Phương pháp thay đổi cách sử
dụng quyền sở hữu
Bạn có một chiếc xe Honda chạy ngon lành, bạn là chủ nó; bạn bán nó cho
tôi, tức là quyền sở hữu thay đổi, nó vẫn chạy ngon. Nếu xe của bạn cà rịch cà
tàng, tôi mua nó thì nó cũng vẫn chạy như thế. Vậy vấn đề cốt lõi nằm ở cái xe
chứ không phải bạn hay tôi ai là chủ. Ở các nước phát triển, việc mua bán, sáp
nhập công ty diễn ra liên tục; không ai đặt ra tính hiệu quả của hoạt động của công
ty, vì nó đã hoạt động hữu hiệu rồi. Ở ta, doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa
hiệu quả, cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê đều khó khăn; luật phải thay đổi liên
tục để đẩy mạnh những hoạt động kia nhưng chưa thành công. Chiếc xe khó bán,
phải tập trung chấn chỉnh chiếc xe.
Chấn chỉnh chiếc xe tức là nhìn vào bộ máy của doanh nghiệp nói chung.
Khi nhìn như thế, ta thấy có hai lĩnh vực luật pháp điều chỉnh nó. Xin tưởng tượng
doanh nghiệp như là một hình vuông để dễ phân biệt. Thứ nhất, luật pháp do nhà
nước ấn định cho cả cái hình đó như: luật kế toán thống kê, xuất nhập khẩu, lao
động, môi trường, nhãn hàng hóa Ta gọi những luật lệ này là "quản lý kinh
doanh". Nó có hai đặc điểm là (l) từ ngoài áp lên công ty, và (2) mục đích của nó
là phục vụ lợi ích của chính quyền, mà chính quyền thì lo cho xã hội.
Bây giờ thêm vào trong hình vuông bốn khung nhỏ từ trên xuống dưới là:
cổ đông - hội đồng quản trị - tổng giám đốc - các phòng ban; chúng nối với nhau
bằng một hàng kẻ dọc ở giữa cho biết cấp bậc quyền hành. Đó là sơ đồ tổ chức của
một công ty. Đối với sơ đồ ấy, có một loại quy định khác nữa điều chỉnh hai
khung ở dưới cùng, tức là tổng giám đốc và các phòng ban, xin gọi là cỗ máy của
công ty. Luật lệ chi phối cỗ máy ấy ta sẽ gọi là "quản trị công ty", thời bao cấp gọi
là quản lý xí nghiệp. Đặc điểm của nó là (l) nằm bên trong công ty, do công ty viết
ra và (2) đi từ tổng giám đốc xuống các phòng ban. Quy định về quản trị công ty
không chi phối hội đồng quản trị.
Vậy là ít ra có hai lĩnh vực về luật lệ điều chỉnh công ty: quản lý kinh
doanh và quản trị công ty. Tôi xin đi vào nội dung quản trị công ty là chủ điểm của
bài này.
Ngân sách này chỉ được lập sau khi người ta đã ước tính lời lỗ của việc đầu tư dựa
trên các tỷ số tài chính khác nhau. Sau khi có ngân sách điều hành và đầu tư, giám
đốc công ty giải ngân cho các đơn vị hoạt động như họ đã đề xuất. Thế là xăng
nhớt được đổ vào xe Honda!
Nếu xe Honda có đồng hồ báo thì công ty có một ban kiểm soát nội bộ. Ban
này kiểm tra việc chấp hành cẩm nang của tất cả các phòng ban trong công ty; họ
làm thường xuyên, chứ không phải chờ đến khi nào có sai sót bị phát hiện mới
đến. Là người đại diện của chủ ở trong công ty, họ khác với kiểm toán viên độc
lập là những người kế toán của một công ty kiểm toán được thuê ở ngoài vào để
kiểm tra và chứng nhận những con số tiền bạc cùng các giao dịch tương ứng ghi
trên sổ sách kế toán mà công ty sẽ công bố ra bên ngoài. Kiểm soát nội bộ cũng
kiểm soát phòng kế toán, nhưng họ chú trọng vào sự phối hợp công tác giữa phòng
này với các đơn vị khác trong công ty. Họ cũng khác với ban kiểm tra của công ty
do cổ đông bầu ra. Ban sau làm việc với hội đồng quản trị và chọn kiểm toán viên
độc lập. Họ là người đại diện của chủ.
Trông coi việc thực hiện ngân sách, cắt cử kiểm soát nội bộ do giám đốc
công ty làm, nếu là công ty nhỏ; do giám đốc tài chính nắm nếu là công ty lớn.
Dựa vào những điều trình bày trên đây, ta nhận thấy như sau:
Một, chủ tư bản đứng ngoài doanh nghiệp nhưng đặt tai mắt ở đấy.
Chẳng có chuyện họ tách quyền sở hữu ra khỏi quyền quản lý. Qua các quyển cẩm
nang, họ kiểm soát hoạt động của công ty về ba mặt: (l) các chức danh thực hiện
công việc - họ không kiểm soát cá nhân, nhưng kiểm soát vai trò của từng cá nhân,
(2) sự thực hiện các giao dịch trong công ty - có những thủ tục rất chi tiết, hợp lý
đến mức vẽ thành biểu đồ, điện toán hóa được (3) việc lưu chuyển của đồng vốn
các loại mà tính chính xác của chúng được người chuyên môn từ bên ngoài xác
nhận. Để đo lường tiến độ hoạt động của công ty so với mục tiêu đã đề ra, họ dùng
ngân sách. Họ có chính sách công ty để uốn nắn hoạt động của nó và có kiểm soát
nội bộ để bảo đảm công ty được điều hành đúng như mình đã định. Chủ tư bản sử
dụng quyền sở hữu của họ bằng cách: tuyển chọn và sa thải giám đốc, ấn định mức
lời lãi mong đợi qua ngân sách điều hành và dùng tai mắt là lực lượng kiểm soát
nhiều hơn, nhưng họ còn bị tùy thuộc vào thân chủ là các giám đốc công ty. Nếu
tiền bạc trong một công ty do bà vợ ông giám đốc nắm thì còn lâu đề nghị của tư
vấn về lập ngân sách mới được chấp nhận. ISO được chấp nhận ở các công ty vì
nó chỉ đụng vào từng phần hoạt động của công ty; kiểu như trong cái xe Honda
bạn chỉ thay cái máy.
Doanh nghiệp nhà nước chỉ mới có các
quy định về quản lý kinh doanh là chính. Nhiều công ty lớn cũng có những chế độ,
thể lệ, nhưng chúng còn chung chung, lại không được cưỡng chế thi hành. Doanh
nghiệp nhà nước bị nhiều nơi thanh tra, kể cả thanh tra nhân dân của cơ sở, nhưng
những người này dựa trên quy định nào để thanh tra? Các quy định về quản lý
kinh doanh không sát với tình hình cụ thể của công ty để có thể xác định sự đúng
đắn của các hoạt động trong nội bộ công ty. Vì thiếu một ban kiểm soát nội bộ nên
những quy định kiểm soát nội bộ trên văn bản đã không đủ sức ngăn ngừa các vi
phạm trong công ty khiến đã xảy ra những vụ thâm lạm tiền bạc của công ty lên
đến hàng tỉ đồng.
Sang đến cách thức quản lý doanh nghiệp nhà nước, cách làm là kiểm soát
chặt chẽ giám đốc. Người ấy được đặt bên cạnh những người khác cũng có quyền
quyết định như: phó giám đốc thường là bí thư đảng ủy, chủ tịch công đoàn, rồi kế
toán trưởng. Trong doanh nghiệp nhà nước có nhiều trung tâm quyền lực, giám
đốc làm sao thi thố tài năng?
Hơn nữa, tiêu chuẩn đánh giá giám đốc theo Luật Doanh nghiệp nhà nước
mới cũng kỳ lạ: để lỗ hai năm liên tiếp, không đạt chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên
vốn, lời lỗ đan xen mà không khắc phục được. Nó kỳ ở chỗ là cơ quan chủ quản
chỉ muốn giám đốc phải kiếm ra lời lãi nhưng lại không tạo điều kiện để cho họ
làm. Giám dốc quyết định một dự án mà bộ tứ không chịu thì sao? Họ bị ba, bốn
người cản trở việc kiếm lời lãi cho công ty, trong khi lại phải chịu trách nhiệm
rành mạch về việc ấy. Quy định thì gắt gao, nhưng cơ chế "nắm đầu rắn" sẽ cho
phép giám đốc đổ tội cho cơ chế và kết quả là sẽ không ai bị thay!
Khi quản lý doanh nghiệp, chủ là nhà nước với chủ tư bản có cùng một mồi
lo là làm sao bảo toàn và phát triển vốn. Tuy nhiên, cách làm của chủ tư bản khác