LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta trong những năm vừa qua có sự phát triển rất lớn
trong nhiều lĩnh vực, trong đó đánh dấu bước phát triển vượt bậc của lĩnh vực
Ngân hàng. Các Ngân hàng thương mại nhiều năm liền giữ vai trò là đơn vị
đóng góp nguồn vốn chủ yếu cho các tổ chức, cá nhân trong nước. Một vài
năm trở lại đây với sự phát triển đa dạng hơn của các thành phần kinh tế tư
nhân, liên doanh, và sự tham gia của các tổ chức kinh tế lớn trên toàn thế giới
cộng với chủ trương phát triển kinh tế của quốc gia là phát triển đa dạng và
đồng bộ các loại thị trường, những điều này đã làm cho Ngân hàng giảm bớt
gánh nặng là cơ quan chủ yếu cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế. Đặc biệt
là sự phát triển của thị trường chứng khoán trong thời gian vừa qua góp phần
không nhỏ vào công tác huy động vốn cho các tổ chức kinh tế, tuy nhiên điều
đó cũng là những khó khăn của kinh doanh Ngân hàng trong thời gian tới.
Trước sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta, lĩnh vực Ngân hàng
ngày càng được chú trọng và tập trung phát triển hơn, cùng với đà phát triển
chung đó Chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hai Bà Trưng cũng đã và đang
tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao năng lực cán bộ công nhân viên,
không ngừng phát triển các hoạt động Ngân hàng, nghiệp vụ, và các dịch vụ
trong xu thế phát triển như hiện nay. Ngân hàng Công Thương Chi nhánh Hai
Bà Trưng là một trong những Ngân hàng trọng điểm, có vai trò lớn trong sự
phát triển của Ngân hàng Thương mại Nhà nước nói chung và Ngân hàng
Công Thương Việt Nam nói riêng. Trong suốt quá trình hình thành và phát
triển Ngân hàng Công Thương Chi nhánh Hai Bà Trưng đã khẳng định được
vi trí cũng như tầm quan trọng của mình, trở thành Ngân hàng có uy tín và
chất lượng hoạt động luôn đạt hiệu quả cao.
1
Xuất phát từ những tình hình đó, được sự đồng ý của Ban giám đốc, các
cô chú, anh chị cán bộ trong Chi nhánh và các thầy cô giáo trong khoa em đã
chọn Ngân hàng Công thương Chi nhánh Hai Bà Trưng làm cơ quan thực tập
nhằm học hỏi nâng cao kỹ năng làm việc thực tế kết hợp với lý thuyết được
học trong trường, tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm hơn nữa để phục vụ quá
Bà Trưng Hà Nội chỉ còn duy nhất một Chi nhánh NHCT. Tại Quyết định số :
107/QĐ- HĐQT- NHCT1 của Hội đồng quản trị NHCT1, Chi nhánh NHCT-
khu vực Hai Bà Trưng được đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng Công thương
Hai Bà Trưng.
3
Cho đến nay, NHCT- Hai Bà Trưng đã vượt qua những khó khăn ban
đầu và ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong nền Kinh tế
thị trường, đứng vững và phát triển trong cơ chế mới, chủ động mở rộng
mạng lưới giao dịch, đa dạng hoá các dịch vụ Kinh doanh tiền tệ. Ngoài ra,
NHCT Hai Bà Trưng còn thường xuyên tăng cường việc huy động vốn và sử
dụng vốn, thay đổi cơ cấu đầu tư phục vụ phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hướng phát triển kinh tế của đất nước là đến năm 2020
nước ta cơ bản là một nước Công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để thực hiện chiến lược đa dạng hoá các phương thức, hình thức, giải
pháp huy động vốn trong và ngoài nước, đa dạng hoá các hình thức kinh
doanh và đầu tư, từ năm 1993 trở lại đây NHCT- Hai Bà Trưng đã thu được
nhiều kết quả trong hoạt động kinh doanh, từng bước khẳng định mình trong
môi trường kinh doanh mới mang đầy tính cạnh tranh.
2. Cơ cấu tổ chức
2.1 Mô hình tổ chức tại Chi nhánh NHCT – HBT
Theo quyết định số : 36/ QĐ- TCHC ngày 15/05/2006 có hiệu lực kể từ
ngàt 01/06/2007. Trong đó Ban Giám đốc gồm 1 Giám đốc và 3 Phó Giám
đốc. Phòng tín dụng được chia thành phòng khách hàng Doanh nghiệp lớn,
khách hàng DN vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân. Phòng Quản lý rủi ro, Phòng
thanh toán xuất nhập khẩu, Phòng Kế toán giao dịch, Phòng thông tin điện
toán, Phòng tổng hợp, Phòng tiền tệ kho quỹ, Phòng tổ chức hành chính.
Ngoài ra còn các Chi nhánh giao dịch.
4
2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban tại NHCT- HBT
Phòng Khách hàng doanh nghiệp lớn ( KH số1)
h
Phòng Kế toán giao
dịch
Phòng Tổng hợp
Phòng quản lý rủi
ro
Phòng Tổ chức
Hành Chính
Phòng Thanh toán
XNK
Phòng Thông tin
điện toán
5
Phòng Khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ ( KH số 2)
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N), để khai thácvốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực
hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù
hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCTVN. Trực tiếp
quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho các
DNV&N.
Phòng Khách hàng cá nhân
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân, để
khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực hiện các nghiệp vụ với khách
hàng là các cá nhân, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ
hiện hành và hướng dẫn của NHCTVN. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới
thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng cá nhân.
Phòng quản lý rủi ro (Bao gồm cả quản lý nợ có vấn đề)
Phòng quản lý rủi ro có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh về
công tác quản lý rủi ro của Chi nhánh ; Quản lý giám sát thực hiện danh mục
cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng.
toàn Chi nhánh.
7
Phòng thông tin điện toán
Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại Chi
nhánh, bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ
thống mạng, máy tính của Chi nhánh.
Phòng Tổng hợp
Phòng tổng hợp là phòng nghiệp vụ tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh
dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạt
động kinh doanh, thực hiện báo cao hoạt động hàng năm của Chi nhánh.
Các Phòng giao dịch
Huy động tiền gửi của dân cư và các tổ chức kinh tế trên địa bàn, cho
vay đối với các thành phần kinh tế theo đúng chế độ.
3. Kết quả hoạt động kinh doanh
3.1 Công tác huy động vốn
Trong những năm gần đây hoạt động kinh tế chung của cả nước có ảnh
hưởng không nhỏ đến hoạt động Ngân hàng nói chung và công tác huy động
vốn nói riêng. Vốn kinh doanh chủ yếu dựa vào các Ngân hàng nên cũng làm
cho việc huy động vốn gặp rất nhiều khó khăn.Nhìn chung Công tác huy động
vốn của NHCT- HBT đạt chỉ tiêu được được giao, tính cho đến năm 2008
tổng nguồn vốn huy động vốn đạt 107,6% kế hoạch của NHCTVN giao.
Về tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của Chi nhánh
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động năm 2006 là 11,7% (năm
2005 tăng 5,5%), so với tốc độ tăng trưởng của các Ngân hàng trên địa bàn
Hà Nội nói chung thì Chi nhánh tăng trưởng vẫn ở mức rất thấp (Tổng nguồn
8
vốn các NH trên địa bàn Hà Nội đạt 232.000 tỷ tăng 32,3%, trong đó tiền gửi
dân cư tăng 31,6% ; Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng 32,8% ). Nếu so với
các Chi nhánh NHCT trên địa bàn Hà Nội thì Chi nhánh có mức tăng trưởng
tương đối ( các chi nhánh NHCT tăng 13.5%). Năm 2006 xét về thị phần huy
ngoại tệ chiếm tỉ trọng 55,3% trong tổng nguồn vốn huy động ( năm 2007 là
15,7% ). Năm 2008 là năm có sự chuyển dịch tỷ lệ cơ cấu nguồn VND và
ngoại tệ thay đổi lớn nhất, tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm tỉ trọng cao hơn TG
bằng VND,trong khi nguồn VND giảm so với năm 2007.
Nếu phân theo tính chất tiền gửi
Năm 2006 tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng 61,6% trong tổng nguồn vốn
huy động. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng 11,3% so với năm 2005 và
thường xuyên biến động do nguồn vốn này là tiền gửi thanh toán.
Năm 2007, tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng 51,1% trong tổng nguồn vốn huy
động, tỷ trọng giảm 7% so với năm 2006. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
chiếm tỷ trọng 38,7% trong tổng nguồn vốn, trong năm xu hướng nguồn vốn
này giảm lớn thời gian đầu năm và tăng trưởng nhanh vào tháng cuối năm.
Bảng 1 : Số liệu về tình hình huy động vốn của NHCT-HBT từ năm 2004-2007
Chỉ tiêu TH
31/12/2005
(Tr. đ)
TH
31/12/2006
(Tr. đ)
%So
sánh
TH
31/12/2007
(Tr. đ)
%
So Sánh
TH
31/12/2008
( Tr.đ)
%
TH
31/12/2007
(Tr. đ)
% So
sánh
TH
31/12/2008
(Tr.đ)
% so
sánh
Tổng dư nợ cho
vay
740.111 686.481 92,75 684.930 102,5 847.544 123,7
Phân theo kỳ
hạn nợ
- Dư nợ CVNH 512.635 474.570 92,57 477.034 100,8 500.561 104,9
- Dư nợ CVTH 61.486 70.151 114,1 63.230 117,8 33.116 52,3
- Dư nợ CVDH 147.222 122.738 83,3 144.665 102,4 313.687 216,8
Phân theo loại
tiền
- Dư nợ bằng
VND
547.016 405.508 74,1 401.213 103,6 503.392 125,4
- Dư nợ ngoại
tệ(quy VND)
193.095 280.973 145,5 283.717 101 344.152 121,3
Về tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của Chi nhánh NHCT- HBT :
11
Năm 2006 tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế chỉ đạt 85,8% so với kế
hoạch NHCTVN giao, so với năm 2005 giảm 7,25% trong khi dư nợ cho vay
động cũng như tới tổng dư nợ cho vay.
Đối với các khoản vay có cầm cố tài sản, hay khoản vay được bảo đảm
bằng đất đai, bất động sản cũng đang gặp rất nhiều khó khăn không chỉ đối
với Chi nhánh mà là khó khăn chung đối với khách hàng vay vốn. Bởi lẽ có
rất nhiều đất đai bất động sản của các doanh nghiệp, và khách hàng khác gặp
rắc rối về giấy tờ quyền sử dụng đất. Việc tiến hành cho vay đối với những
khách hàng có cầm cố tài sản đặt ra rất nhiều vấn đề đối với công tác tín dụng
và tăng trưởng tín dụng tại Chi nhánh. Chẳng hạn như căn cứ định giá tài sản
thế chấp chưa đầy đủ và việc thẩm định giá tài sản chưa thực sự mềm dẻo các
Ngân hàng trên địa bàn định giá nhà đất còn chênh lệch nhau nhiều điều này
làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụng.
Cùng với xu thế phát triển chung, trong những năm tới thị trường bất
động sản sẽ ngày càng phát triển hơn vì thế Chi nhánh sẽ đẩy mạnh công tác
huy động vốn từ nguồn thị trường này và có sự quan tâm hơn tới công tác tín
dụng với những khoản vay có cầm cố bằng tài sản và bất động sản. Những
chính sách, quy định về cho vay có thế chấp bằng đất đai, bất động sản đang
được quan tâm và hoàn thiện hơn nhằm thực hiện tốt công tác tín dụng cũng
như góp phần phát triển thị trường bất động sản trong những năm tới. Đó là
bước chuyển hướng chiến lược quan trọng thúc đẩy phát triển công tác tín
dụng cũng như trong sự phát triển của Chi nhánh.
3.3 Công tác tài trợ Thương mại
Trong năm 2006 công tác thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương mại
đã có mức tăng trưởng cao so với năm 2005, tuy nhiên nếu xét về doanh số
13
hoạt động cũng chưa phải là lớn, nguyên nhân chính đó là Chi nhánh chưa tăng
trưởng được tín dụng đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu.
Đến năm 2007 công tác thanh toán xuất nhập khẩu của Chi nhánh có nhiều
thuận lợi hơn so với các năm trước do hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của
cá khách hàng truyền thống có mức tăng trưởng khá và Chi nhánh đã chủ động
tích cực có những chính sách ưu đãi vì thế các chỉ tiêu đều tăng trưởng cao so
thẻ, so với năm 2007 tăng 72,8%.
Ngoài ra trong 3 năm gần đây Chi nhánh cũng đã đưa dịch vụ thẻ tín
dụng quốc tế vào triển khai, các bộ phận liên quan cũng nhanh chóng nắm bắt
triển khai quy trình nghiệp vụ để thực hiện nhanh chóng và tốt hơn. Tuy nhiên
kết quả về phát hành thẻ tín dụng quốc tế và phát triển các cơ sở chấp nhận
thẻ tín dụng của Chi nhánh còn hạn chế ( thẻ tín dụng quốc tế đạt 15,8% kế
hoạch, không thực hiện được phát triển cơ sở chấp nhận thẻ) đòi hỏi sự quan
tâm hơn nữa từ các phòng ban nghiệp vụ có liên quan.
4. Mục tiêu, nhiệm vụ và một số giải pháp chủ yếu trong năm 2009 và
những năm tiếp theo
4.1 Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu trong những năm tiếp theo
Căn cứ vào các mục tiêu nhiệm vụ của NHCTVN được cụ thể hoá và
quyết định triển khai giữa Ban giám đốc và các đồng chí trưởng phòng, Chi
nhánh Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng quyết tâm phấn đấu thực hiện
một số chỉ tiêu năm 2009 như sau :
15
- Tổng nguồn vốn huy động tăng 15% ( đã loại trừ 320 tỷ lãi suất cao của
BHXH trả vào ngày 6/1 theo chỉ đạo của NHCTVN ) đạt 5567 tỷ vào cuối
năm 2009
- Tổng dư nợ và đầu tư tăng 40%, đạt 1200 tỷ thời điểm 31/12/2009
- Dư nợ nhóm 2 dưới 30 tỷ
- Tỷ lệ nợ xấu dưới 0,5%/ tổng dư nợ.
- Thu nợ xử lý rủi ro 40 tỷ trở lên
- Thu dịch vụ tăng 15% đạt 6520 triệu
- Trích dự phòng rủi ro dưới 14 tỷ
- Lợi nhuận đã trích dự phòng rủi ro : 90 tỷ trở lên.
Để thực hiện được các mục tiêu trên trong môi trường kinh doanh năm
2009 là năm kinh tế thế giới suy giảm do tác động của khủng hoảng tài chính
toàn cầu , kinh tế trong nước bị tác động mạnh, năm 2009 sẽ là năm hoạt động
Ngân hàng thương mại rất khó khăn do sẽ có nhiều khách hàng kinh doanh
Phấn đấu tăng trưởng và nâng cao chất lượng tín dụng phù hợp với kế
hoạch đề ra :
Tích cực tìm kiếm, tiếp cận khách hàng có năng lực tài chính lành
mạnh, lựa chọn các dự án đầu tư, phương án kinh doanh có tính khả thi, hiệu
quả cao nguồn trả nợ chắc chắn để xem xét cho vay, đảm bảo tăng trưởng đi
17
đôi với chất lượng, an toàn, và hiệu quả. Ngược lại giảm thấp và tiến tới chấm
dứt quan hệ tín dụng đối với khách hàng kinh doanh thua lỗ, năng lực tài
chính yếu kém, sản xuất kinh doanh không hiệu quả. Phấn đấu tăng trưởng dư
nợ cho vay vào các Tập đoàn, các ngành công nghiệp, các dự án về xây dựng
nhà ở, văn phòng đồng thời chú trọng mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và
nhỏ, tư nhân cá thể có đủ năng lực và kinh doanh có hiệu quả, lựa chọn sản
phẩm và khách hàng để cho vay tiêu dùng.
Ngoài việc phát triển các sản phẩm truyền thống là đầu tư cho vay, phải
quan tâm phát triển nguồn vốn, khuyến khích các đơn vị vay vốn sử dụng trọn
gói các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng khác.
Nỗ lực, chủ động cùng khách hang tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, thủ tục
pháp lý về bảo đảm tiền vay để tăng cường trách nhiệm, nghĩa vụ của người
vay, tạo sơ sở kinh tế và pháp lý khi thu hồi nợ, đồng thời phấn đấu giảm tỷ lệ
cho vay không tài sản thế chấp bảo đảm theo chỉ đạo.
Thứ ba : Đối với hoạt động tài trợ Thương mại
Phát triển dịch vụ Ngân hàng tới các điểm giao dịch, các quỹ tiết kiệm,
chú ý đến chất lượng các loại hình dịch vụ Ngân hàng , để nâng cao sức cạnh
tranh. Tăng cường phát triển nghiệp vụ thẻ : ATM, VÍA, MASTER,vv…các
phòng nghiệp vụ có trách nhiệm triển khai phấn đấu thực hiện kế hoạch được
giao, bên cạnh đó phải thực hiện tốt việc chăm sóc khách hàng nhanh chóng
và kịp thời để phát triển số dư tài khoản tiền gửi thẻ ATM, doanh số thanh
toán thẻ Tín dụng quốc tế và cơ sở chấp nhận thẻ.
5. Một số vấn đề để phát triển NHCT- HBT trong thời gian tới
Những năm vừa qua Chi nhánh đã có những bước phát triển mạnh được
KẾT LUẬN
Quãng thời gian thực tập tổng hợp tại Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Hai Bà Trưng với sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị trong phòng
khách hàng doanh nghiệp lớn em đã được tiếp cận nhiều hơn với quá trình
công tác thực tế. Tại đây em đã được hiểu rõ hơn về công tác tài chính, tiền
tệ, kế toán , nhất là công tác tín dụng là công tác hết sức quan trọng là nguồn
lợi chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng.
Qua đó nhận thấy trong thời gian vừa qua Chi nhánh đã có nhiều bước
phát triển đáng kể đã được thừa nhận và khẳng định, tuy nhiên vẫn còn những
điểm bất cập nhất định và cần có sự quan tâm hơn nữa của ban lãnh đạo Chi
nhánh nhằm phát triển Chi nhánh ngày một vững mạnh và hiệu quả hơn trong
môi trường kinh doanh hiện nay, khi mà nước ta hội nhập quốc tế ngày một
sâu sắc và chịu sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới.
Nhứng khó khăn, vướng mắc hiện nay một phần do chưa hoàn thiện các
cơ chế, chính sách một phần là do bản thân Ngân hàng chưa có nhiều sự thay
đổi kịp thời.Trong thời gian tới để khắc phục những vướng mắc, hạn chế còn
tồn tại trên đây cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, ban ngành chức
năng cùng sự nỗ lực từ phía Ngân hàng.
20
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng Công Thương :. .3
2. Cơ cấu tổ chức 4
2.1 Mô hình tổ chức tại Chi nhánh NHCT – HBT 4
2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban tại NHCT- HBT 5
3. Kết quả hoạt động kinh doanh 8
3.1 Công tác huy động vốn 8
3.2 Công tác tín dụng 11
3.3 Công tác tài trợ Thương mại 13
3.4 Hoạt động dịch vụ 14