Phân tích nội dung quy luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX,Đảng ta nhận thức và vận dụng quy luật này như thế nào trong giai đoạn hiện nay - Pdf 10


M U
Lịch sử phát triển của sản xuất loài ngời là lịch sử phát triển của các PTSX
kế tiếp nhau. PTSX là sự thống nhất biện chứng giữa LLSX và QHSX đó là cách
thức sản xuất ra của cảI vật chất mà trong đó LLSX đạt đến một trình độ nhất
định , thống nhất với QHSX tơng ứng với nó . Theo định nghĩa của phép biện
chứng duy vật : Là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, khoa học về
những quy luật phổ biến nhất của sự vận động và sự phát triến cuả tự nhiên ,xã hội
và t duy trên cơ sở duy vật . Theo định nghĩa trên xã hội ngày càng phát triển thì
mối quân hẹ giữa QHSX va LLSX là không thể tách rời , đây là quy luật chung
của sự phát triển và là một trong những quy luật quan trọng quy định sự tồn tại,
phát triển và tiến bộ xã hội.
Mặc dù vậy trong thực tế, hai nhân tố QHSX và LLSX đã làm nảy sinh
những mâu thuẫn giữa chúng . Và sự mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt làm
cho nền kinh tế nớc ta ở trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng trong một thời
gian dài .Mâu thuẫn này giải quyết ra sao?, nguyên nhân của vấn đề sẽ đợc đề cập
đến trong tiểu luận : Phõn tớch ni dung quy lut QHSX phự hp vi tớnh cht v
trỡnh phỏt trin ca LLSX,ng ta nhn thc v vn dng quy lut ny nh th
no trong giai on hin nay.
1

Mục lục
Tiểu luận được chia làm 3 phần:
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1 Nội dung quy luật.
2.2 Mối quan hệ tác động qua lại và sự lặp lại của quy luật.
2.3 Sự nhận thức của Đảng ta về quy luật .
2.4 Sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
III KẾT THÚC VẤN ĐỀ.


quyết vấn đề này nh thế nào ? Việc vận dụng đúng đắn qui luật trên vào công cuộc
xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vô cùng cấp thiết.
3
II. Giải quyết vấn đề.

2.1: Ni dung quy lut.

Quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất là hai mặt của phơng thức sản xuất, sự
tác động lẫn nhau giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiên mối quan hệ
mang tính chất biện chứng. Chính sự thống nhất và tác động giữa quan hệ sản xuất
và lực lợng sản xuất đã hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản
xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Trong mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất thì lực l-
ợng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất.
Lực lợng sản xuất thờng xuyên biến đổi , còn quan hệ sản xuất tơng đối ổn định;
lực lợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất , quan hệ sản xuất phải phù hợp với
lực lợng sản xuất và tác động tích cực trở lại lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất là nhân tố thờng xuyên biến đổi và phát triển. Ngợc
lại quan hệ sản xuất thờng có tính ổn định trong một thời gian dài.
Sự biến đội của lực lợng sản xuất có nhiều nguyên nhân:
- Bản thân ngời lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không ngừng
tích luỹ và tăng lên.
- Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lợng sản xuất
trực tiếp.
- Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể sản xuất
đợc.
Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lợng sản xuất đến một giới hạn nhất
định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có. Việc xoá bỏ quan hệ
sản xuất cũ thay nó bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là diệt vong cả
một phơng thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phơng thức sản xuất mới. Sự

thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất, sự phù hợp đó là động lực làm cho lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Nh-
ng lực lợng sản xuất thờng phát triển nhanh còn quan hệ sản xuất có xu hớng ổn
định khi lực lợng sản xuất đã phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất
5
không còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, mở đờng cho lực
lợng sản xuất phát triển.
Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lợng sản xuất: Sự hình thành,
biến đổi phát triển của quan hệ sản xuất là hình thức xã hội mà lực lợng sản xuất
dựa vào đó để phát triển, nó tác động trở lại đối với lực lợng sản xuất, có thể thúc
đầy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất nó thúc đầy sản xuất
phát triển nhanh. Nếu nó không phù hợp nó kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản
xuất, song tác dụng kìm hãm đó chỉ tạm thời theo tính tất yếu khách quan, cuối
cùng nó sẽ bị thay thể bằng kiểu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
lực lợng sản xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lợng sản
xuất (thúc đầy hoặc kìm hãm ), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ
thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phơng thức phân phối
và phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc hởng. Do đó nó ảnh hởng đến
thái độ quảng đại quần chúng lao động - lực lợng sản xuất chủ yếu của xã hội, nó
tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động áp
dụng những thành tựu khoa khọc và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân phối lao
động.
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách đơn giản tính tích cực của quan hệ sản
xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ
thống một chỉnh thể hữu cơ gồm ba mặt, quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan
hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc
đầy con ngời hành động nhằm phát triển sản xuất.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực

lợng sản xuất là quy luật vận dụng phát triển của xã hội sự tác động qua sự thay thế
kế tiếp nhau từ thấp đến cao của phơng thức sản xuất.
- Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực l ợng sản xuất:
Nh trên ta thấy lực lợng sản xuất là nhân tố thờng xuyên biến đổi, phát triển
không ngừng trong khi đó quan hệ sản xuất mà đặc biệt là nhân tố sở hữu về t liệu
sản xuất lại có tính ổn định lâu dài. Quan hệ sản xuất khi đã đợc xác lập thì nó độc
lập tơng đối với lực lợng sản xuất, trở thành những cơ sở và những thể chế xã hội và
nó không thể biến đổi đồng thời đối với lực lợng sản xuất mà thờng có xu hớng lạc
7
hậu hơn so với lực lợng sản xuất. Khi đó nó tác động trở lại đối với lực lợng sản
xuất, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Nếu quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, nó sẽ
trở thành động lực thúc đẩy, định hớng và tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất phát
triển. Ngợc lại, nếu lạc hậu hơn so với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ là xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản
xuất. Ngay cả trong trờng hợp quan hệ sản xuất đi quá xa so với trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất thì nó cũng kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lợng sản
xuất (thúc đầy hoặc kìm hãm ), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ
thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phơng thức phân phối
và phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc hởng. Do đó nó ảnh hởng đến
thái độ quảng đại quần chúng lao động - lực lợng sản xuất chủ yếu của xã hội, nó
tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp
dụng những thành tựu khoa khọc và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân phối lao
động.
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách đơn giản tính tích cực của quan hệ sản
xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ
thống một chỉnh thể hữu cơ gồm ba mặt, quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan
hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc
đẩy con ngời hành động nhằm phát triển sản xuất.

đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Sự tác động trở lại nói trên của quan hệ sản xuất bao giờ cũng thông qua các
quy luật kinh tế cơ bản phù hợp và không phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản
xuất là khách quan và phổ biến của mọi phơng thức sản xuất. Sẽ không đúng nếu quan
niệm trong chủ nghĩa t bản luôn luôn diễn ra không phù hợp, còn dới chủ nghĩa xã hội
phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất.
2.3 : S nhn thc ca ng ta v quy lut .
Quá trình lãnh đạo xây dựng đất nớc đi lên CNXH Đảng ta đã rút ra những
kinh nghiệm bổ ích và xác định rằng: một trong những nguyên nhân làm cho sản
xuất chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn là không nắm vững
9
quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất. Từ đó, Đảng đã rút ra kinh nghiệm vận dụng quy luật bằng cách gắn cách
mạng quan hệ sản xuất với cách mạng khoa khọc kỹ thuật, chú trọng việc tổ chức
lại nền sản xuất xã hội để xác định những hình thức và bớc thích hợp.
Đảng nhận thức rằng: sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
không bao giờ là sự phù hợp tuyệt đối, không có mâu thuẫn, không thay đổi. Sự
phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất không bao giờ là sự phù hợp
chung mà bao giờ cũng tồn tại dới những hình thức cụ thể, thích ứng với những đặc
điểm nhất định với trình độ nào đó của lực lợng sản xuất. Trong thời kỳ quá độ đi
lên CNXH thực hiện CNH- HĐH, nền kinh tế nớc ta không còn là nền kinh tế t
bản, nhng cũng cha hoàn toàn là nền kinh tế XHCN. Bởi vậy công cuộc cải tạo
XHCN phải chú ý đến đặc điểm của sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều
thành phần. Trong cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới,
đại hội VI đã nhấn mạnh là phải giải quyết đồng bộ ba mặt, xây dựng chế độ sở
hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối trong đó nhấn mạnh phân phối theo lao
động là hình thức chủ yếu. Phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
trong thời kỳ CNH- HĐH, nhiều chế độ sở hữu cùng tồn tại : sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể, sở hữu cá nhân và các hình thức sở hữu do kết quả sự xâm nhập giữa
chúng.Trong nền kinh tế thị trờng ở nớc ta, tồn tại các hình thức phân phối thu

2.4: S vn dng ca ng ta trong giai on hin nay
Th c trng: .
Việt Nam trong thời kỳ đầu đi lên chủ nghĩa xã hội .
Sau 30/4/1975 nớc ta hoàn toàn giải phóng, chúng ta đã đạt đợc những thành
tựu trong việc hàn gắn vết thơng chiến tranh .Tuy nhien nền kinh tế nớc ta vẫn là
nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển mang nặng tính tự cấp, tự túc .Trang bị kỹ
thuật và kết cấu xã hội yếu kém, cơ cấu kinh tế mất cân đối, cơ cấu kinh tế tập
chung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả nặng nề . Nền kinh té kém hiệu quả,
năng suất lao động thấp, khủng hoảng kinh tế kéo dài, các tệ nạn tham nhũng lan
rộng, Đảng cộng sản còn non, đội ngũ cán bộ còn yếu về năng lực các thế lực đế
quốc và phản động ráo riết thực hiện chiến lợc diễn biến hoà bình, phá hoại và bao
vây kinh tế Nếp sống văn hoá , đạo đức bị xói mòn, lòng tin vào Đảng và Nhà nớc
bị giảm sút.
11
Thực trạng trên có nguồn gốc sâu xa do lịch sử để lại và hậu quả của nhiều
năm chiến tranh, song chủ yếu là chúng ta đã vi phạm sai lầm chủ quan duy ý chí,
vi phạm các quy luật khách quan trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong tiến hành
công nghiệp hoá và trong cơ chế quản lý kinh tế đặc biệt là sự phù hợp giữa LLSX
và QHSX. Chúng ta đã sai lầm khi tiến hành xây dựng QHSX tiên tiến rồi mới thúc
đẩy lựa chọn LLSX phát triển, biến đổi. Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng
sự biến đổi và phát triển của LLSX. LLSX biến đổi dẫn đến mâu thuẫn gay gắt
với QHSX hiện có và xuất hiện một đòi hỏi khách quan là xoá bỏ QHSX cũ, thay
bằng kiểu QHSX mới thích ứng với một trình độ phát triển mới của LLSX. C.Mác
viết :"Tới một giai đoạn phát triển nào đó các LLSX vật chất xã hội sẽ mâu thuẫn
với QHSX hiện có mà trong đó từ trớc đến nay các LLSX vẫn phát triển. Từ chỗ
là hình thức phát triển của các LLSX, những QHSX ấy trở thành xiềng xích của các
LLSX . Khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội
1
". Kết quả là dã tạo
ra cho chúng ta một nhận thức bản chất của phép biện chứng giữa LLSX và QHSX

phự hp gia LLSX v QHSX trong giai on hin nay :
a) Phát triến LLSX ở n ớc ta hiện nay .
Yếu tố quân trọng nhất cúa LLSX chính là con ngời,trình độ LLSX thế hiện
trình độ chinh phục tự nhiên cụa con ngời trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Cho dù t liệu lao động tạo ra từ trớc có sức mạnh đến đâu và yếu tố đối tợng lao
động có phong phú nh thế nào nhng nếu con ngời không có kỹ năng , kỹ sảo thì
cũng trở nên vô tác dụng. lê nin viết "LLSX hàng đàu của toàn nhân loại là công
nhân , là ngời lao động". Lịch sử loài ngời đã đanh dấu bằng những mức quan trọng
trong sự phát triển của LLSX C.Mac và Ph.Ang ghen đã từng nói:"LLSX là kết
quả của năng lực thực tiễn của con ngời, nhng bản thân năng lực thực tiễn này bị
quyết định bởi những điều kiện trong đó ngời ta sống boửi nhiều LLSX đã đạt đợc
bởi hình thái xã hội đã có trớc họ, không phải do họ tạo ra mà do thế hệ trớc tạo
ra". Và hiện nay chúng ta đang chứng kiến sự bùng nổ về cuộc cách mạng khoa
học Kỹ thuật .Nhiệm vụ của chúng ta là xác định đợc những lĩnh vực vần u tiên dựa
trên thế mạnh của mình và dụ báo đúng xu hớng phát triển của Khoa học kĩ thuật
hiện đại.Làm nh vậy mới có bớc tiến lớn về sự phát triển sản xuất theo kịp trình độ
của các nớc phát triển trên thế giới.
13
b,Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại và vấn đề yếu tố con ng ời
trong LLSX .
Khoa học kỹ thuật có một sức mạnh kỳ diệu và có ý nghĩa quyết định đến sự
phát triênr sản xuất, nhng không phải là yếu tố quyết định cua LLSX. Công nghệ
hiện đại chỉ làm tăng sức mạnh chinh phục tự nhiên của con ngời chứ không làm
thay thế hoàn toàn hoạt động sản xuất của con ngời.Khoa học kỹ thuật phát triển
phát triển đến đâu thì con ngời cũng không bao giờ bị đẩy ra ngoài quá trình sản
xuất. Máy móc dù thông minh đến mấy cũng do con ngời tạo ra và phụ thuộc vào
con ngời. Điều cốt yếu là chúng ta biết lụa chọn những công nghệ thích hợp với
yếu tố con ngời và tài nguyên đất nớc .Vì thế Mác đã nhận xét "Trong tất cả những
LLSX lớn nhất là bản thân giai cấp Cách mạng".
c, Phát huy yếu tố con ng ời trong lực l ợng sản xuất .

Việc Khoa học trở thành LLSX trực tiếp là một quy luật khách quan của sự
phát triển xã hội. Ngày nay dự đoán ấy đang trở thành hiện thực trong nhiều nớc
công nghiệp phát triển.
Trong thực tế,sự phát triển của Khoa học đã giúp con ngời tăng cờng sức
mạnh trong quá trình chinh phục tự nhiên, sử dụng những sức mạnh của nó. Không
có khoa học làm sao con ngời có thể tạo ra năng lợng hạt nhân, phóng tầu vũ trụ
lên thám hiểm các hành tinh hay sản xuất ra máy điện tử và ngời máy công nghiêpj
thay thế nhiều hoạt động phức tạp của mình. Mác viết" cùng với sản xuất t bản chủ
nghĩa, nhân tố khoa học lần đầu tiên đợc phát triển, vận dụng và tạo ra một cách có
ý thức trong phạm vi mà các thời đại trớc đó cha hề có ý thức đợc".
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội ,tự nó có thể gây nên một biến đổi
nào cho LLSX khoa học vốn bắt đầu hoạtđộng lao động
Sản xuất và là kết quả hoạt động nhận nhận thức của con ngời ,gắn liền và
phụ thuộc vào con ngời phải thông qua hoạt động sản xuất của con ngời ,khoa học
mới có thể trở thành lực lợng trực tiếp đợc.Ngời có tri thức khoa học sẽ có kỹ năng
lao động và làm việc có hiệu quả hơn những ngời không không nắm đợc tri thức
khoa học. NH vậy khoa học trở thành LLSX không phải với t cách là một yếu tố
độc lập mà nó thâm nhập vào tất cả các yếu tố của LLSX .Ngày nay không chỉ có
khoa hoc tự nhiên mà cả khoa học xã hội cũng tham gia mạnh mẽ trở thành LLSX
trực tiếp.
Do vậy,chúng ta nghiên cứu LLSX và các yếu tố hợp thành LLSX không
ngoài mục đích trên, cơ sở lý luận đã tácđộng đúng tới LLSX, rút ngắn khoảng
cách với các nớc phát triển đa đất nớc ta tới phồn vinh hạnh phúc.
15
e,Xây dựng quan hệ sản xuất và hoàn thiện mối quan hệ này ở n ớc ta
hiện nay.
Tầm vóc trí tuệ của Đảng và nhân dân ta trong quá trình tìm tòi sáng tạo,đa
đất nớc thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu , tiến lên chủ nghĩa xã hội ngày càng đợc
khẳng định nhất là sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới ,bắt đầu từ Đại hội VI
của Đảng . Từ đó đến nay quan điểm của chúng ta vềCNXH đã đợc xác định ngày

giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển lực lợng sản xuất đây mới
là nhân tố cơ bản nhất.
Đất nớc ta đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá với tiềm năng
lao động lớn cần cù, thông minh, sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nhng công
cụ của chúng ta còn thô sơ. Nguy cơ tụt hậu của đất nớc ngày càng đợc khắc phục.
Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nớc về công nghiệp hoá -
hiện đại hoá trớc hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy luật gắn liền với một cơ
cấu các thành phần kinh tế hợp qui luật, cũng nh cơ cấu một xã hội hợp giai cấp.
Cùng với thời cơ lớn, những thử thách ghê gớm phải vợt qua để hoàn thành sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc vì dân giàu nớc mạnh công bằng văn
minhhãy còn phía trớc mà nội dung cơ bản trong việc thực hiện là phải nhận thức
đúng đắn về qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất trong giai đoạn hiện nay của nớc ta.
III/ Kết luận
17
3.1 : Cỏc thnh tu t c
Chính nhờ đờng lối đổi mới và lựa chọn các bớc đi thích hợp mà nớc ta đã
từng bớc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và đứng vững trớc sự sụp đổ của hệ thống
xã hội chủ nghĩa thế giới. Công cuộc đổi mới đề ra cho chúng ta nhiệm vụ phải
xem xét lại phơng thức và con đờng đa đất nớc ta tiến lên. Sai lầm của ta là đã đẩy
nhiều mặt của QHSX lên quá cao, tách rời trạng thái còn thấp kém của LLSX làm
cho hai nhân tố này mâu thuẫn với nhau dẫn đến kìm hãm sự phát triển của sản
xuất xã hội. Đại hội Đảng lần thứ VI đã nhận ra sai lầm và cũng đã thấy rằng việc
cải tạo QHSX xã hội là cần thiết nhng không thể tiến hành một cách chủ quan nóng
vội nh trớc đây, nghĩa là cải tạo và củng cố QHSX nhng gắn liền với sự phát triển
của LLSX. Đại hội VII của Đảng cũng chỉ rõ:" phù hợp với sự phát triển của
LLSX, thiết lập từng bớc QHSX xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về

2001_ trang 149-150].
Hn ch
Bên cạnh những u điểm trên không thể không nhắc đến một số hạn chế vẫn
còn tồn tại. Đó là việc chuyển sang cơ chế thị trờng còn có nhiều mặt thiếu nhất
quán đặc biệt trong tài chính tiền tệ, quản lý còn lỏng lẻo, đội ngũ cán bộ cha theo
kịp với yêu cầu của thị trờng mới, vai trò của Nhà nớc trong quản lý hoạt động đời
sống kinh tế xã hội còn yếu. Trong lĩnh vực kinh doanh, nhà nớc cha tạo đợc động
lực khuyến khích nâng cao năng suất. Ngời lao động cha có động lực thờng xuyên
và cha cảm thấy có sự gắn bó đối với sản xuất kinh doanh và quá trình phát triển
của doanh nghiệp. Tình trạng lạm dụng kinh doanh còn nhiều, thị trờng vốn còn
chậm phát triển, lãi suất cha phù hợp với kinh tế thị trờng dẫn đến hạn chế đầu t.
Kinh tế vĩ mô còn những yếu tố thiếu vững chắc. Hệ thống tài chính,
ngân hàng, kế hoạch đổi mới chậm, chất lợng hoạt động hạn chế; môi trờng đầu t,
kinh doanh còn nhiều vớng mắc, cha tạo điều kiện và hỗ trợ tốt cho các thành phần
kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh [Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX_ nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia_ Hà Nội_ năm 2001_ trang154].
3.2. Gii phỏp
Cải tạo xã hội chủ nghĩa phải luôn luôn thấu suốt đặc điểm của quá trình
tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa là quan hệ sản xuất và lực l-
19
ợng sản xuất luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Phải coi
trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ lên
quy mô lớn. Trên mỗi bớc đi phải đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo
ra lực lợng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp tục đa quan hệ sản xuất lên hình thức,
quy mô thích hợp để cho lực lợng sản xuất phát triển.
Tại Đại hội IX Đảng ta khẳng định: " Cần phải" nhân rộng mô hình hợp tác,
liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nớc và kinh tế hộ nông
thôn, phát triển các loại hình trang trại với quy mô phù hợp trên từng địa bàn những
hình thức kinh tế hộ nông dân ngày càng đợc mở rộng, các hình thái kinh tế hợp tác
ở nông thôn, kinh tế trang trại, mở mang nhanh công nghiệp chế biến nông sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status