Một số nước còn qui định
không được phép cho vay kí quỹ.
Cho vay kí quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho
khách hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó
làm vật thế chấp cho khoản vay.
Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải dàn xếp với ngân
hàng và phải chịu trách nhiệm về khoản vay đó.
Trong tài khoản kí quỹ, tài sả
n thực của khách hàng chỉ chiếm một tỉ lệ
nhất định (50%-60% tuỳ từng nước), số còn lại là tiền vay của công ty chứng
khoán. Đến hạn, khách hàng phải trả vốn vay và lãi cho công ty chứng
khoán. Nếu không trả được nợ, công ty chứng khoán sẽ bán chứng khoán trên
tài sản kí quỹ để thu hồi khoản vay.
Rủi ro đối với công ty chứng khoán xảy ra khi chứng khoán thế chấp giảm
giá và giá trị của chúng thấp h
ơn giá trị khoản vay kí quỹ. Vì vậy, công ty
chứng khoán không nên tập trung quá mức vào một khách hàng hay một loại
chứng khoán.
18
b. Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty.
Đây là việc cung cấp các thông tin về đối tượng chứng khoán, thời hạn, các
vấn đề mang tính quy luật của hoạt động đầu tư chứng khoán Nó đòi hỏi
nhiều kiến thức, chuyên môn kỹ năng và yêu cầu vốn không cao. Tính trung
thực của cá nhân hay công ty tư vấn có ý nghĩa quan trọng.
c. Nghiệp vụ quản lí danh mục đầu tư.
Đây là m
ột dạng tư vấn đầu tư nhưng ở mức độ cao hơn vì khách hàng uỷ
thác cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo những
1.2.4.1. Nguyên tắc đạo đức.
Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ả
nh hưởng nhiều tới lợi ích
công chúng và biến động của thị trường tài chính. Vì vậy, luật pháp các nước
qui định rất chặt chẽ đối với hoạt động của công ty chứng khoán. Nhìn chung
có một số nguyên tắc cơ bản sau:
+ Công ty chứng khoán có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, chỉ được tiết
lộ thông tin khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
+ Công ty chứng khoán phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng, không
được ti
ến hành bất cứ hoạt động lừa đảo phi pháp nào.
+ Công ty chứng khoán không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn
tài chính để kinh doanh.
+ Công ty chứng khoán phải tách biệt tài sản của mình với tài sản của
khách hàng và tài sản của khách hàng với nhau; không được dùng tài sản của
khách hàng làm vật thế chấp, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng
văn bản.
+ Công ty chứng khoán khi thực hiện tư vấn phải cung cấp đầy đủ thông tin
cho khách hàng, đảm bảo thông tin chính xác, tin cậy.
+ Công ty chứng khoán không được nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài
các khoản thù lao thông thường cho hoạt động dịch vụ của mình.
20
+ Ở nhiều nước, công ty chứng khoán phải đóng tiền vào quĩ bảo vệ nhà
đầu tư chứng khoán để bảo vệ lợi ích cho khách hàng trong trường hợp công
ty chứng khoán bị mất khả năng thanh toán.
+ Ngoài ra, các nước còn có qui định chặt chẽ nhằm chống thao túng thị
trường; cấm mua bán khớp lệnh giả tạo với mục đích tạo ra trạng thái "tích
cực bề ngoài"; cấm đưa ra lời
đồn đại, xúi dục hoặc lừa đảo trong giao dịch
tự doanh thường phải duy trì một t
ỉ lệ dự trữ trên mức lợi nhuận ròng, còn
các công ty môi giới duy trì tỉ lệ dự trữ tính trên tổng doanh thu với mục đích
bù đắp các khoản lỗ kinh doanh trong năm đó.
* Quản lí quĩ bổ sung vốn điều lệ: công ty chứng khoán phải trích tỉ lệ
phần trăm lãi ròng hàng năm để lập quĩ bổ sung vốn điều lệ cho tới khi đạt
một tỉ lệ ph
ần trăm nào đó của vốn điều lệ. Quĩ này dùng bù đắp những thâm
hụt trong tương lai.
* Quản lí hạn mức kinh doanh: hạn mức kinh doanh được qui định khác
nhau tuỳ từng quốc gia. Thông thường nó tuân theo một số qui định sau:
Hạn chế mua sắm tài sản cố định theo tỉ lệ % trên vốn điều lệ.
Đặt ra hạn mức đầu tư vào mỗi loại chứng khoán.
Qui đị
nh hạn mức đầu tư vào một số tài sản rủi ro cao.
d. Chế độ báo cáo.
Các thông tin tài chính được thể hiện qua các báo cáo. Các báo cáo này,
theo qui định một số nước, phải nộp cho Uỷ ban chứng khoán (hoặc cơ quan
quản lý tương đương) và một tổ chức tự quản làm cơ quan kiểm tra các báo
cáo tài chính thường niên đã được kiểm toán. Báo cáo tài chính được kiểm
toán bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán.
- Báo cáo lỗ lãi.
- Báo cáo lư
u chuyển tiền tệ.
22
Ngoài báo cáo thường niên, công ty chứng khoán phải gửi một báo cáo
quản lý toàn diện về tình hình tài chính theo quý như quy định của Uỷ ban
chứng khoán.
và tính đương nhiên. Tính điều kiện có nghĩa là giấy phép thực hiện hoạt động
này có thể lại chính là điều kiện xin cấp giấy phép hoạt động kia. Chẳng hạn
muốn thực hiện hoạt động bảo lãnh thì bắt buộc phải có giấy phép hoạt động
tự doanh. Tính đương nhiên có nghĩa là được th
ực hiện hoạt động này thì
đương nhiên thực hiện hoạt động kia. Ví dụ: nếu đã có giấy phép quản lí quĩ
đầu tư thì đương nhiên được thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư.
Riêng đối với quản lí quĩ đầu tư ở một số nước trên thế giới có những điểm
khác biệt. Chẳng hạn một số nước như Thái Lan, Hàn Quố
c cho phép công ty
chứng khoán thành lập và quả lí quĩ đầu tư trong khi điều này không được
Inđônêxia chấp nhận.
Như vậy, điều kiện thành lập công ty chứng khoán có sự khác nhau ở các
nước trên thế giới. Tùy theo đặc thù mỗi quốc gia, các công ty chứng khoán
cũng được tổ chức theo nhiều mô hình khác nhau.
1.3. Công ty chứng khoán ở một số nước trên thế giới.
Trên thế giới có ba mô hình công ty chứng khoán cơ bản:
Thứ nh
ất: là mô hình ngân hàng đa năng toàn phần. Trong mô hình này
không có sự tách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh
chứng khoán. Các ngân hàng thương mại cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân
hàng, chứng khoán và bảo hiểm trong một pháp nhân duy nhất. Đây là
phương thức hoạt động ngân hàng đa năng cổ truyền mà điển hình được áp
dụng ở CHLB Đức, Hà Lan, Thuỵ Sỹ, các nước Bắc Âu.
Thứ hai: là mô hình đa năng mộ
t phần (đa năng kiểu Anh), được áp dụng ở
Anh và một số nước có quan hệ gần gũi với Anh như Canada, Australia. Ngân
hàng khi tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty con, có tư
cách pháp nhân độc lập. Các công ty con ít khi nắm giữ cổ phần của ngân
hàng và thường không có sự kết hợp giữa các công ty bảo hiểm và ngân hàng.
tiêu chuẩn về vốn. Mức vốn yêu cầu cho hoạt động kinh doanh được xác định
bằng sự kết hợp giữa yêu cầu về vốn của pháp luật và mức vốn cần thiết của
công ty. Ở
Mỹ không có sự phân biệt trong qui định giữa công ty chứng