Tài liệu Luận văn: " Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" doc - Pdf 10


TRƯỜNG
KHOA……………………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

Đề tài
Một số biện pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty xây dựng Cầu 75
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ
ChiÕn
LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới chúng ta
đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trên tất cả các mặt như kinh tế
chính trị, ngoại giao vv… Đặc biệt về mặt hợp tác kinh tế,nhờ vào quá trình
hội nhập kinh tế đã tạo ra những cơ hội hợp tác kinh tế,liên doanh liên kết
giữa các doanh nghiệp trong nước với các nước trong khu vực và trên thế
giới.Trong quá trình hội nhập kinh tế thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là một
hình thức đầu tư phổ biến và thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà
hoạch định cũng như của các doanh nghiệp.
Ngày nay đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) ngày càng trở nên quan

investment
)

Trc tiờn hiu v vn u t ta phi xỏc nh xem vn u t l gỡ?
Theo cỏch hiu chung thỡ vn u t õy c coi l mt phm trự kinh t
trong lnh vc ti chớnh, nú gn lin vi quỏ trỡnh sn xut kinh doanh hng
hoỏ v trong u t xõy dng cỏc cụng trỡnh d ỏn v õy l yu t khụng th
thiu trong tt c mi hot ng trờn, nú cú th l bng tin nh tin mt tin
gi ngõn hng hoc cú th bng hin vt ti sn mỏy múc trang thit b, dõy
truyn cụng ngh, nh xng, bn bói .Núi chung õy l tt c nhng gỡ
phc v cho quỏ trỡnh sn xut kinh doanh v xõy dng cú liờn quan ti ti
chớnh.
Vn u t trc tip nc ngoi l ngun vn cú ngun gc t nc
ngoi c a vo nc s ti cú th bng tin hay thit b dõy truyn cụng
ngh v bờn nc ngoi ny s t qun lý ngun vn trong thi gian hot
ng ca d ỏn
D ỏn u t l tp hp nhng ý kin, xut v vic b vn u t
vo mt i tng nht nh v gai trỡnh kt qa thu c t hot ng u
t. Vic cỏc nh u t quc gia ny b vn vo cỏc quc gia khỏc theo mt
chng trỡnh ó c hoch nh trong mt khong thi gian di nhm ỏp
ng cỏc nhu cu ca th trng v mang li li ớch hn cho cỏc ch u t v
cho xó hi c gi l u t quc t hay u t nc ngoi. u t trc
tip nc ngoi l mt trong hai loi hỡnh u t quc t c bn, hai loi hỡnh

2
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ
ChiÕn
này có thể không giống nhau song trong một điều kiện nào đó có thể chuyển
hoá cho nhau.
Dự án đầu tư nước ngoài là những dự án đầu tư có sự khác nhau về

việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
1.1.3 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp chúng ta giải quyết những khó khăn
về vốn cũng như công nghệ và trình độ quản lý, nhờ vào những yếu tố này sẽ
giúp cho nền kinh tế tăng trưởng một cách nhanh chóng, giúp chúng ta khắc
phục được những điểm yếu của mình trong quá trình phát triển và hội nhập.
Đóng góp vào ngân sách
Thu hút lao động
Nâng cao thu nhập
Tăng khoản thu cho ngân sách

Xem xét tình hình tăng trưởng kinh tế của những nước đang phát triển
trên thế giới có thể rút rằng tất cả các nước đang tìm mọi cách để thu hút
nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, một điều nữa là khối lượng vốn đầu tư nước
ngoài tỷ lệ thuận với mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia đó.
Mặt khác FDI cũng tạo cơ hội cho các nước sở tại khai thác tốt nhất
những lợi thế của mình về tài nguyên thiên nhiên cũng như vị trí địa lý nó
góp phần làm tăng sự phong phú chủng loại sản phẩm trong nước cũng như
làm tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trong nước với sản phẩm của các quốc
gia trên thế giới vì thế tăng khả năng xuất khẩu của nước ta
FDI còn làm tăng các khoản thu về ngoại tệ do xuất khẩu trực tiếp các
sản phẩm dịch vụ và nguyên liệu vật lịêu cho các dự án đầu tư trực tiếp, nói
chung FDI là nguồn vốn có ý nghĩa quan trong qúa trình hội nhập và phát
triển nền kinh tế
FDI còn giúp chúng ta tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa hiện
đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay, đây chính là một nguồn vốn lớn
trong đó có cả tiềm lực về mặt tài chính và tiềm lực về mặt khoa học công

4
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ


5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ
ChiÕn
nước hoàn toàn dựa vào vốn đầu tư nước đặc biệt là ở giai đoạn đầu của sự
phát triển.
Nhưng tiếp nhận đầu tư trực tiếp chúng ta cũng phải chấp nhận một số
những điều kịên hạn chế: đó là phải có những điều kiện ưu đãi với các chủ
đầu tư. Nhưng xét trên tổng thể nền kinh tế và xu thế phát triển của thế giới
hiện nay thì đầu tư trực tiếp là không thể thiếu bởi nó là nguần vốn hết sức
quan trọng cho chúng ta đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triển kinh tế để hoà
nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giới. Chính vì thế mà vốn FDI có
ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn thiện nay, chúng ta cần có một cơ
chế chính sách phù hợp hơn nữa nhằm thu hút nguồn vốn này trong tương lai
1.2 Các phương thức và hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1Các hình thức đầu tư trực tiếp
1.2.1.1 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là hình thức đầu tư được nhà nước ta cho phép theo đó bên nước
ngoài và bên Việt Nam cùng nhau thực hiện hợp đồng được ký kết giữa hai
bên Trong thời gian thực hiện hợp đồng các bên phải xác định rõ quyền lợi và
nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của mỗi bên mà không tạo ra một pháp nhân
mới và mỗi bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức rất phổ biến và có
nhiều ưu thế đối với việc phối hợp sản xuất các sản phẩm có tính chất phức
tạp và yêu cầu kỹ thật cao đòi hỏi sự kết hợp thế mạnh của nhiều quốc gia .
Đối với nước ta có lợi thế về mặt lao động và nguyên liệu đầu vào
chúng ta phải có chính sách hợp lý trong chiến lược phát triển của mình
nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này.
1.2.1.2Doanh nghiệp liên doanh
Trong luật đầu tư nước ngoài quy định rõ doanh nghiệp liên doanh là

Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định doanh nghiệp
100%vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của cá nhân hay tổ
chức nước ngoài và tổ chức thành lập theo quy định pháp luật nước ta cho
phép trên cơ sở tự quản lý.

7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ
ChiÕn
Doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước ta
đã ban hành.
Doanh nghiệp 100%vốn đầu tư nước ngoài được thành lập sau khi cơ
quan có thẩm quyền về hợp tác đầu tư nước sở tại cấp giấy phép và chứng
nhận doanh nghiệp đã tiến hành đăng ký kinh doanh hợp pháp.
Người đại diện cho doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là Tổng
giám đốc doanh nghiệp. Nếu Giám đốc doanh nghiệp không thường trú tại
nước sở tại thì phải uỷ quyền cho người thường trú tại nươc sở tại đảm nhiệm
Trong thực tế các nhà đầu tư thường rất thích đầu tư theo hình thức này
nếu có điều kiện vì rất nhiều lý do khác nhau trong đó quan trọng nhất là
quyền tự quyết trong mọi vấn đề ,ít chịu sự chi phối của các bên có liên quan
ngoại trừ việc tuân thủ các quy định do luật đầu tư của nước sở tại đưa ra.
1.2.2.Các phương thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các nhà đầu tư nước ngoài có rất nhiều phương thức để tiến hành đầu
tư vào các nước, thông thường thì các dự án phần lớn được tiến hành trên cơ
sở ký kết giữa Chính Phủ nước sở tại và các tổ chức nước ngoài để xây dựng
các công trình phúc lợi như hình thức xây dựng chuyển giao kinh doanh hoặc
có thể xây dựng các công trình giao thông cầu cống thông qua hình thức xây
dựng kinh doanh chuyển giao hoặc có thể đầu tư thông qua khu chế xuất
1.2.2.1Hình thức hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao (BOT
build operation-transfer)

Cũng giống như những hình thức trên nhưng sau khi xây dưng song
thì thực hiên chuyển giao sau đó thì các nhà đầu tư được phía chủ đầu tư tạo
điều kiện cho nhà đầu tư thực hiên một dự án khác với nhiều ưu đãi hơn
nhằm giúp các nhà đàu tư thu hồi lại phần vốn đã bỏ ra và có lãi nhất định.
Hình thức đầu tư này cũng được các nhà đầu tư rất quan tâm bởi nó
được ưu đãi về nhiều mặt. Ngoài những lợi thế và thuế đã nêu ở trên thì
trong việc thực hiện đầu tư dự án thường ưu tiên những dự án khả thi và có
lãi suất cao.
1.2.2.4 Khu chế xuất công nghiệp

9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ
ChiÕn
Luật pháp Việt Nam quy định khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên
sản xuất hàng hoá xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất
khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định do chính phủ thành
lập hoặc cho phép thành lập bao gồm một hoặc nhiều doanh nghiệp.
Như vậy theo nghĩa rộng khu chế xuất bao gồm tất cả các khu vực
được chính phủ sở tại cho phép chuyên môn hoá sản xuất hàng xuất khẩu và
hoạt động sản xuất, nó là khu biệt lập có chế độ mậu dịch và thuế quan riêng
cố định ranh giới và ấn định nguồn hàng ra vào khu vực.
Ngoài những mục đích chung của việc thu hút đầu tư nước ngoài như
giải quyết khó khăn về vốn việc làm, tiếp thu công nghệ hiện đại, học tập tiếp
thu công nghệ , học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, khai thác lợi thế so
sánh của quốc gia, tận dụng nguồn nguyên nhiên vật liệu
Việc xây dựng khu chế xuất còn nhằm mục đích tăng xuất khẩu, tăng
các khoản thu ngoại tệ cho đất nước, từng bước thay đổi cơ cấu hàng hoá
xuất khẩu theo hướng tăng tỷ lệ hàng công nghiệp chế biến, mở ra khả năng
phát triển công nhhiệp theo hướng hiện đại hoá, góp phần thực hiện chính
sách mở cửa nền kinh tế ,hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.

Với điều kiện của từng nước mà các nhà đầu tư quyết định tham gia
vào từng khu vực với từng dự án cho phù hợp với điều kiện của nước đó như
về điều kiện kinh tế:GDP,GDP/đầu người,tốc độ tăng trưởng kinh tế,cơ cấu
các ngành…
Nói chung để quyết định đầu tư và một quốc gia nào đó các nhà đầu tư
phải cân nhắc xem điều kiện kinh tế tại nước sở tạị có đáp ứng được yêu cầu
về mặt kinh tế cho dự án của mình phát triển và tồn tại hay không. Chẳng hạn
như thu nhập bình quân đầu người nếu quá thấp thì sẽ ảnh hưởng tới đầu ra
của sản phẩm vì người dân sẽ không có tiền để mua sản phẩm đó, cơ cấu các
ngành trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt đông đầu tư của
các nhà đầu tư vì với cơ cấu của nền kinh tế thiên về những ngành công
nghiệp chế tạo hay công nghiệp cơ khí.
Cơ chế kinh tế của nước sở tại, điều này ảnh hưởng rất lớn tới xu
hướng đầu tư, cơ chế không phù hợp sẽ là rào cản đối với họ, nếu giờ chúng
ta vẫn còn giữ cơ chế tập chung thì thành phần kinh tế quốc doanh vẫn là chủ
yếu thì sẽ không thể chấp nhận một dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài được
hơn nữa các nhà đầu tư không dại gì mà đầu tư vào một quốc gia như thế bởi
họ không được hoan nghênh và còn phải cạnh tranh với doanh nghiệp quốc
doanh.
1.3.2 Về tình hình chính trị
Các nhà đầu tư thường tìm đến những quốc gia mà họ cảm thấy yên
tâm không có những biến động về chính trị vì chính trị không ổn định sẽ ảnh
hưởng tới dự án của mình và nhất là xác suất về rủi ro là rất cao, có thể dự án
sẽ không tiếp tục được thực hiện và không có cơ hội sinh lời, thậm chí còn có
thể sẽ mất khả năng thu hồi vốn. Các biến động về chính trị có thể làm thiệt
hại cho các nhà đầu tư do có những quy định đưa ra sẽ khác nhau khi có
những biến động chính trị vì khí thể chế thay đổi thì các quy định và các luật
có liên quan cũng hoàn toàn thay đổi và những hiệp định ký kết giữa hai bên

12

kinh doanh của mình trong tương lai. Các quốc gia muốn thu hút được các

13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ
ChiÕn
nhà đầu tư tham gia đầu tư vào nước mình thì phải bằng cách nào đó từng
bước hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình đặc biệt là hoàn thiện hệ thông
luật đầu tư nước ngoài .
Ngoài sự kín kẽ không sơ xuất của hệ thống luật đầu tư không có khe
hở thì các nhà làm luật Việt Nam cũng còn phải chú ý tới các quy định để
không quá khắt khe đối với nhà đầu tư
Hệ thống pháp luật là thành phần quan trọng trong môi trường đầu tư
bao gồm các văn bản luật các văn bản quản lý hoạt động đầu tư nhằm tạo nên
hành lang pháp lý đồng bộ và thuận lợi nhất cho hoạt động đầu tư nước
ngoài.
Các yếu tố quy định trong pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm
bảo sự an toàn về vốn cho các nhà đầu tư, bảo đảm pháp lý đối với tài sản tư
nhân và môi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo việc di chuyển lợi nhuận
về nước cho các nhà đầu tư được dễ dàng . Nội dung của hệ thống luật ngày
càng đồng bộ , chặt chẽ , không chồng chéo , phù hợp với luật pháp và thông
lệ quốc tế thì khả năng hấp dẫn các nhà đầu tư sẽ cao hơn hiện nay rất nhiều
1.3.5 Mức độ hoàn thiện của chính sách
Qua thời gian thực hiện và điều chỉnh sẽ làm cho các chính sách dần
hoàn thiện và phù hợp, với những quốc gia có kinh nghiệm trong thu FDI thì
họ đã phải trải qua nhiều thời gian thực hiện chính sách chính vì thế mà họ đã
có được những kinh nghiệm trong lĩnh vực này, không chỉ thu hút được
nhiều dự án đầu tư mà còn khiến cho các dự án đầu tư phát huy hết những ưu
điểm của mình, đóng góp nhiều hơn vào thu nhập ngân sách , góp phần giải
quyết các vấn đề kinh tế xã hội ,thu được những kết quả hết sức to lớn trong
lĩnh vực này. Với các nước mới thực hiện Chính sách đầu tư do kinh

án có vốn đầu tư trực tiếp đóng góp nhiều nhất có thể vào ngân sách nhưng
phải đảm bảo vẫn phải hấp dẫn được các nhà đầu tư. Thuế thu nhập doanh
nghiệp áp dụng với các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao thấp sẽ
ảnh hưởng tới dòng chảy của FDI vào trong nước .
Thuế nhập khẩu vốn, máy móc trang thiết bị, nguyên liệu vật liệu: Đây
là những yếu tố liên quan tới đầu vào của doanh nghiệp thực hiện đầu tư, nếu
có sự khuyến khích giảm mức thuế đối với các yếu tố kể trên thì sẽ làm cho

15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ
ChiÕn
đầu vào của các dự án giam xuống do đó làm tăng lợi thế của các dự án đầu
tư vì thế mà số lượng các dự án sẽ tăng và trang thiết bị cũng như vốn sẽ
được đưa vào nhiều hơn .
Thuế đánh vào các khoản lợi nhuận luân chuyển ra nước ngoài
Ưu đãi về thuế chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong số các ưu đãi tài
chính giành cho đầu tư nước ngoài, mức ưu đãi thuế cao hơn là động lực lớn
khuyến khích các nhà đầu tư tìm tới, vì thế cần áp dụng sự ưu đãi này với
những mức khác nhau cho từng loại dự án và áp dụng với mức thấp nhất có
thể, đặc biệt đối với các dự án đầu tư có tỷ lệ vốn nước ngoài cao, quy mô
lớn dài hạn, sử dụng nhiều nguyên liệu vật liệu và lao động trong nước .
Chính sách đầu tư phải đảm bảo cho các nhà đầu tư nhận thấy khi tham
gia đầu tư, họ sẽ thu được lợi nhuận cao nhất trong điều kiên kinh doanh
chung của khu vực để khuyến khích các nhà đầu tư tìm tới như một điểm tin
cậy và có nhiều cơ hội để phát triển nguồn vốn của mình .
1.3.7 Các yếu tố thuộc nền hành chính
Mỗi quốc gia có con đường chính trị riêng của mình và kèm theo đó là
đường lối phát triển kinh tế đặc thù của quốc gia đó. Do đó thể chế nền hành
chính cũng khác nhau. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư xuyên
quốc gia do đó nhà đầu tư khi tham gia đầu tư vào quốc gia thì phải tuân thủ

tư không nằm ngoài quy luật đó nên cũng chịu ảnh hưởng của sự phát triển hệ
thông giao thông và hệ thống thông tin liên lạc. Các nhà đầu tư quan tâm tới
điều này bởi vì nó có ảnh hưởng tới tính khả thi của dự án và liên quan tới
tương lai của dự án mà họ sẽ quyết định kinh doanh. Các nước trên thế giới
đa phần là tận dụng nguôn vốn đầu tư phát triển và hỗ trợ để đầu tư xây dựng
phát triển và hoàn thiện, nâng cao hệ thống cơ sở hạ tầng này
1.3.10 Hệ thống cung cấp điện nước
Đây cũng là một yếu tố quan trong trong chiến lược cải thiện môi
trường nhằm thu hút FDI, nếu không có các yếu tố nầy thì sẽ không thể thực
hiện được dự án, hệ thống lưới điện cần phải được đưa tới tất cả các vùng và
được bố chí đầy đủ hợp lý ,thuận tiên cho các dự án phát triển và đi vào thực
hiện. Các yếu tố về hệ thống lưới điện hoàn thiện và nguồn nước được cung
cấp tận nơi sẽ khuến khích các dự án tìm tới vì ở nơi đó cũng có điều kiện
tương tự như các vùng khác và còn có thể tốt hơn .
1.3.11 Các khu chế xuất , khu công nghiệp
Với nhiều dự án để có thể triển khai được, nó đòi hỏi những điều kiện
hết sức khắt khe và không thể nơi nào cũng có thể đáp ứng được, các nước sở
tại phải tiến hành đầu tư xây dựng các khu chế xuất và các khu công nghiệp
đặc biệt và trong đó có đầy đủ các điều kiện có thể đáp ứng đầy đủ các điều
kiện mà dự án đặt ra. Với những khu công nghiệp hiện đại này có thể tập
chung rất nhiều dự án và có nhiều vốn, các dự án khác nhau này có thể hỗ trợ
và cung cấp các đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho nhau chính vì thế các khu chế

18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ
ChiÕn
xuất là nơi rất tốt để thu hút vốn đầu tư. Quốc gia nào có nhiêu khu công
nghiệp khu chế xuất hiện đại thì sẽ thu hút được nhiều dự án đầu tư.

19


20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ
ChiÕn
và vào GDP là 1.750 triệu $, năm 1997 là 315 triệu $ và 2.250 triệu $ tới năm
2000 mức đóng góp này đã đạt được mức rất lớn, đóng góp vào ngân sách đã
đạt được 280 triệu$ và vào GDP là 4.105 triệu $ và sang năm2001 là 373
triệu$ và vào GDP là 4.199 triệu $ và đong góp vào ngân sách nhà nước
năm 2001 của các dự án đâu tư trực tiếp nước ngoài là 373 triệu $ đến năm
2002 hoạt động này đóng góp 25% tổng thu nhân sách nhà nước.
Mặc dù tổng vốn đầu tư đưa vào Việt Nam trong những năm gần đây
có xu hướng giảm song hiệu quả của các dự án thì không ngừng tăng lên thể
hiện ở đóng góp của hoạt động này vào tổng thu ngân sách nhà nước trong
những năm qua không ngừng tăng lên và lượng hàng xuất nhập khẩu thông
qua hoạt động này năm 1996 tổng giá trị xuất khẩu của hoạt động này là 920
triệu $ và nhập khẩu là 2.042 triệu $ thì tới năm 2002 giá trị xuất khẩu của
hoạt động này đã đạt mức 3.600 triệu $ và nhập khẩu là 4.700 triệu $.Không
những đóng góp rất lớn vào ngân sách nhà nước mà đẩy mạnh các hoạt động
xuất nhập khẩu của cả nước đồng thời thu hút thêm người lao động vào làm
việc trong các công trình các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Bảng 2.1 Hoạt động FDI tại Việt Nam
Đơn vị :Triệu $ 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Lượng vốn mới đưa vào 8.640 4.659 3.897 1.568 2.014 25.21
Lượng vốn tăng thêm 788 1.173 884 629 431 579
Đóng góp vào xuất khẩu 920 1.790 1.982 2.590 3.230 3.600
Lượng nhập khẩu 2.042 2.890 2.668 3.382 4.350 4.700
Đóng góp vào GDP 1.750 2.205 2.582 3.343 4.105 4.199
Đóng góp vào ngân sách 263 315 317 271 280 373
Thu hút lao động (1000 người ) 220 250 270 296 349 439
Nguồn : Thời báo kinh tế Việt Nam 04/2002

2.2 Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai
đoạn hiện nay
2.2.1 Số lượng và quy mô dự án
Số lượng dự án đầu tư trong nhưng năm gần đây có sự tăng lên rất lớn
kể từ năm 1988 tới nay tốc độ tăng trưỏng đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng

22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD tiÕn sÜ: NguyÔn ThÞ
ChiÕn
năm đạt mức 109% một năm. Năm 1988 số lượng dự án tham gia đầu tư vào
Việt Nam chỉ có 37 dự án với tổng số vốn đăng ký 371.8 triệu USD thì đến
năm 1995 đã là 370 dự án và năm 1995 số lượng dự án là 370 dự án và
lượng vốn đã tăng lên 57,6 % so với năm 1994 với số vốn tương đươnglà vào
khoảng 6.530 triệu $, tới năm1996 số lượng dự án đã đạt là 325 dự án và
lượng vốn là 8.497 triệu $, đây là năm thu hút được số lượng dự án lớn nhất
từ trước tới nay. Đến năm 1997 mặc giù số lượng dự án vẫn có xu hướng
tăng lên song lượng vốn đầu tư lại có phần giảm xuống so vớinăm 1996 và
chỉ còn khoảng 54,7 % với số vốn tương đương là 4649,1 triệu$. Nguyên
nhân là do cuộc khủng hoảng kinh tế Châu á đã ảnh hưởng tới nền kinh tế của
các nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới, cuộc khủng hoảng
kinh tế đã làm cho các nền kinh tế của các nước bị suy sụp khiến cho các nhà
đầu tư không thể tiếp tục thực hiện được các dự án đầu tư của mình và đem
vốn mới vào thực để thực hiện các dự án đầu tư mới, hơn nữa các nhà đầu tư
thế giới lại nhìn nhận nền kinh tế khu vực với một cách không lấy gì làm khả
quan lắm vì thế không tiếp tục đầu tư vào khu vực cũng như Việt Nam.
Những năm tiếp theo số lượng dự án tiếp tục giảm xuống đến năm 1999 số
lượng dự án là 311 dự án và tổng số vốn chỉ còn vào khoảng 1.568 triệu $.
Đến năm 2000 số lượng dự án và số lượng vốn tiếp tục tăng lên, trong đó số
lượng dự án đã là 371 dự án và số lượng vốn đã là 2.012,4 triệu $. Đây là
năm số lượng cũng như quy mô dự án có xu hướng tăng lên kể từ khi cuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status