Chữa ung thư bằng liệu pháp tự nhiên
Ung thư không tự nhiên sinh ra, cũng không phát triển thình lình mà là kết
quả của một sự tương tranh dai dẳng giữa hệ miển dịch của cơ thể đã bị suy yếu
và quá trình tiếp xúc lâu dài với các nhân tố gây ung thư. Do đó chống ung thư
cũng phải dựa vào cơ chế đối kháng nầy. Một mặt tăng cường hệ miển dịch và
ngăn chận ung thư bằng các chất chống oxy hoá từ rau quả và ngủ cốc, mặt khác
cần giảm bớt hoặc chấm dứt hẳn việc phơi nhiễm hoặc tiếp xúc với các yếu tố gây
ung thư.
Tương quan chính và tà trong cuộc chiến chống ung thư trong cơ thể
Thông thường, các tế bào trong cơ thể đều có một tuổi thọ nhất định và bị
chi phối bởi một quy luật chung. Sinh ra, phát triển và hư hoại. Khi một tế bào
chết đi sẽ được thay thế bởi một tế bào mới sinh ra. Quá trình phát triển ổn định
và có giới hạn nhằm duy trì hoạt động sống của mọi tổ chức, cơ quan trong cơ thể.
Tuy nhiên trong những trường hợp nhất định, do sức đề kháng của cơ thể suy yếu
và dưới tác động lâu dài của nhân tố gây ung thư, một số tế bào phát triển bất
thường, sinh sôi tràn lan, gia tăng không hạn chế trở thành tế bào ung thư, khối u
ung thư. Tuỳ theo vị trí của khối u, sự phát triển bất thường nầy có thể xâm lấn,
chèn ép hoặc phá huỷ cơ cấu hoặc làm rối loạn công năng của các cơ quan.
Theo các nhà khoa học, dù chưa xác định được cụ thể nguyên nhân gây ra
ung thư nhưng chúng ta đã biết được hàng loạt nhiều yếu tố khác nhau có thể dẫn
đến ung thư. Những tác nhân gây ra ung thư có thể là rượu, khói thuốc, bức xạ,
ánh nắng mặt trời, đặc biệt là những thức ăn thức uống bị nhiễm hoá chất độc hại
trong quá trình nuôi trồng hoặc chế biến, vận chuyển, bảo quản. Ung thư phát
triển qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn tiềm ẩn có thể kéo dài nhiều năm trời, thậm
chí 10 năm, 20 năm hay hơn nửa trước khi khối u to lớn đủ để được phát hiện. Sự
phơi nhiễm các yếu tố gây ung thư cũng không phải trong một gian đoạn ngắn .
Chẳng hạn đối với bệnh ung thư vú, một loại ung thư thường gặp ở nử giới, Bác sĩ
John Muir, một chuyên gia về ung thư ở Trung Tâm Y khoa Walnut Creek,
California cho rằng dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế sinh bệnh của
loại ung thư nầy và “thực phẩm mà mà người bệnh ăn uống trong khoảng một năm
phân tử nầy có khuynh hướng di chuyển tự do để chiếm đoạt một điện tử của một
phân tử khác để tự ổn định. Như vậy điều nguy hiểm của gốc tự do không phải là
huỷ diệt tế bào mà là làm tổn thương tế bào để đến phiên tế bào bị tổn thương -một
gốc tự do mới- lại oxy hoá một tế bào khác và phản ứng dây chuyền cứ tiếp tục
xảy ra. Qua cơ chế nầy, các gốc tự do đã tham gia phản ứng với các chất hửu cơ
gây tổn thương màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi chất giữa tế bào với
bên ngoài và nguy hiểm hơn, các gốc tự do có thể làm thay đổi cấu trúc gen của tế
bào. Do đó các gốc tự do là mầm mống quan trọng dẫn đến nhiều thứ bệnh tật
khác nhau như tim mạch, parkinson, alzheimer và cả ung thư.
Rau quả có màu xanh đậm, vàng hoặc đỏ là nguồn cung cấp chất chống oxy
hoá và ngăn chận ung thư quan trọng
Điều may mắn là thiên nhiên đã có sẳn một cơ chế để kềm hảm sự phảt
triển của những gốc tự do. Đó là những chất chống oxy hoá được cung cấp từ các
loại rau quả và ngủ cốc trong tự nhiên. Có hàng ngàn chất chống oxy hoá khác
nhau. Chúng thuộc 2 nhóm chính, nhóm flavonoids và nhóm phytochemicals.
Những chất chống oxy hoá ngoài tác dụng trung hoà các gốc tự do bằng cách
nhường một điện tử của mình cho chúng qua đó có thể cắt đứt phản ứng dây
chuyền, ngăn chận tổn thương DNA do các độc chất gây ra còn có thể khống chế
sự phát triển của tế bào ung thư. Càng ngày càng có nhiều nghiên cứu về tác dụng
kỳ diệu của những chất chống oxy hoá. Nhiều sinh tố và khoáng chất là những
chất chống oxy hoá. Các chất quan trọng nhất là sinh tố A, beta caroten (một sắc
tố thực vật sẽ được cơ thể chuyển hoá thành sinh tố A), sinh tố C, E, khoáng chất
selenium. Thứ đến là sinh tố B2, kẻm, đồng, magnesium, co-enzym Q10, các
carotenoids lutein và lycopen. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã cho biết ăn rau quả
nhiều có thể giúp chống lại các loại ung thư, nhất là 2 loại ung thư vú và ung thư
tiền liệt tuyến. Các nhà khoa học đặc biệt lưu ý đến bông cải và các loại cải bắp.
Những loại thức ăn nầy đóng vai trò quan trọng giúp ngăn ngừa ung thư vú cho
những phụ nử sắp mãn kinh. Bông cải có chứa nhiều sinh tố C, acid folic,
potasium, nhiều carotenoids và chất indole-3-carbinol, một chất cần thiết cho sự
chuyển hoá các hormone sinh dục. Cải bắp có nhiều sinh tố B1, C, E, acid folic,
người đều cho thấy chất tạo màu sẫm có hợp chất anthocyanin trong các loại rau
màu đỏ, màu tía và màu xanh có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.
Chẳng hạn, chất anthocyanin trong cà rốt và củ cải, quả dâu tây có thể làm giảm
sự phát triển của tế bào ung thư từ 50 đến 80%.
Ngoài ra, tập quán uống trà cũng có ảnh hưởng tốt đến việc phòng chống
ung thư. Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Weisburger, cả trà xanh và trà đen đều có
hàm lượng cao những chất phytochemicals là những chất chống oxy hoá có khả
năng hoá giải những gốc tự do và ngăn chận tổn thương tế bào do khói thuốc lá
hoặc những độc chất hoá học. Mới đây, một thí nghiệm khoa học tại trường Đại
học Arizona, Mỷ do Tiến sĩ Sherry Chow chủ trì cũng cho thấy trà xanh có nhiều
hoạt chất epigallocatechin gallate, một chất chống oxy hoá. Những người uống từ
8 đến 16 tách trà xanh mỗi ngày có thể bổ sung một lượng chất epigallocatechin
gallate đủ để làm gia tăng đến 80% loại enzym GST, một enzym có tính năng giải
độc và chống ung thư. GST có khả năng biến đổi những phân tử gây ung thư
thành những phân tử trơ không ảnh hưởng đến chất liệu cấu tạo di truyền DNA.
Người ta cho rằng những dân tộc châu Á như Trung quốc, Nhật bản có tỷ lệ tim
mạch và ung thư thấp hơn so với người Âu Mỷ một phần có thể là nhờ vào tập
quán hay uống trà.
Vậy liệu ăn bao nhiêu thì đủ. Theo khuyến cáo của các chuyên viên dinh
dưỡng Liên Hiệp Quốc, mỗi người nên ăn khoảng 400g rau quả mỗi ngày. Ngoài
ra, điều cần lưu ý là giá trị của các loại rau quả khác nhau không chỉ ở chủng loại
mà còn ở cách trồng trọt, chăm bón và cả qúa trình chế biến . Một nghiên cứu
kéo dài 10 năm của các nhà khoa học trường Đại học California, Mỷ đã cho biết cà
chua được chăm bón bằng phân hửu cơ theo lối truyền thống có hàm lượng hợp
chất flavonoids, một chất chống oxy hoá, cao gấp 2 lần so với cách trồng trọt
thông thường hiện nay. (Cách trồng hiện nay thường xử dụng phân hoá học,
thuốc trừ sâu rầy hoặc hoá chất kích thích tăng trưởng) Ngoài ra, Hội Ung thư
quốc gia Mỷ cũng nghiên cứu thấy những người dùng các loại thực phẩm tự nhiên
có chứa các sinh tố B6, B12 và Folate sẽ giảm nguy cơ ung thư tuỵ tương ứng là
81%, 73% và 52%. Ngược lại những người dùng các viên sinh tố tổng hợp có các
chất xơ, nhiều sinh tố nhóm B, khoáng chất và những chất chống oxy hoá
isoflovonoids góp phần chống lại các bệnh ung thư.
Ngoài ra, thực đơn phòng chống ung thư còn xử dụng một số loại hạt và
quả hạch như quả óc chó , hạt lanh, hạt hạnh nhân, hạt dẻ, hạt mè, hạt bí rợ, hạt
hướng dương. Những loại hạt nầy là một nguồn cung cấp năng lượng dưới dạng
acid béo hửu ích. Trong nhiều loại hạt nầy có chứa oestrogen thực vật thường gọi
là lignan có tác dụng thu nhỏ khối u ung thư. Một báo cáo tại cuộc hội thảo về
ung thư vú vào tháng 12/2000 tại San Antonio, Mỷ đã cho biết các bệnh nhân ung
thư vú dùng 25g hạt lanh mỗi ngày trong khỏang 38 ngày đã có tác dụng làm thu
nhỏ khối u ung thư rõ rệt tương tự như những người đã dùng thuốc tamoxifen.
Ngoài oestrogen thực vật, các loại hạt nhiều chất béo còn cung cấp chất xơ, nhiều
chất chống oxy hoá như selenium, magnesium, sinh tố E và acid béo omega 3 có
lợi cho hoạt động của tim mạch và hệ thần kinh. Cần dùng nhiều loại hạt cũng
như nhiều loại đậu và rau quả, củ khác nhau nhằm tạo sự đa dạng sinh học để đáp
ứng đủ những nhóm chất cần thiết cho nhu cầu biến dưỡng của cơ thể. Liều các
loại hạt và quả hạch được đề nghị là khoảng 25g đến 30g mỗi ngày. Với chế độ
dinh dưỡng lành mạnh, không dùng thịt cá, các nguồn thực phẩm chủ yếu được
khuyến cáo ở tỷ lệ 50% ngủ cốc, 20% đậu, phần còn lại là rau quả, củ.
Giảm bớt hoặc chấm dứt hẳn việc tiếp xúc với các yểu tố gây ung thư hoặc
làm suy giảm hệ miển dịch
Việc tăng cường sức phòng vệ cơ thể thông qua những loại thực phẩm có
nhiều chất chống oxy hoá chỉ có ý nghĩa thiết thực khi được thực hiện song song
với những biện pháp nhằm giảm việc tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư hoặc
làm gia tăng các gốc tự do trong cơ thể.
· Không hút thuốc. Thuốc lá là nguồn cung cấp những gốc tự do lớn
nhất. Có hàng ngàn chất độc hại trong những điếu thuốc lá. Một so sánh còn nói
rằng hút một hơi thuốc còn độc hại hơn gấp 600 lần so với hít phải một hơi khói
thải từ xe cộ. Hút thuốc không những gây hại cho bản thân mà còn làm khói
thuốc lan toả có hại cho những người chung quanh.
· Không ăn các loại thực phẩm để qua đêm. Các loại thức ăn, thức uống
ruột, ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến.
Ngòai ra, chế độ ăn uống phòng chống ung thư cũng bao gồm những
khuyến cáo thông thường của một chế độ ăn uống lành mạnh như không ăn mặn,
ăn ít đường, ít mở, hạn chế bia, rượu, năng vận động thân thể và duy trì một tinh
thần lạc quan và tâm lý thoải mái. Yếu tố tâm lý luôn được xem trọng trong mọi
giai đoạn của bệnh tật. Stress làm suy giảm hệ miển dịch và làm gia tăng nhu cầu
chất chống oxy hoá. Ngược lại, sự thư giãn và lạc quan giúp điều hoà nội tiết, nội
tạng, gia tăng sức đề kháng và làm giảm nhu cầu chuyển hoá. Tuy nhiên, một cơn
giận có thể chưa đủ để gây ra bệnh tật. Thỉnh thoảng ăn một bửa ăn thịnh soạn với
thịt nướng hoặc vài món ăn có hoá chất phụ gia cũng khó đưa đến ung thư. Điều
quan trọng là sự hiểu biết và cảnh giác cần thiết trong chế độ ăn uống sinh hoạt
thường nhật để xây dựng được một chính khí đủ mạnh để vượt thắng những tà khí
bất chợt thỉnh thoảng vẫn gặp phải trong cuộc sống.
Có trường hợp ung thư nào được chữa khỏi chỉ bằng liệu pháp tự nhiên?
Như đã nói ở phần đầu bài viết, nếu vừa tăng cường được hệ miển dịch và
chống lại sự phát triển của bệnh bằng những chất chống oxy hoá, vừa chấm dứt
việc tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư thì việc khỏi bệnh chỉ là một quy luật tự
nhiên. Ngày nay có rất nhiều người đã tự chữa khỏi bệnh chỉ bằng cách nầy. Tại
Việt Nam, thỉnh thoảng báo chí có đưa tin và bài về những trường hợp cụ thể đã
khỏi bệnh ung thư bằng “gạo lức muối mè”. Trên bình diện quốc tế có lẻ 3 trường
hợp sau đây được nhắc đến nhiều nhất.
· Giáo sư Oshawa (1893-1965) là một người Nhật, ông bị ung thư phổi
và dạ dầy từ năm 17 tuổi. Ông đã tự chữa khỏi cho mình bằng chế độ ăn uống cân
bằng Âm Dương, nhiều ngủ cốc và rau quả toàn phần không có hoá chất. Sau đó
ông đã viết sách và đi nhiều nơi trên thế giới để diển giảng và quảng bá về cách
chữa bệnh nầy. Cần nói thêm, những lý thuyết về gốc tự do và những chất chống
oxy hoá chưa được đề cập đến trong thời gian nầy.
· Bác sĩ Anthony Sattilaro, một người Mỷ, là Giám Đốc một Bệnh viện
lớn Philadelphia. Ông đã từng bị ung thư di căn đến nhiều bộ phận trong cơ thể,
đã trải qua 3 lần giải phẫu. Ông đã khỏi bệnh hoàn toàn sau 7 tháng được hướng