Tài liệu Chế độ kế toán Hành chính sự nghiệp & chuẩn mực kế toán công quốc tế: - Pdf 10

Chế độ kế toán Hành chính sự nghiệp & chuẩn mực kế toán công quốc
tế: Khoảng cách và những việc cần làm
Hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) công quốc tế do Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFA)
ban hành làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC) ở các đơn vị trực thuộc
khu vực công. Theo đó, BCTC của từng đơn vị trong lĩnh vực công và BCTC hợp nhất của
Chính phủ đối với các đơn vị thuộc lĩnh vực công đều phải lập và trình bày theo một khuôn mẫu
thống nhẩt cho phù hợp với hệ thống CMKT công quốc tế. Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp
(HCSN) Việt Nam được xây dựng trên cơ sở Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) , Luật Kế toán
và các chính sách tài chính áp dụng cho đơn vị HCSN vẫn còn nhiều điểm khác biệt so với hệ
thống CMKT công quốc tế.
Thứ nhất , về hệ thống BCTC. Theo CMKT công quốc tế (IPSAS ) , các đơn vị hoạt động
trong lĩnh vực công hàng năm phải lập BCTC là những đơn vị kinh tế có thể sử dụng kinh phí
NSNN nhưng chịu sự kiểm soát của Chính phủ hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.Các đơn
vị kinh tế thuộc lĩnh vực công phải lập BCTC theo IPSAS là các đơn vị hoạt động theo nguyên
tắc tự cân đối thu chi . Chênh lệch gữa các khoản thu ( bao gồm cả kinh phí NS cấp ) đã sử dụng
trong quá trình hoạt động là thặng dư hoặc thâm hụt thuần (doanh nghiệp gọi là lãi, lỗ) của đơn
vị trong kỳ kế toán . Theo đó , IPSAS quy định các đơn vị thuộc lĩnh vực công hàng năm phải
lập 4 BCTC để công khai là : Bảng cân đối kế toán để phản ánh tình hình tài chính ; Báo cáo kết
quả hoạt động để phản ánh quá trình hoạt động và xác định thặng dư hoặc thâm hụt của đơn vị
trong kỳ kế toán;Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ; Thuyết minh BCTC.
Còn ở Việt Nam, chế độ kế toán HCSN quy định , các đơn vị HCSN ( là đơn vị thụ
hưởng NSNN chứ chưa phải là đơn vị kinh tế theo IPSAS và các đơn vị HCSN khác) phải lập 6
báo cáo. Đó là, bảng cân đối tài khoản (mẫu B01-H) thực chất là một phương pháp kiểm tra của
kế toán.Bảng cân đối tài khoản không phản ánh được tình hình tài chính , thực trạng , tài sản ,
nguồn vốn của đơn vị như đối với bảng cân đối kế toán.Do vậy, người sử dụng thông tin không
thấy được tài sản và nợ phải trả theo hai loại ngắn hạn và dài hạn cũng như cơ cấu tài sản , nguồn
vốn (phân theo 2 loại nợ phải trả và VCSH )của đơn vị.Báo cáo “Tổng hợp tình hình kinh phí và
quyết toán kinh phí đã sử dụng “ (Mẫu B02-H ) ; “Báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt
động SXKD”(Mẫu B03-H ) đế phản ánh tình hình hoạt động của đơn vị HCSN.
Theo qui định tại IPSAS , đơn vị thuộc lĩnh vực công phải lập báo cáo kết quả hoạt động
để phản ánh thu, chi phát sinh trong quá trình hoạt động để xác định thặng dư hoặc thâm hụt

sách của Quốc hội .BCTC của đơn vị HCSN hiện nay chưa phải là BCTC của 1 đơn vị kinh tế bị
kiểm soát , phục vụ cho việc hợp nhất BCTC của Chính phủ để công khai nhằm cung cấp đầy đủ
thông tin giúp cho tất cả công dân có thể kiểm tra , giám sát , đánh giá năng lực tài chính và kết
quả hoạt động của quốc gia trong từng năm tài chính.
Trong hệ thống BCTC của đơn vị HCSN hiện nay chưa có Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
.Do đó , để thực hiện được IPSAS thì việc đầu tiên bắt buộc phải tiến hành , đó là các quy định
về quản lý ngân sách và tài chính công phải được nghiên cứu , xem xét để ban hành cho phù hợp
với thong lệ chung của các nước. Tiếp đó , Việt Nam cần phải nghiên cứu nắm vững IPSAS ,
học tập kinh nghiệm , cách làm các nước để nghiên cứu , ban hành Hệ thống CMKT công sao
cho phù hợp với thể chế chính trị , tính chất nhà nước , với đặc điểm và yêu cầu quản lý kinh tế
của Việt Nam.
Thứ hai , về đặc điểm đơn vị HCSN ở Việt Nam . Các đơn vị HCSN ở Việt Nam hiện
đang thực hiện nhiều hoạt động SXKD và đầu tư tài chính dưới nhiều hình thức khác nhau, chưa
được qui định đầy đủ , nên không có cơ sở để qui định về kế toán . Các hoạt động SXKD và đầu
tư tài chính đang diễn ra ở các đơn vị HCSN chưa có hướng dẫn như: kế toán doanh thu cung
cấp dịch vụ (đặc biệt là các dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ như dịch vụ KHKT… ) ; kế toán chi
phí đi vay , hang tồn kho , thuê tài sản , các khoản dự phòng , công cụ tài chính.
Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quỳên tự chủ , tự chịu
trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ , tổ chức bộ máy , biên chế và tài chính đối với đơn vị sự
nghiệp công lập quy định : Đơn vị HCSN của các hoạt động liên doanh, liên kểt cần thực hiện
theo qui định Chuẩn mực số 07-Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết, Chuẩn mực 08 –
Thông tin tài chính về các khoản vốn góp liên doanh ( ban hành theo Quyết định số
234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ tài chính) là Chuẩn mực kế toán doanh nghiệp nên
không phù hợp với CMKT số 07,08 hướng dẫn về hoạt động liên doanh , liên kết của IPSAS áp
dụng cho khu vực công.
Từ việc quy định gượng ép như vậy nên các đơn vị HCSN thực hiện không thống nhất ,
các cơ quan nhà nước không có căn cứ xử lý khi kiểm tra , kiểm toán.Do vậy , trong thời gian
sớm nhất , Việt Nam cần nghiên cứu , xây dựng để ban hành ngay 1 số Chuẩn mực kế toán công
trên cơ sở IPSAS nhưng phù hợp với điều kiện của Việt Nam làm cơ sở pháp lý cho việc hướng

quá xa lạ và phức tạp với Việt Nam .Như đơn vị kinh tế trong lĩnh vực công phải lập BCTC ;
BCTC hợp nhất ; đơn vị kiểm soát ; đơn vị bị kiểm soát ; kiểm soát vì mục đích BCTC ; lợi ích
và sở hữu của cổ đông thiểu số ; hoạt động liên doanh liên kết giữa các chính phủ của các nước ;
hoạt động đầu tư , kể cả đầu tư của Nhà nước đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia.
Khoảng cách giữa chế độ Kế toán HCSN Việt Nam với CMKT công quốc tế là khá
lớn.Do đó , ban hành CMKT công là việc cần phải làm ngay. Để làm được điều đó phải chuyển
biến về nhận thức; phải đổi mới phương thức quản lý NSNN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status