TÀI LIỆU
LÝ THUYẾT VỀ SỰ TĂNG
TRƯỞNG VÀ CÁC LÝ
THUYẾT SAU ĐÓ
Lý thuyết về sự tăng trưởng và các lý thuyết sau đó.
Tôi đã được kể rằng tất cả mọi người đều có những giấc mơ, nhưng một vài người
có thói quen quên chúng ngay trước lúc tỉnh dậy. Điều này dường như cũng xảy ra
với tôi. Bởi vậy tôi không biết liệu tôi đã bao giờ mơ thấy được nói bài diễn thuyết
phát triển của lực lượng lao động, và tỷ lệ vốn - sản lượng, cả ba thành phần này
đều là là những đại lượng bất biến, những vấn đề của tự nhiên. Tỷ lệ tiết kiệm là
vấn đề về sở thích, tỷ lệ phát triển của sự cung cấp lao động là vấn đề về xã hôi -
nhân khẩu học, tỷ lệ sản lượng vốn là vấn đề về kỹ thuật.
Tất cả những thành phần này như chúng ta đều biết đều có thể thay đổi theo thời
gian, nhưng chúng thay đổi không thường xuyên và ít nhiều mang tính độc lập.
Tuy nhiên trong trường hợp đó, khả năng tăng trưởng bền vững sẽ là một sự may
mắn khó tin được. Hầu hết các nền kinh tế, phần lớn thời gian, không có đường
phát triển cân bằng. Lịch sử những nền kinh tế tư bản nên là một sự xen kẽ nhau
của những giai đoạn dài thất nghiệp và thiếu lao động trầm trọng.
Trên thực tế, lý thuyết đã đưa ra một điều gì đó thậm chí còn sâu sắc hơn. Đặc
biệt, những tác phẩm của Harrod chứa đứng những lời tuyên bố vấn chưa được
nghiên cứu đầy đủ rằng sự tăng trưởng bền vững trong bất cứ trường hợp nào cũng
là một loại không ổn định của sự cân bằng: bất cứ sự bắt đầu nào từ nó sẽ bị thổi
phồng lên một cách quá đáng bởi một quá trình phụ thuộc chủ yếu vào sự khái
quát hoá mơ hồ về hành vi kinh doanh. Quý vị có lẽ vẫn nhớ tới quyển sách "Chu
kỳ kinh doanh" của John Hicks, quyển sách này dựa vào mô hình sự tăng trưởng
của Harrod, nó cần viện nhiều hơn nữa những dẫn chứng mức trần việc làm đầy đủ
khiến cho hoạt động kinh tế bị sa sút và mức sàn đầu tư bằng không để nền kinh tế
được cải thiện. Nếu không thì nền kinh tế kiểu mẫu sẽ bị mất đi.
Cần phải lưu ý rằng bài tiểu luận của Harrod được xuất bản năm 1939 và bài báo
đầu tiên của Domar là vào năm 1946. Lý thuyết về sự tăng trưởng, cũng giống như
những lý thuyết khác trong kinh tế học vĩ mô, là một sản phẩm của thời kỳ suy
thoái kinh tế vào những năm 30 và của chiến tranh mà cuối cùng cũng chấm dứt lý
thuyết này. Tôi cũng vậy. Tuy nhiên tôi cảm thấy dường như những điều nêu ra từ
mô hình này có cái gì đó sai. Một đoàn thám hiểm từ Sao Hoả đến Trái đất nếu có
đọc tài liệu này cũng sẽ chỉ mong tìm thấy mảnh vỡ của chủ nghĩa tư bản, chủ
nghĩa đã bị vỡ vụn từ rất lâu rồi. Lịch sử kinh tế thực chất là một bản ghi chép của
những dao động cũng như sự tăng trưởng, nhưng hầu hết những chu kỳ kinh doanh
dường như có giới hạn của chính nó. Tăng trưởng liên tục, mặc dù bị gián đoạn,
đã biết cả. "Mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển" đã bắt đầu một nền công
nghiệp nhỏ. Nó khuyến khích hàng trăm bài báo mang tính lý thuyết cũng như
thực tế của nhiều nhà kinh tế học khác. Nó đã rất nhanh tìm đường vào trong
những quyển sách giáo khoa và vào kho hiểu biết chung của những người trong
nghề. Thực chất đấy chính là điều cho phép tôi nghĩ rằng tôi là người xứng đáng
được thuyết trình ngày hôm nay. Tuy nhiên, tôi phải tóm tắt kết quả trong một vài
câu, để tôi có thể tiếp tục những câu hỏi thú vị hơn về những gì vẫn chưa được biết
hoặc chưa chắc chắn và vẫn cần được khám phá.
Chỉ tính đến một mức độ hợp lý của tính linh hoạt trong kỹ thuật đã nêu lên được
hai điều. Trước hết, sự tồn tại của một hướng đi khả thi cho sự tăng trưởng bền
vững hoá ra không phải là một sự việc phi thường. Trạng thái bền vững là hoàn
toàn có thể, và phạm vi còn thậm chí rất rộng nếu cường độ hệ số chung rộng. Có
nhiều cách khác mà một nền kinh tế có thể thích ứng với điều kiện của Harrod-
Domar, nhưng đối với tôi thì sự biến thiên trong cường độ hệ số chung có thể là
quan trọng nhất.
Điều thứ hai, hàng hoá bị trả lại giảm bớt nói lên rằng tỷ lệ cân bằng của sự tăng
trưởng không những không cân xứng với tỷ lệ tiết kiệm (vốn đầu tư), mà còn độc
lập với tỷ lệ tiết kiệm (vốn đầu tư). Một nền kinh tế đang phát triển mà thành công
trong việc tăng một cách thường xuyên tỷ lệ tiết kiệm sẽ đạt tới một mức sản
lượng cao hơn là nếu nó không làm như vậy, vì thế nó sẽ phát triển nhanh hơn
trong một thời gian. Nhưng nó sẽ không đạt được một tỷ lệ cao hơn lâu dài trong
sự phát triển sản lượng. Một cách chính xác hơn: tỷ lệ phát triển sản lượng ổn định
mỗi một đơn vị cung cấp lao động độc lập với tỷ lệ tiết kiệm (vốn đầu tư) và phụ
thuộc hoàn toàn vào tỷ lệ phát triển khoa học kỹ thuật theo một ý nghĩa rộng nhất.
Một kết quả thứ ba mà dường như có ích và chắc chắn giúp tạo nên mô hình hấp
dẫn đối với những nhà kinh tế học. Lý thuyết về sự phát triển trước kia máy móc
và theo quy luật tự nhiên, điều này không phải là xấu nhưng các lý thuyết trước đó
hoàn toàn chỉ là sự miêu tả của luồng và trữ lượng hàng hoá.Mô hình tân cổ điển
hoàn toàn hợp lý và thiết thực khi miêu tả những đường cân bằng, tính toán giá và
động lực lãi suất, điều này sẽ khuyến khích đường cân bằng.
Thứ hai, tôi đã bắt đầu làm một số công việc mang tính kinh nghiệm bằng cách sử
dụng hàm số tổng sản lượng với những kết quả đáng ngạc nhiên và rất có ý nghĩa.
Ngay chính bản thân tôi đã rất hoài nghi về cách làm này và tôi biết rằng những
người khác cũng có nỗi nghi ngờ riêng của họ. Đó thực sự là một ý kiến hay khi
chúng ta chắc chắn rằng phương pháp này, ít nhất cơ bản, có thể đối phó với một
vài liều thuốc đầu tiên của chủ nghĩa hiện thực.
Và điều thứ ba là tôi đã bị mắc bẫy vào "Cuộc tranh luận Cambridge" nổi tiếng.
Tôi sử dụng từ "mắc bẫy" bởi vì toàn bộ thời gian đó đối với tôi bây giờ là một sự
lãng phí, một trò chơi hệ tư tưởng theo ngôn ngữ kinh tế học phân tích. Khi đó, tôi
nghĩ - và văn học đã cho tôi lý do để suy nghĩ - rằng một phần của sự tranh cãi về
sự thoát ly ra khỏi sự phát triển của xã hội, về một sự cách ly êm ả. Bởi vậy tôi
muốn chỉ ra rằng những kết luận về lý thuyết và về sự thi hành theo kinh nghiệm
của nó không chắc chắn với công thức đặc biệt đó. Tôi đoán nó đáng được làm,
nhưng tất nhiên không làm yên bất kỳ ai.
Có một sản phẩm phụ tồi trong trọng tâm này về sự mô tả của công nghệ. Tôi nghĩ
tôi chú ý quá ít vào những vấn đề của nhu cầu có hiệu lực. Nói một cách khác: một
lý thuyết về sự phát triển cân bằng rất cần - và vẫn còn cần - một lý thuyết lệch
hướng từ hướng phát triển cân bằng.
Tôi có thể thành thực nói rằng tôi nhận ra sự cần thiết khi đó. Có một đoạn ngắn
gọn ở cuối bài báo của tôi vào năm 1956 mà giải quyết một cách qua loa mối quan
hệ mật thiết của tiền lương thực tế và khả năng của một cái bẫy thanh toán bằng
tiền mặt. Đấy chỉ là một việc làm qua quýt. Cũng có một đoạn tôi cảm thấy tự hào
hơn: nó nêu rõ một vấn đề rằng lý thuyết tăng trưởng cung cấp một khung mà với
nó một người có thể thảo luận một cách nghiêm túc những chính sách kinh tế vĩ
mô mà không chỉ đạt được và duy trì việc làm đầy đủ mà còn chọn lựa một cách
thận trọng giữa sự tiêu dùng và đầu tư hiện hành, và vì thế giữa sự tiêu dùng hiện
tại và tương lai.
Chỉ một vài năm sau đó tôi đã có một kinh nghiệm đáng nhớ tại Hội đồng những
nhà tư vấn kinh tế Kennedy-Heller khi tìm thấy những ý kiến được viết vào Bản
báo cáo Kinh tế năm 1962 (cái này sắp sửa được suất bản bởi MIT Press). Lịch sử
tử, hoặc một nhóm những người tiêu dùng bất tử giống y hệt nhau. Sự bất tử chính
bản thân nó không phải là một vấn đề: mỗi một người tiêu dùng đều có thể bị thay
thế bởi một triều đại, mỗi thành thành viên của nó coi người kế vị như là sự mở
rộng của chính nó. Nhưng không phải là tính thiển cận nào cũng được chấp nhận.
Người tiêu dùng này không tuân theo bất cứ chức năng tiết kiệm ngắn hạn đơn
giản nào, thậm chí cả mô hình Modigliania. Thay vào đó cô ta, hoặc triêù đại, có
nhiệm vụ giải quyết một vấn đề vô hạn về thời gian và vô cùng tiện ích. Điều đó
làm tôi chú ý một cách gượng gạo, nhưng không quá gượng tới mức một người
không muốn biết sự việc này dẫn đến đâu.
Bước tiếp theo khó chấp nhận hơn khi chung với bước đầu tiên. Vì đối với người
tiêu dùng này, mỗi công ty chỉ là một phương tiện dễ dàng, một người trung gian,
một công cụ để thực hiện vấn đề có tính lạc quan liên thời gian chỉ cho những sự
bắt ép mang tính kỹ thuật và sự cung cấp vốn ban đầu. Vì thế bất kỳ một loại thất
bại thị trường nào bị loại từ đầu, bằng sự thừa nhận. Không có sự bổ mang tính
chiến lược, không có sự thất bại đồng hàng, không có sự tiến thoái lưỡng nan của
những tù nhân.
Kết quả cuối cùng là một công trình trong đó toàn bộ nền kinh tế được cho rằng để
giải quyết vấn đề phát triển tối ưu Ramsey qua thời gian, bị xáo trộn không chỉ bởi
những cú sốc đối với thị hiếu và công nghệ. Đối với những điều này, nền kinh tế
thích ứng một cách tối ưu. Những vật không thể tách rời được từ thói quen tư duy
này là sự thừa nhận máy móc rằng hướng đi đã được quan sát là những hướng đi
của sự cân bằng. Bởi vậy chúng tôi được hỏi để coi công trình tôi vừa mới miêu tả
như là một mô hình của thế giới tư bản thực thụ. Những gì chúng ta đã từng gọi là
chu kỳ kinh doanh - hay ít nhất sự tăng vọt giá cả và khủng hoảng kinh tế ngắn kỳ
bây giờ được hiểu như là những đốm sáng tối ưu trong những hướng đi tối ưu để
hưởng ứng sự dao động ngẫu nhiên trong năng suất và sự mong mỏi thời gian rảnh
rỗi.
Tôi nhận thấy điều này không có tính thuyết phục. Thị trường cho hàng hoá và lao
động đối với tôi giống như là những mảnh vỡ không hoàn hảo của bộ máy xã hội
cùng với những nét riêng biệt có tổ chức quan trọng. Chúng dường như không hề
theo kinh nghiệm bắt đầu và kết thúc bằng sự phân tích chuỗi thời gian, là để lờ đi
rất nhiều thông tin quý giá mà không thể đặt vào một hình thức tiện lợi như
vậy.Tôi bao gồm loại thông tin mà được gói giạn trong những kết luận có chất
lượng được đưa ra bởi những nhà quan sát chuyên nghiệp, cũng như những kiến
thức trực tiếp về sự hoạt động của những viện kinh tế. Thái độ hoài nghi luôn luôn
là hơp lê, tất nhiên. Người trong cuộc thỉnh thoảng cũng là nô lệ của những ý kiến
ngớ ngẩn. Nhưng chúng ta không có quá nhiều bằng chứng rằng chúng ta có thể
đủ khả năng để lờ đi mọi thứ trừ chuỗi thời gian của giá cả và số lượng.
Sau sự lạc đề mang tính phương pháp luận này, tôi nên nhắc nhở quý vị nhớ lại
hướng đi của sự tranh luận chính của tôi. Lý thuyết phát triển được phát minh ra
để cung cấp một cách có hệ thống khi nói về và khi so sánh hướng đi cân bằng cho
nền kinh tế. Trong nhiệm vụ đó nó đã tương đối thành công. Tuy nhiên, khi làm
như vậy nó đã thất bại khi đánh giáp lá cà một cách tương xứng với một vấn đề
đáng quan tâm và quan trọng ngang bằng: cách đúng nhất để đối phó với sự lạc
đường từ sự phát triển cân bằng. Một giải pháp hợp lý làm tôi chú ý như là một
người ương ngạnh: đó là phủ nhận sự tồn tịa của vấn đề đã phân tích bằng cách
tuyên bố rằng "sự dao động lên xuống của nền kinh tế" không phải là một sự
chệch hướng đi từ sự phát triển cân bằng, trừ những ví dụ của sự phát triển cân
bằng. Ấn tượng của tôi là niềm tin vào câu chuyện này ít nhiều hạn chế đối với
Bắc Mỹ. Có thể những kinh nghiệm của các nền kinh tế châu Âu không cho thêm
chính nó vào sự giải thích này. Có sự lựa chọn nào không?
Nó sẽ không làm đơn giản để thêm vào mô hình ưa thích của bạn trong chu kỳ
kinh doanh trên con đường phát triển cân bằng. Điều đó có thể làm vì những sự
chệch hướng rất nhỏ, có tính chất của những sai lầm nhỏ có liên quan đến nhau.
Nhưng nếu một người nhìn vào những suất phát hàng quí cần thiết từ sự phát triển
cân bằng, như là đã xẩy đến với nền kinh tế Châu Âu rộng lớn từ năm 1979, không
thể tin rằng chính con đường phát triển cân bằng không bị ảnh hưởng bởi kinh
nghiệm ngắn và vừa, liệu qua tổng đầu tư vào thiết bị mới hoặc qua sự sửa sang lại
thiết bị cũ. Tôi cũng có ý tin rằng sự phân chia của thị trường lao động bằng nghề
nghiệp, công nghiệp và vùng, cùng với số lượng khác nhau về sự thất nghiệp từ
hợp lý được đưa ra bởi một vài kết quả toán kinh tế thiết thực và bởi mọi thứ
chúng ta nghĩ chúng ta biết về quyết định đầu tư trong những công ty thực.
Malinvaud nhấn mạnh "lợi nhuận" như là một yếu tố quyết định của đầu tư, nhưng
ông cũng nhấn mạnh rằng ý nghĩa chính xác của lợi nhuận là không rõ ràng mỗi
khi tương lai không rõ ràng.
Kết quả chính của phép phân tích của Malinvaud là làm cho hoàn cảnh trở nên dễ
hiểu hơn, mà dưới hoàn cảnh này tình trạng vững vàng của thuyết kinh tế Keyne là
có thể, và khi nó ổn định cục bộ, tức là khi nó sẽ bị tiếp cận bởi một nền kinh tế bị
xáo trộn từ một con đường cân bằng không xa. Trường hợp không bền vững cũng
đáng lưu ý, bởi vì nó gợi ý khả năng của những nguyên nhân nhỏ có kết quả lớn.
Tất cả những sự tranh luận về tính ổn định này phải có tính chất thăm dò bởi lãi
suất và tiền lương thực tế được cho là sẽ ổn định lại khi số lượng xê dịch. Đó
không phải là một lý do thoả đáng để bỏ qua những kết quả trong một tinh thần
theo chủ nghĩa thuần tuý; nhưng hiển nhiên chương trình nghiên cứu chưa được
hoàn thành.
Bản phác thảo của Malinvaud cũng tốt bằng một quyển sách của một người nào
khác. Hướng suy nghĩ của riêng tôi - chỉ là một hướng suy nghĩ - là thử một quan
điểm hơi khác. Hãy nghĩ về sự không rõ ràng của khái niệm lợi nhuận và mối quan
hệ của nó đối với đầu tư gợi nhớ lại một điều mà nhiều công ty phản ứng lại
những hoàn cảnh bị thay đổi một cách chính xác bằng cách thay đổi giá cả của
chúng. Sự lựa chọn hiển nhiên đối với một mô hình với giá cả khó khăn là một mô
hình với những công ty định ra giá cả cạnh tranh còn thiếu sót. Tất nhiên, sau đó
một người không còn có thể nói theo cách đơn giản nhất về sự vượt quá cung của
hàng hoá. Nhưng chúng ta có thể nhận thấy một điều gì đó đáng lưu ý; khả năng
tồn tại cùng một lúc những con đường cân bằng, một vài trong số những con
đường này có thể tốt hơn những cái khác. (Thường thì những cái tốt hơn có sản
lượng và việc làm cao hơn là những cái tồi hơn, bởi vậy một cái gì đó giống như là
một sự suy thoái kinh tế ngắn hạn mới xuất hiện.) Sự tác động qua lại của sự tăng
trưởng và chu kỳ kinh doanh sau này có thể đưa ra một hình thức hơi khác: sự luân
phiên nhau của hàng hoá và sự cân bằng xấu không chỉ là một ước lượng đơn
Một vài đoạn đầu trong bài báo vào năm 1957 của tôi hoàn toàn có mâu thuẫn
trong tư tưởng, không phải về phương pháp mà về cách sử dụng dữ liệu tổng hợp
dựa trên đầu vào và đầu ra. Sau khi bày tỏ sự nghi ngờ của tôi đi tiếp theo một tinh
thần căn cứ vào sự thật. Một người không thê làm toán kinh tế mà không có những
mối quan hệ tổng hợp, và ít nhất ngay lúc này không có sự thay thế nào cho toán
kinh tế. Cách duy nhất tôi có thể giải thích cho cường độ của cuộc tranh cãi về vấn
đề này là đổ nó tại sự tin tưởng rằng có một cái gì đó thuộc bản chất hệ tư tưởng
về khái niệm là lợi nhuận dựa trên vốn tiêu biểu cho sự trở lại đối với một yếu tố
sản xuất như đã bị đổ tội bởi thị trường. John Bates Clark có thể đã có suy nghĩ
cách đây một thế kỷ, rằng sự phân phối theo sản phẩm cận biên là "thích đáng"
nhưng không nhà kinh tế hiện đại nào, không nhà kinh tế hiện đại "tư sản" nào,
chấp nhận lập luận đó.
Nhưng dù sao, kết quả quan trọng nhất của bài tập năm 1957 thật sửng sốt. Tổng
sản lượng mỗi giờ làm việc trong nền kinh tế Hoa Kỳ đã tăng gấp đôi giữa năm
1909 và 1949; và bảy phần tám sự tăng lên đó có thể do "sự thay đổi khoa học kỹ
thuật theo ý nghĩa rộng nhất" và chỉ có một phần tám còn lại là do sự tăng thêm
theo lối cổ truyền trong cường độ vốn. Trên thực tế Solomon Fabricant tại Cục
nghiên cứu kinh tế quốc gia đã bắt kịp sự suy sụp giống như vậy thời kỳ trước kia,
sử dụng những phương pháp theo cơ sở giải tích. Tôi nghĩ tôi đã mong đợi tìm ra
một vai trò lớn hơn những gì tôi thực tế tìm được cho sự hình thành vốn trung
thực, tôi sẽ quay trở lại vấn đề này ngay sau đây.
Kết luận bao quát đã được đưa ra hợp lý một cách đáng ngạc nhiên trong suốt ba
mươi năm qua kể từ khi đó trong suốt thời gian sau này "sự tính toán tăng trưởng"
đã được tinh lọc rất nhiều đặc biệt là bởi Edward Denison. Sự tinh lọc chính là để
mở ra "sự tiến bộ khoa học kỹ thuật theo nghĩa rộng nhất" thành một số yếu tố mà
trong đó những biến số vốn nhân lực khác nhau và "sư thay đôi khoa học kỹ thuật
theo nghĩ hẹp" là quan trong nhất. Để đưa ra cho quý vị một ý niệm về tình trạng
hiện tại của trận đấu tôi sẽ trích dẫn những đánh giá gần đây nhất của Denison cho
Hoa Kỳ.
Lấy thời kỳ từ năm 1929 đến 1982 và giải quyết vấn đề chu kỳ kinh doanh, ông