Chương 4: TÌNH HÌNH NĂNG
LƯỢNG NGUY
ÊN TỬ CỦA MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Các nhà máy điện nguyên tử của Mỹ có 103 lò phản ứng với tổng
công suất thiết bị là 101.000 MW chiếm vị trí thứ nhất trên thế
giới. Cơ cấu nguồn điện năm 2000 là: điện than chiếm 52%, điện
hạt nhân chiếm 20%, tiếp theo là 16% điện khí và 7 % thuỷ điện.
4.1 Mỹ
Các nhà máy điện nguy
ên tử của Mỹ có 103 lò phản ứng với tổng
công suất thiết bị là 101.000 MW chiếm vị trí thứ nhất trên thế
giới. Cơ cấu nguồn điện năm 2000 là: điện than chiếm 52%, điện
hạt nhân chiếm 20%, tiếp theo là 16% điện khí và 7 % thuỷ điện.
Vì Mỹ có nguồn khí thiên nhiên phong phú nên 90% nhà máy điện
đang xây dựng l
à nhiệt điện khí.
Các quy chế an toàn lò phản ứng ở Mỹ ngày càng được nâng cao,
tính kinh tế của nhà máy điện nguyên tử giảm nên từ sau năm 1974
không có nhà máy mới nào được xây dựng.
Nhưng trong “Chính sách năng lượng quốc gia” được tổng thống
Bush phát biểu vào tháng 5/2001, việc mở rộng sử dụng điện
nguyên tử đã trở thành một yếu tố rất quan trọng và cần thiết.
Trong thời gian tới, có khả năng các nhà máy điện nguyên tử mới
sẽ được xây dựng. Mặt khác, tuy đến thời điểm năm 1990, tỷ lệ sử
dụng thiết bị của các nhà máy điện nguyên tử đang vận hành đã
gi
ảm xuống dưới 65% nhưng sau đó lại tăng dần lên và đến năm
2000 đ
ã đạt kỷ lục cao nhất là 89,6%.
Hi
ã vượt 50% vào năm 2000. Hơn nữa, Pháp là nước xuất khẩu
điện, năm 2000 Pháp đ
ã xuất khẩu 72, 2 tỷ kWh điện nguyên tử
sang các nước xung quanh như Thuỵ Sỹ, Italia, Anh và tăng hơn 9
tỷ kWh so với năm 1999. Theo khảo sát dư luận gần đây, 68%
người ủng hộ sử dụng năng lượng nguy
ên tử, 88% người cho rằng
năng lượng nguy
ên tử rất có hiệu quả trong việc giảm thiểu hiệu
ứng nh
à kính.
4.4
Đức
Với tổng công suất thiết bị khoảng 22.000 MW của 19 lò phản ứng
phát điện đang vận hành, cơ cấu nguồn điện năm 2000 của Đức l
à:
33% điện nguyên tử, 24% điện than, 27% điện than nâu, 7% điện
khí và 2% điện năng lượng gió.
Trong cuộc bầu cử năm 1998, Đảng dân chủ xã hội (SPD) vốn
mang quan điểm phản đối điện ng
uyên tử đã đánh bại Liên minh
dân ch
ủ xã hội Cơ đốc giáo (CDU) có quan điểm ủng hộ điện
nguyên tử và thành lập chính quyền liên minh với Đảng xanh, lập
ra nội các Schroeder.
Chính phủ liên hiệp này có chính sách loại bỏ năng lượng nguyên
t
ử. Kết quả thoả thuận giữa chính phủ và giới công nghiệp, đặc biệt
là giới công nghiệp điện về việc đóng cửa các nhà máy điện
nguyên tử theo từng giai đoạn đã đạt được thoả thuận như sau:
nguyên tử. Như vậy, ngành điện nguyên tử của Nhật Bản đã phát
tri
ển đặc biệt ấn tượng.
Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên năng lượng và phải dựa vào
nhập khẩu khoảng 80% tài nguyên năng lượng. Đặc biệt, dầu mỏ
chiếm 52,4% tổng cung năng lượng sơ cấp và hầu như phải nhập
khẩu, trong đó 80% nguồn nhập là từ khu vực Trung Đông.
Do vậy, ở Nhật Bản để đảm bảo ổn định năng lượng, năng lượng
nguyên tử là hết sức cần thiết. Tuy điện nguyên tử đang duy trì 1/3
nhu c
ầu điện lực nhưng trong thời gian tới vẫn cần tăng hơn nữa
con số này. Mặt khác, để sử dụng một cách hiệu quả nhiên liệu
Uranium, Nhật Bản vẫn kiên trì chính sách tái xử lý nhiên liệu để
có thể sử dụng được nguồn Plutonium.
Ngoài ra, việc phát triển các loại lò nước nặng, lò tái sinh nhanh, lò
khí nhi
ệt độ cao hiện đang được các cơ quan, tổ chức của chính
phủ triển khai.
4.6 Trung Quốc
Tại thời điểm cuối năm 2000, Trung Quốc có 3 lò phản ứng phát
điện với tổng công suất 2.300 MW v
à 8 lò đang được xây dựng có
tổng công suất 6.600 MW.
Trung Quốc áp dụng nhiều loại lò từ nước ngoài, ví dụ như PWR
từ Pháp và Nga và lò nước nặng từ Canada và hiện đang phát triển
cả loại PWR nội địa bằng công nghệ trong nước.
Ba phần tư điện của Trung Quốc là từ nguồn than đá, vì năng
lượn
g quá phụ thuộc vào than đá nên vấn đề ô nhiễm không khí và
mưa axit đang đang trở nên khá nghiêm trọng.
khó khăn về kinh tế d
o sự sụp đổ của Liên Xô cũ năm 1991, mặc
dù không có những tiến triển trong ngành năng lượng nguyên tử
như trước kia, Nga vẫn không từ bỏ chính sách phát triển năng
lượng nguy
ên tử.