KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM TƯƠNG HỖ - Pdf 71

KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ XÂY
DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM TƯƠNG HỖ
3.1. Kinh nghiệm của Mỹ về tổ chức hoạt động và quản lý cỏc Tổ chức
Bảo hiểm Tương hỗ:
Các công ty bảo hiểm tương hỗ đó hỡnh thành và phỏt triển phố biến khỏ
lõuMỹ. Cụng ty bảo hiểm tương hỗ đầu tiên ở Mỹ được thành lập tại thành phố
Philadenphia (bang Pennsylvania) năm 1784 để kinh doanh bảo hiểm cháy. Khi
mới thành lập, các công ty bảo hiểm tương hỗ có nguồn gốc từ các hợp tác xó và
được tổ chức trên cơ sở các cộng đồng dân cư địa phương.
Cho đến trước khi cuộc công nghiệp hoá và thành thị hoá nông thôn diễn ra
mạnh mẽ trong nửa đầu thế kỷ 19, nhu cầu của công chúng đối với bảo hiểm nhân
thọ ở Mỹ cũn thấp. Cụng ty bảo hiểm nhõn thọ tương hỗ đầu tiên - Công ty bảo
hiểm nhân thọ tương hỗ New York bắt đầu hoạt động năm 1842 và sau đó là một
số công ty khác trong đó đáng chú ý là cụng ty bảo hiểm New York Life được
thành lập năm 1845.
Trong giai đoạn này, hỡnh thức bảo hiểm tương hỗ tỏ ra thụng dụng và cạnh
tranh với hỡnh thức cụng ty cổ phần trong việc cung cấp nguồn vốn dựa trờn cơ sở
rủi ro. Với cơ cấu tương hỗ, việc bồi thường tổn thất, thiệt hại được phân bổ rộng
rói hơn cho nhiều người so với các công ty bảo hiểm cổ phần do một số ít người
làm chủ. Nhờ đó, có thể làm giảm đáng kể rủi ro phát sinh khi một công ty không
thể đáp ứng nghĩa vụ bồi thường (Chẳng hạn, đám cháy khủng khiếp ở New York
năm 1835 đó khiến cho một số cụng ty bảo hiểm chỏy được tổ chức dưới hỡnh
thức cụng ty bảo hiểm cổ phần bị phỏ sản). Theo cỏch núi hiện nay, cỏc cụng ty
bảo hiểm tương hỗ của thế kỷ 18 thường hoạt động với chi phí vốn nhỏ hơn và
chịu rủi ro ít hơn.
Sự phỏt triển của cỏc loại hỡnh bảo hiểm tương hỗ cũng đó tạo ra vị thế đỏng
kể của loại hỡnh doanh nghiệp này trờn thị trường bảo hiểm Mỹ. Từ giữa những
năm 1920 đến năm 1960, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tương hỗ đó tăng thị
phần của mỡnh trong khi các công ty bảo hiểm cổ phần lại bị giảm thị phần. Tính
đến cuối những năm 1960, các công ty bảo hiểm tương hỗ chiếm khoảng 30% tổng
số phí bảo hiểm của toàn thị trường. Kể từ đó trở đó, thị phần bảo hiểm Mỹ được

trong việc đáp ứng nhu cầu bảo hiểm xe cơ giới của các chủ trang trại. Trong
những năm đầu thế kỷ 20, hơn 25% dân số nước Mỹ sống dựa vào nông nghiệp.
Năm 1922, State Farm đó ký hợp đồng với hiệp hội nông dân của các bang để bảo
hiểm cho xe cơ giới thuộc sở hữu của các hội viên với mức phí bảo hiểm thấp hơn
nhờ việc phân phối trực tiếp ít tốn kém hơn so với phân phối thông qua các đại lý
độc lập và do số lượng và giá trị tổn thất ở nông thôn thấp hơn so với thành thị.
Xuất phát từ những lý do này, State Farm đó trở thành cụng ty bảo hiểm phi nhõn
thọ lớn nhất ở Mỹ với trờn 16.800 đại lý hoạt động trên toàn nước Mỹ. Năm 1997
số phí bảo hiểm thuần mà công ty khai thác đó lờn đến 34,8 tỷ đô la Mỹ.
Từ giữa những năm 1920 đến năm 1960, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ
tương hỗ đó tăng thị phần của mỡnh trong khi cỏc cụng ty bảo hiểm cổ phần lại bị
giảm thị phần. Tớnh đến cuối những năm 1960, các công ty bảo hiểm tương hỗ
chiếm khoảng 30% tổng số phí bảo hiểm của toàn thị trường. Kể từ đó trở đó, thị
phần bảo hiểm Mỹ được chia theo tỷ lệ 30/70 giữa các công ty bảo hiểm tương hỗ
và các công ty bảo hiểm cổ phần.
Bảng 5: Số liệu thống kê về bảo hiểm nhân thọ Mỹ năm 1996.
(đơn vị tính: triệu đô la Mỹ)
Chỉ tiờu
Số
lượng
công
ty
Giỏ trị tài
sản
Vốn
Tổng phớ
bảo hiểm
rũng đó
khai thỏc
Thu

Đáng chú ý là chênh lệch về tỷ suất sinh lời giữa công ty bảo hiểm tương hỗ
và công ty bảo hiểm cổ phần chủ yếu là do sự khác nhau về tỷ suất sinh lời tính
trên tài sản. Lý do là vỡ đũn bẩy (tức là hệ số nợ trên vốn tự có) không khác nhau
đáng kể giữa công ty bảo hiểm tương hỗ và công ty bảo hiểm cổ phần (đặc biệt là
đối với các công ty lớn nhất). Vốn hoá không phải là một vấn đề đối với các công
ty bảo hiểm tương hỗ, bởi vỡ quy mụ vốn của cỏc cụng ty bảo hiểm tương hỗ
không thấp hơn so với các công ty bảo hiểm cổ phần.
Bảng 6: Một số chỉ tiêu về bảo hiểm nhân thọ Mỹ năm 1996.
(đơn vị tính: triệu
đô la Mỹ)
Chỉ tiờu
Tỷ
suất
sinh
lời
trờn
vốn
(%)
Vốn
và tài
sản
thặng

(%)
Tỷ
suất
sinh
lời
trờn
tài

la Mỹ
8,9 5,1 0,5 19,6 2,8 3,2 8,1 24,6
Từ 100 triệu đến 1
tỷ đô la Mỹ
3,7 14,6 0,5 6,9 1,1 3,3 1,8 1,9
Dưới 100 triệu đô
la Mỹ
3,1 23,1 0,7 4,3 2,2 1,4 2,6 0,1
Tụng số 8,6 5,3 0,5 19,0 2,7 3,2 7,8 24,3
Cỏc cụng ty bảo
hiểm cổ phần
25 cụng ty lớn nhất 16,5 5,3 0,9 18,8 5,6 2,9 4,4 28,1
Nhiều hơn 1 tỷ đô
la Mỹ
15,4 6,2 1,0 16,1 5,6 2,7 3,2 25,7
Từ 100 triệu đến 1
tỷ đô la Mỹ
9,5 20,2 1,9 4,9 3,6 2,7 0,3 1,6
Dưới 100 triệu đô
la Mỹ
8,9 33,8 3,0 3,0 7,3 1,2 0,2 0,5
Tụng số 14,6 6,8 1,0 14,6 5,5 2,7 2,9 24,8
Nguồn:
OneSource
3.2. Kinh nghiệm của Pháp
Ở Phỏp, cỏc loại hỡnh cụng ty bảo hiểm tương hỗ, cổ phần đều chịu sự điều
chỉnh của Luật Bảo hiểm, chịu sự giám sát của Bộ Kinh tế -Tài chính và chịu sự
kiểm tra của Uỷ ban giám sát bảo hiểm. Theo qui định tại Luật Bảo hiểm, công ty
BHTH không hoạt động vỡ mục tiờu lợi nhuận và khụng phải đăng ký kinh doanh.
Mục tiêu hoạt động của công ty là cung cấp sản phẩm bảo hiểm cho các hội viên

phân chia toàn bộ theo qui định tại Điều lệ của hội tương hỗ.
 Tổ chức tương hỗ nông nghiệp:
Tổ chức tương hỗ nông nghiệp chịu sự giám sát của Bộ Nông nghiệp và Bộ
Kinh tế - Tài chính. Tổ chức chỉ bảo hiểm cho các rủi ro liên quan đến nông nghiệp
(bảo hiểm nhân thọ và phi nông nghiệp đều bị loại trừ). Các khoản phí bảo hiểm
đóng góp luôn thay đổi.
- Tổ chức có cơ cấu hỡnh thỏp, gồm có 3 cấp, mỗi cấp quỹ đều có hội đồng
quản trị (HĐQT). HĐQT của cấp quỹ cao hơn được các thành viên HĐQT cấp
dưới giới thiệu và được hội nghị toàn thể thành viên bầu. Bên cạnh HĐQT có bộ
máy điều hành các nghiệp vụ bảo hiểm. Quỹ cấp trung ương và quỹ cấp vùng có
ban giám đốc, quỹ địa phương có phũng nghiệp vụ.
Quỹ địa phương được thành lập ở xó hoặc làng, do cỏc hộ nụng dõn tự
nguyện tham gia. Vỡ thế, cỏc thành viờn của quỹ vừa là khỏch hàng vừa là người
quản lí quỹ.
Hỡnh thức tổ chức này đảm bảo cho việc phản ánh trung thực tâm tư,
nguyện vọng của các thành viên - khách hàng, từ đó giúp các quỹ đề ra các giải
pháp xử lý phự hợp và tối ưu. Hơn nữa, do bảo hiểm tương hỗ vẫn phải tôn trọng
nguyên tắc “hạch toán kinh doanh”, nên để tránh sự thua lỗ, thông thường các tổ
chức tương hỗ bảo hiểm đó:
- Lựa chọn đối tượng bảo hiểm tương hỗ: là các rủi ro có tính chất bất ngờ,
tần suất thấp;
- Lựa chọn sản phẩm bảo hiểm tương hỗ: là các sản phẩm khi xảy ra rủi ro,
giá trị thiệt hại không vượt quá khả năng chi trả của quỹ.
- Việc thực hiện tỏi bảo hiểm giữa cỏc cấp quỹ tụn trọng nguyờn tắc:
+ Khụng tỏi bảo hiểm cho bờn ngoài tổ chức;
+ Quỹ vùng nhận tái bảo hiểm từ các quỹ địa phương thuộc vùng: Quỹ địa
phương giữ lại một phần phí bảo hiểm thu được, cũn lại tỏi cho quỹ vựng;
+ Quỹ trung ương nhận tái bảo hiểm từ các quỹ vùng: Quỹ vùng giữ lại một
phần phí nhượng tái của các quỹ cơ sở cũn lại sẽ tỏi cho quỹ trung ương.
- Kết quả tài chớnh trong năm được phân phối như sau:

nghiệp” là Tập đoàn bảo hiểm Groupama. Đây là tập đoàn bảo hiểm mạnh và có uy
tín trong thị trường nông nghiệp của Pháp. Là tổ chức bảo hiểm tương hỗ đầu tiên
của Pháp, do những người nông dân Pháp xây dựng vào cuối thế kỷ 19 nhằm phục
vụ nhu cầu của chính mỡnh. Hiện nay, đồng thời với việc củng cố vị trớ là nhà bảo
hiểm nụng nghiệp hàng đầu, sau khi mua lại bảo hiểm GAN thỏng 7-1998,
Groupama đó trở thành cụng ty bảo hiểm tổng hợp lớn thứ hai của thị trường Pháp
và đứng đầu châu Âu về bảo hiểm nông nghiệp, mang đặc tính chung của cả loại
hỡnh cụng ty bảo hiểm cổ phần và cụng ty bảo hiểm tương hỗ, cụ thể như sau:
- Tổ chức tương hỗ nông nghiệp theo mối liờn kết tái bảo hiểm: từ các
thành viên của 9.000 quỹ địa phương được tái bảo hiểm cho 22 quỹ vùng và từ 22
quỹ vùng được tái bảo hiểm cho quỹ trung ương;
- Groupama SA là Cụng ty bảo hiểm cổ phần được góp vốn từ các quỹ
vùng (44%) và quỹ trung ương (56%). Groupama SA hoạt động trên 6 lĩnh vực bao
gồm: bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ; các dịch vụ tài chính, kinh doanh hàng
hải và vận tải; các dịch vụ liên quan đến hoạt động bảo hiểm; hoạt động quốc tế và
tái bảo hiểm.
Cách tổ chức này có nhiều ưu điểm vỡ:
- Loại hỡnh bảo hiểm thương mại làm nền tảng cơ bản để hỗ trợ, bù lấp
mặt khiếm khuyết về tài chính mà loại hỡnh bảo hiểm tương hỗ khó thực hiện
được;
- Loại hỡnh bảo hiểm tương hỗ thu thập, cung cấp những thông tin về nhu
cầu khách hàng, đối tượng và sản phẩm bảo hiểm từ những khách hàng thành viên
của Công ty để Công ty thực hiện kinh doanh thương mại. Các công ty bảo hiểm
thương mại thông thường khó có khả năng thực hiện được điều này.
3.3. Cỏc bài học kinh nghiệm cú thể vận dụng ở Việt Nam:
3.3.1. Tớnh chất, mục tiêu hoạt động của tổ chức BHTH:
Nếu như trước đây, cũn cú nhiều ý kiến tranh luận về việc tổ chức BHTH cú
phải là doanh nghiệp bảo hiểm hay khụng thỡ hiện nay, phần lớn cỏc ý kiến đều
cho rằng, BHTH là một loại hỡnh DNBH hoạt động vỡ mục đích kinh doanh, thu
lợi nhuận. Do đó, tổ chức BHTH được quy định và điều chỉnh bởi luật kinh doanh

vật nuụi; bảo hiểm trỏch nhiệm nghề nghiệp của luật sư, tư vấn, bác sĩ v.v... Trên
cơ sở đó, sẽ xem xét, đánh giá, rút kinh nghiệm trước khi mở rộng sang các lĩnh
vực khác có độ phức tạp và yêu cầu tài chính lớn hơn.
- Địa bàn hoạt động: Hoạt động của công ty BHTH có thể chỉ giới hạn trong một địa
bàn nhất định hoặc rộng khắp trong quy mô toàn quốc phụ thuộc vào giấy phép được cấp
cho công ty và điều lệ công ty. Ở Mỹ, một công ty BHTH không được kinh doanh bảo
hiểm tại một bang nếu công ty đó chưa có được cấp giấy phép hoạt động tại bang đó.
- Tỏi bảo hiểm: Các đạo luật bảo hiểm và quy định về cấp phép nói chung điều chỉnh
cả khả năng của một công ty BHTH nhận tái bảo hiểm. Việc các công ty BHTH tham gia
vào các hợp đồng tái bảo hiểm không phải là hiếm gặp. Nói cách khác, các công ty BHTH
có thể cùng lúc tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc và kinh doanh tái bảo hiểm
theo quy định của giấy phép.
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức BHTH:
a) Phạm vi quyền hạn của các công ty BHTH được quy định trong điều lệ
công ty và phù hợp với pháp luật hiện hành. Đó chính là cơ sở pháp lý quan trọng
để điều chỉnh hoạt động của công ty BHTH. Điều đó có nghĩa là các công ty này
chỉ có những quyền hạn được liệt kê trong điều lệ công ty và những quyền khác
cần thiết để thực thi những quyền hạn này. Thông thường, một công ty BHTH có
thể vay tiền để trả cho những tổn thất của công ty và ký giấy xác nhận nợ để bảo
đảm cho khoản vay. Các công ty BHTH có thể mua lại quyền kiểm soát một công
ty bảo hiểm khác. Các công ty BHTH không có quyền kinh doanh hoặc nhận bảo

Trích đoạn Các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status