I/ KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI NGẮT
1/ Khái niệm :
Mỗi khi một thiết bị phần cứng hay một chương trình cần đến sự giúp
đỡ của CPU nó gửi đi một tín hiệu hoặc lệnh gọi là ngắt đến bộ vi xử lý chỉ
định một công việc cụ thể nào đó mà nó cần CPU thực hiện .Khi bộ vi xử lý
nhận được tín hiệu ngắt nó thường tạm ngưng tất cả các hoạt động khác và
kích hoạt một chương trình con đang có trong bộ nhớ gọi là chương trình xử
lý ngắt tương ứng với từng số liệu ngắt cụ thể .Sau khi chương trình xử lý
ngắt làm xong nhiệm vụ, các hoạt động của máy tính sẽ tiếp tục lại từ nơi đã
bị tạm dừng lúc xảy ra ngắt .
Ngắt(interrupt) là khả năng tạm dừng chương trình chính dể thực hiện
chương trình khác gọi là chương trình con xử lý ngắt. Ngắt có hai phần : hiệu số ngắt và chức năng ngắt.Hiệu số ngắt được
gọi tắt là ngắt (như ngắt 10h , 20h ,21h) mỗi ngắt có nhiều chức ngăn khác
nhau do thanh ghi AH quy định.
2/ Phân loại ngắt :
Có ba loại ngắt chính ,đầu tiên là các ngắt được tạo ra bởi mạch điện của
máy tính nhằm đáp lại một sự kiện nào đó như nhấn phím trên bàn phím
Các ngắt này được bộ điều khiển ngắt 8259A quản lý , 8259A sẽ ấn định
mức độ ưu tiên cho từng ngắt rồi gửi đến CPU . Sau đó là các ngắt do CPU
tạo ra khi gặp phải một kết quả bất thường trong khi thực hiện chương trình
như chia cho 0 chẳng hạn Cuối cùng là các ngắt do chính chương trình tạo
ra nhằm gọi các chương trình con ở xa đang nằm trong ROM hoặc RAM,
các ngắt này gọi là ngắt mềm chúng thường là bộ phận của các chương trình
con phục vụ của ROM-BIOS hoặc của DOS.
Ngoài ba loại ngắt trên còn có loại ngắt đặc biệt là ngắt không bị che NMI
đòi hỏi CPU phục vụ ngay khi có yêu cầu. Loại ngắt này thường được dùng
để báo hiệu sự cố như sụt điệp áp hay lỗi bộ nhớ . Như vậy NMI là mức ngắt
có độ ưu tiên cao nhất .
động nhịp nhàng.
BIOS là dạng phần mềm mà mọi máy tính đều cần để vận hành. Các
phần mềm BIOS có một số vai trò khác nhau nhưng vai trò quan trọng nhất
của nó là nạp hệ điều hành. Khi máy tính được bật lên, bộ vi xử lý sẽ thực
thi những lệnh đầu tiên và các lệnh này phải được đọc ra từ đâu đó. Nó
không thể đọc ra từ hệ điều hành vì hệ điều hành được lưu trên đĩa cứng và
bộ xử lý không thể thực thi được nếu không được hướng dẫn. BIOS sẽ cung
cấp những lệnh này.
Giao diện của BIOS.
Các nhiệm vụ khác mà BIOS thực hiện gồm:
-Tự kiểm tra POST (Power-on Self Test) tất cả các thiết bị phần cứng
khác nhau trên hệ thống để đảm bảo mọi thứ đều làm việc ổn định.
-Kích hoạt BIOS Chip trên các loại Card cài trên máy tính như SCSI
hay Graphic Card. Các Card này thường được cài sẵn các BIOS Chip trên
nó.
-Cung cấp các tập tin thực thi mà hệ điều hành dùng để giao tiếp với
các thiết bị phần cứng. Chúng quản lý các thiết bị như bàn phím, màn hình,
cổng khi máy tính khởi động.
BIOS là chương trình phần mềm đặc biệt dùng để giao tiếp giữa các
thành phần phần cứng cao cấp trong máy tính với hệ điều hành. BIOS
thường được lưu trên Chip nhớ kiểu Flash Memory trên bảng mạch chính
(Motherboard) nhưng đôi khi nó cũng có thể là một dạng khác của ROM.
ROM có BIOS
Khi máy tính được bật lên, BIOS sẽ thực thi các công việc theo thứ tự liên
tục sau đây:
-Kiểm tra các thông số cài đặt của người sử dụng lưu trong CMOS.
-Nạp bộ điều khiển ngắt và các Driver của thiết bị.
-Khởi tạo các Register và bộ quản lý nguồn Power Management.
-Kiểm tra các thiết bị phần cứng với POST.
-Nạp các cấu hình hệ thống.
Khi máy tính thực hiện Cold-boot, BIOS kiểm tra RAM bằng cách thử
đọc/ghi trên từng vùng nhớ. Nó kiểm tra các cổng PS/2 hoặc USB để tìm
xem có các thiết bị bàn phím hay chuột không. Sau đó nó tiếp tục kiểm tra
xem có PCI Bus nào không, nếu có nó sẽ kiểm tra tất cả các PCI Card. Nếu
phát hiện ra bất kỳ lỗi nào trong quá trình POST, BIOS sẽ thông báo bằng
các tiếng “Bip” liên tục hoặc thể hiện trên màn hình. Lỗi xảy ra trong giai
đoạn này có nguyên nhân chắc chắn là do các thiết bị phần cứng.
BIOS tiếp tục thông báo các thông tin chi tiết về hệ thống như: bộ vi xử
lý, các ổ đĩa, bộ nhớ, màn hình. Mọi thiết bị đặc biệt như SCSI Adaptor
(Small Computer System Interface) trong khi khởi động đều được BIOS
thông báo trạng thái trên màn hình.
Đôi khi máy tính cũng cần phải nâng cấp (Update) lại BIOS của nó
nhất là đối với các máy tính cũ. Với các thiết bị mới và các chuẩn mới, BIOS
cần thay đổi theo để phù hợp. Do BIOS được lưu trong ROM nên việc thay
đổi nó khó hơn việc nâng cấp các phần mềm thông thường. Để làm được
việc này cần có một chương trình đặc biệt từ các nhà sản xuất máy tính hoặc
nhà sản xuất BIOS.
Giống như việc thay đổi các thông số trong CMOS, phải hết sức cẩn
thận khi nâng cấp BIOS. Phải chắc chắn rằng bản nâng cấp BIOS tương
thích với máy tính nếu không BIOS sẽ không thể hoạt động và khi đó sẽ
không thể khởi động được máy tính.
2/ Các loại BIOS:
Thường thì bạn vẫn quen bấm phím Delete để vào phần thiết lập BIOS.
Tuy nhiên, đó chỉ là thao tác đối với phần lớn các máy có xuất xứ từ Đông
Nam Á. Ở các loại máy tính khác (sản xuất từ Mỹ chẳng hạn), người dùng
phải thông qua chương trình quản lý riêng để thay đổi các thông số BIOS.
Hiện nay có 2 loại BIOS:
- BIOS dạng text. Người dùng sẽ di chuyển phím hướng để đưa vệt sáng
đi tới các lựa chọn. Nhấn Enter để quyết định, Esc để thoát (gõ Y khi muốn
lưu thay đổi, N là không lưu).
7C-7F 1F Địa chỉ các bảng font mở rộng
Bảng số hiệu và chức năng của ngắt BIOS