TIỂU LUẬN
CHÍNH SÁCH
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Mục lục
Lời mở đầu Trang 3
Khái quát về chính sách xóa đói giảm nghèo Trang 4
1. Đói nghèo là gì? Trang 4
2. Nguyên nhân của đói nghèo.
3. Khái niệm chính sách xóa đói giảm nghèo Trang 5
4.Mục tiêu Trang 5
4.1 Mục tiêu tổng quát.
4.2 Mục tiêu cụ thể.
5. Đối tượng áp dụng chính sách Trang 6
Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo
1.Nội dung chính sách xóa đói giảm nghèo Trang 7
1.1 Chương trình phát triển nông thôn, thủy lợi, giao thông
Chương trình nâng cao chất lượng phổ thông các cấp
Chương trình củng cố và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục tiểu học
Chương trình tăng cường đẩy mạnh giáo dục phi chính thức
Chương trình cải tiến hệ thống dậy nghề đáp ứng nhu cầu thị trường
Chương trình 7 của Bộ giáo dục và đào tạo về hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú.
Chương trình y tế
Chương trình nâng cao chất lượng phổ thông các cấp
Chương trình củng cố và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục tiểu học
Chương trình tăng cường đẩy mạnh giáo dục phi chính thức
2. Các yếu tố tác động tới chính sách xóa đói giảm nghèo Trang8
a.Các yếu tố tích cực
3. Kết quả đạt được
a.Thành tựu
b. Khó khăn và hạn chế Trang 9
4. Kiến nghị giải pháp Trang 10
là thiếu vốn. Nông dân nghèo vốn thấp, làm không đủ ăn, thường xuyên phải đi làm
thuê hoặc đi vay tư nhân để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày nên không có
vốn để sản xuất, không đuợc vay ngân hàng vì không có tài sản thế chấp.
- Không có kinh nghiệm làm ăn : Kinh nghiệm làm ăn và kỹ thuật sản xuất rất
hạn chế. Khoảng 45,77% hộ thiếu kinh nghiệm làm ăn do họ thiếu kiến thức, kỹ
thuật canh tác, áp dụng kỹ thuật không phù hợp với đất đai, cây trồng, vật nuôi,
không có cơ hội học hỏi kinh nghiệm không đuợc hỗ trợ cần thiết và một phần là do
hậu quả của một thời gian dài họ sống trong cơ chế bao cấp.
- Thiếu việc làm : đây là nguyên nhân phổ biến ở các tỉnh trên cả nước. Trồng
trọt thì không thâm canh, lao động dư thừa, chỉ chờ vào việc làm thuê. Thiếu tay
nghề, trình độ, học vấn thấp, rất ít có cơ hội tìm việc làm phi nông nghiệp, số ngày
làm không nhiều, thu nhập thấp.
- Đất canh tác ít : : Bình quân hộ nghèo chỉ có 2771m2 đất nông nghiệp.
Khoảng 61% hộ nghèo thiếu đất, ở khu vực có hợp tác xã thì có nhiều hộ không có
khả năng thanh toán nợ cho hợp tác xã nên địa phương rút bớt ruộng đất đã giao cho
họ, càng thiếu ruộng. Ngược lại, một số gia đình không có đủ khả năng thâm canh
nên không dám nhận đủ ruộng được giao.
- Đông nhân khẩu, ít người làm: Bình quân hộ nghèo có 5,8 nhân khẩu, chỉ có
2,4 lao động. Ít người làm, đông người ăn, dẫn đến thu nhập thấp và đời sống gặp
nhiều khó khăn.
- .Trình độ học vấn ít: Không có cơ hội học hỏi thêm kiến thức và khó tiếp cận
thông tin, tỷ lệ đến trường thấp vì gặp kó khăn về tài chính và chi phí cơ hội con em
đến trường cao, tỷ lệ nghèo đói của những người chưa hoàn thành chương trình tiểu
học còn cao.
- Cơ sở hạ tầng nông thôn còn hạn chế : người nghèo chịu thiệt thòi do sống ở
những vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông không thuận tiện, điện, đường, trường trạm
thưa và thiếu, thủy lợi, tiếu tiêu thấp kém.
- Chính sách nhà nước thất bại : sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng
chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương và chính sách giá lượng tiền
đã đem lại kết quả xấu đến nền kinh tế vốn đã ốm yếu của Việt Nam.
dân cư ở các huyện nghèo gấp 5 đến 6 lần so với hiện nay. Lao động nông nghiệp
còn khoảng 50% lao động xã hội, phát triển dịch vụ và công nghiệp.
5. Đối tượng áp dụng chính sách
Đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta, những vùng sâu, vùng xa, nơi có cuộc
sông còn khó khăn, cách biệt với đời sống kinh tế xã hội của cả nước, những người
còn ở trình độ thấp, tập quán sản xuất lạc hậu, thiếu thông tin nghiêm trọng về sản
xuất hàng hóa trong nền kinh tế thị trường.
Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo
1.Nội dung chính sách xóa đói giảm nghèo
1.1Chương trình phát triển nông thôn, thủy lợi, giao thông
Chương trình về thủy lợi, giao thông
Đây là chương trình đầu tiên và kéo dài thời gian nhất cho đến nay nó vẫn
được tiếp tục. đa số người nghèo tập trung nhất ở những vùng sâu vùng xa mà chính
những nơi này giao thông thủy lợi lại rất yếu kém do đó Nhà nước ta đã có chủ
trương hỗ trợ cho những khu vực này với khẩu hiệu Nhà nước và nhân dân cùng
làm. Việc phát triển giao thông và thủy lợi sẽ tạo đà cho sự hòa nhập giữa miền
ngược và miền xuôi, thúc đẩy kinh tế miền núi phát triển, tăng năng suất lao động
góp phần bình ổn lương thực trong vùng.
Chương trình định canh định cư
Đây là một chương trình đặc biệt có ý nghĩa trong việc phát triển kinh
tế miền núi theo hướng chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng mới và sản xuất hàng
hóa tập trung. Nó được hiểu là một chương trình bao gồm nhiều công việc, dự án
triển khai trên diện rộng, chủ yếu tập trung vào các khâu khuyến nông, khuyến lâm,
khoa học kỹ thuật vật tư sản xuất tín dụng nông thôn.
Chương trình giải quyết việc làm
Trên cơ sở nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11- 4-1992 một chương trình có
tầm quan trọng tác động tới việc xóa đói giảm nghèo đó là chương trình xúc tiến
việc làm, chương trình ra đời nhằm giải quyết gánh nặng nhân lực trong quá trình tổ
Chương trình cải tiến hệ thống dậy nghề đáp ứng nhu cầu thị trường
Chương trình 7 của Bộ giáo dục và đào tạo về hệ thống trường phổ thông dân
tộc nội trú.
Chương trình y tế
Chương trình y tế chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân nói chung vốn có
thâm niên từ trước rất lâu so với chương trình xóa đói giảm nghèo. Trong chương
trình chung lại có chương trình bảo về bà mẹ trẻ em, đó là hai đối tượng dễ bị tổn
thương và rủi ro trong cuộc sống xã hội và gia đình. Những chương trình hoạt động
chính trong khuôn khổ xóa đói giảm nghèo bao gồm chương trình phòng chống bệnh
bướu cổ, phòng chống bệnh sốt rét, nước sạch cho sinh hoạt nông thôn, tiêm chủng
mở rộng, xóa xã trắng về y tế. Những chương trình này nhằm cải thiện và nâng cao
khả năng đề kháng đối với bện tật, chữa trị và phòng ngừa bệnh dịch hay xảy ra ở
miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Chương trình quốc gia số 06/CP
Chương trình quốc gia số 06/CP là chương trình về phòng chống và kiểm soát
ma túy theo nghị quyết số 06/CP của Chính phủ ra ngày 29-01-1993. Chương trình
này được triển khai nhằm mục tiêu phòng và kiểm soát ma túy mang ý nghĩa chính
trị xã hội và quốc tế rộng lớn. Song quá trình thực hiện nó lại có ý nghĩa rất lớn đối
với đồng bào dân tộc thiểu số, vận động đồng bào dân tộc từ bỏ trồng cây thuốc
phiện và thay thé cây trồng vật nuôi, để bù đắp sự hụt hẫng từ việc mất nguồn thu từ
cây thuốc phiện.
Chương trình bảo vệ môi trường
Chương trình bảo vệ mội trường mà nước ta triển khai nhằm mục tiêu nâng
cao kiến thức, tập huấn kỹ thuật cho đồng bào miền núi. Những yêu cầu, biện pháp
bảo vệ môi trường dễ hiểu, thiết thực đối với họ. Đồng thời có các chương trình
chuyển giao khoa học kỹ thuật để họ có thể thâm canh tăng năng suất lao động trên
đất nông nghiệp hiện có và quan trọng hơn là không mở rộng diện tích canh tác khi
dân số tăng hoặc do thiếu đất bằng cách chuyển đất rừng làm nương rẫy. Tuy trọng
tâm của những chương trình được triển khai là tập trung vào việc xóa đói giảm
nghèo giải quyết những bức xúc của người nghèo nhưng không cho phép xâm hại
giới trên thế giới đã có những biến đổi không thuận lợi về kinh tế như khủng hoảng
tài chính đã xảy ra dẫn đến lạm phát tăng cao: nhiều mặt hàng tăng giá. Điều này
gây khó khăn đối với những hộ nghèo, họ không đủ tiền để mua những mặt hàng
thiết yếu phục vụ cho sản xuất và cuộc sống hàng ngày.
- Những tác động của biến đổi khí hậu lên các nguồn tài nguyên thiên
nhiên và năng suất lao động sẽ giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, gia tăng đói nghèo
do giảm cơ hội tạo thu nhập
- Cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu lan nhanh chóng nó sẽ đe dọa
đến việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo. Nguồn cung cấp lương thực thực
phẩm từ sẽ bị cắt giảm từ các tổ chức nước ngoài hỗ trợ.
- Nước ta hiện nay là nước đang phát triển, ngân sách nhà nước được
trải đều cho các lĩnh vực kinh tế xã hôi khác mà ngân sách dành cho xóa đói giảm
nghèo còn hạn chế ( 2% tổng ngân sách nhà nước). Do vậy chưa có đủ lực để thực
hiện một cách triệt để chính sách xóa đói giảm nghèo.
- Việc lập kế hoạch, chương trình, sự phân công công việc của các cấp
các ngành chưa thật rõ ràng. Nhiều cán bộ chưa nhận thức rõ trách nhiệm của mình
nên việc đánh giá và xem xét nhìn nhận vấn đề nghèo đói chưa được khách quan dẫn
đến nhiều sai lệch trong quá trình thực thi chính sách.
3. Kết quả đạt được
a. Thành tựu
Trong gần 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp với thực
tiễn nước ta, công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu đang kể.
Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh trong khoảng thời gian 5 năm từ 17,2% năm 2001 với
2,8 triệu hộ, xuống còn 8,3 % năm 2004 với 1,44 triệu hộ, bình quân mỗi năm giảm
34 vạn hộ, đến cuối năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ. “ Những thành
tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong
phát triển kinh tế”. Đó là đánh giá trong “Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004”
của Ngân hàng thế giới.
bình quân khoảng 60.000đồng/người. Trong khi đó, một số địa phương chưa chủ
động huy động hoặc huy động chưa tương xứng với tiềm năng của nguồn lực tại
chỗ, chưa huy động được sự tham gia mạnh mẽ của các tổ chức công đoàn, cá nhân
có điều kiện và công cuộc xóa đói giảm nghèo. Vì vậy, chưa đáp ứng được nhu cầu
cần hỗ trợ của người nghèo để đủ điểu kiện thoát nghèo bền vững, dấn đến mục tiêu
thoát nghèo khó thực hiện được.
Một số cơ chế và chính sách biện pháp hỗ trợ xóa đói giảm nghèo chưa phù hợp,
việc tổ chức thực hiện còn bất cập, mang tính bao cấp nên không tạo được động lực
để người nghèo chủ động vượt nghèo. Biện pháp hỗ trợ làm nhà cho đồng bào người
nghèo chưa phù hợp với nhu cầu và tập quán của từng dân tộc, địa phương; mức chi
phí khám chữa bệnh còn thấp, mức vay vốn tín dụng ưu đãi còn thấp.
Hệ thống thông tin còn yếu kém, chưa rộng khắp, nên việc nắm bắt tin tức về những
chính sách xóa đói giảm nghèo của nhà nước đối với họ chưa nhiều. Khó tiếp cận
được với kinh nghiệm làm ăn, những mô hình sản xuất mới, tấm gương của nông
dân vượt khó thoát nghèo
Việc tổ chức thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo không đồng đều ở một số
địa phương. Đội ngũ cán bộ vừa thiếu số lượng và chất lượng, phần lớn cán bộ chưa
được đào tạo bồi dưỡng thường xuyên. Thường thì một người sẽ kiêm nhiệm nhiều
việc, họ không thường xuyên lui tới giám sát việc làm ăn sử dụng nguồn vốn vay
của người nghèo có đạt hiệu quả không.
Các báo cáo cuối năm thường không trung thực chỉ chạy theo thành tích nên khó
khăn cho việc xác định tỷ lệ nghèo trong thực tế.
4. Kiến nghị giải pháp
- Bắt đầu nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững là điều kiện tiên quyết để giảm
nghèo.
- Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các loại hình dịch vụ,
giáo dục, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường.
- Xã hội hóa các hoạt động xóa đói giảm nghèo đặc biệt về nguồn lực.
thời gian ngắn mà nó phải có kế hoạch, chính sách cụ thể và được thực hiện từng
bước. Nó đòi hỏi cần phải có sự nỗ lực hết mình của tất cả mọi người.