LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ VÀ KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI - Pdf 75

LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ VÀ KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
PHI THUẾ QUAN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
I/ XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA:
Toàn cầu hoá là một xu hướng vận động nổi bật hiện nay trong nền kinh tế thế
giới. Nó lôi cuốn tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ vào một nền kinh tế toàn
cầu thống nhất và duy nhất. Tất cả những quốc gia và vùng lãnh thổ nào không hội
nhập vào quá trình này tất yếu sẽ rơi vào tình trạng tụt hậu trong phát triển.
Toàn cầu hóa kinh tế được thể hiện rõ nét thông qua hai quá tình chủ yếu là
toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu sản xuất. Toàn cầu hóa thị trường được thể hiện
ở sự loại bỏ dần các quá trình và rào cản chia cắt thị trường để hình thành một thị
trường có tính toàn cầu. Các yếu tố cơ bản như cung cầu, giá cả được hình thành và
vận động thống nhất trên toàn cầu. Toàn cầu hóa sản xuất được thể hiện thông qua
việc hình thành mạng lưới sản xuất mang tính toàn cầu, công nghệ cao được sử
dụng phổ biến và các sản phẩm được tiêu chuẩn hóa… Ngoài ra, toàn cầu hoá còn
được thể hiện thông qua các khía cạnh về xã hội, văn hóa, chính trị …
Toàn cầu hóa được thúc đẩy bởi các lực lượng nhất định. Trước hết, đó là quá
trình cắt giảm thuế quan giữa các quốc gia để có nền thương mại tự do hóa hơn,
giảm dần các rào cản bảo hộ hữu hình hoặc vô hình. Hàng hóa và dịch vụ được lưu
chuyển dễ dàng giữa các nước và vùng lãnh thổ với khối lượng và cường độ ngày
càng tăng. Tiếp theo là quá trình tự do hóa về đầu tư với việc mở rộng của đầu tư
quốc tế trên phạm vi và quy mô lớn, các hiệp định thúc đẩy tự do hóa đầu tư được
ký kết. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và tác động của các tập đoàn, công ty
đa quốc gia đang thúc đẩy theo chiều sâu quá trình toàn cầu hóa. Các quốc gia,
vùng lãnh thổ cũng đang tăng cường những nỗ lực để hội nhập quốc tế, mở cửa thị
trường, chuyển đổi cơ cấu và cơ chế kinh tế, đào tạo nguồn nhân lực để tham gia
vào quá trình toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa đòi hỏi các quốc gia và vùng lãnh thổ phải hành động dựa trên
những nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế nhất định trong thương mại và đầu tư,
dịch vụ như “nguyên tắc có đi có lại, nguyên tắc đãi ngộ quốc gia …”. Vấn đề này
không phải quốc gia nào cũng có thể dễ dàng thực hiện được.
Thực tế cho thấy, quá trình toàn cầu hóa đang làm cho nền kinh tế của các quốc

gặp khó khăn trong vấn đề cạnh tranh trên thị trường nội địa cũng như quốc tế mà
nguyên nhân sâu xa có thể là thiếu vốn, hạn chế trong vấn đề đào tạo nhân lực hoặc
thậm chí là yếu kém trong khâu quản lí... Mặc dù vậy việc giải thể các doanh
nghiệp này là vấn đề nan giải bởi hầu hết các doanh nghiệp này thu hút một lực
lượng lao động lớn hoặc được đầu tư những nguồn tài chính không nhỏ. Hậu quả
của việc giải thể có thể là những cú sốc lớn cả về kinh tế và chính trị. Hơn nữa
nguyên nhân chính phủ không giải thể các doanh nghiệp này còn có thể là do họ
vẫn còn đặt niềm tin vào khả năng biến chuyển tình thế của đội ngũ lãnh đạo hoặc
đây là những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực được ưu tiên phát triển
theo chiến lược dài hạn.
Một lí do không thể không đề cập đến khi duy trì các biện pháp bảo hộ là mong
muốn cải thiện các ngành sản xuất nội địa. Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới
đều có những chiến lược phát triển kinh tế nhất định và trong đó luôn xác định
những lĩnh vực ưu tiên đặc biệt. Nhưng để các doanh nghiệp hoạt động trong
những lĩnh vực này đạt được hiệu quả tối ưu và nâng cao khả năng cạnh tranh
trong nước và quốc tế nhà nước luôn phải có những ưu đãi đặc biệt. Ví dụ điển
hình là Mĩ một nước được coi là có nền kinh tế phát triển nhất thế giới trong thời
gian qua vẫn duy trì khá nhiều phương thức bảo hộ đối với lĩnh vực nông nghiệp,
trong đó có cả những phương thức đi ngược lại lợi ích thương mại quốc tế và bị
nhiều phản kháng của các quốc gia khác trên thế giới.
Một lí do riêng đối với các nước đang và chậm phát triển là họ phải thường
xuyên xem xét vấn đề duy trì một cán cân thanh toán có lợi và cải thiện nguồn
ngân sách. Có thể dễ dàng nhận thấy các quốc gia đang và chậm phát triển hầu hết
đều có một cán cân thanh toán bị thâm hụt và một nguồn ngân sách hạn hẹp vốn
được tài trợ chủ yếu thông qua thu thuế và vay nợ nước ngoài. Để tránh tình trạng
đó các quốc gia có thể áp dụng nhiều hình thức bảo hộ khác nhau nhằm phát triển
những ngành hàng thay thế nhập khẩu hoặc hướng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu
những mặt hàng không cần thiết hay xa xỉ từ đó hạn chế chi tiêu ngoại tệ và thu về
nhiều hơn thông qua xuất khẩu.
Xuất phát từ nguyên nhân thứ nhất bảo hộ còn giúp các quốc gia trên thế giới

tranh và lành mạnh hơn nhà nước cũng cần có sự nâng đỡ hợp lí đối với các một
số lĩnh vực nhất định để tạo thế đòn bẩy cho toàn bộ nền kinh tế.
Bên cạnh đó không thể phủ nhận một thực trạng là các doanh nghiệp Việt Nam
còn yếu kém về năng lực quản lí, nguồn nhân lực, khả năng thích nghi và mang
nặng tư tưởng dựa dẫm của một thời kì dài bao cấp. Việc ngay lập tức thúc ép các
doanh nghiệp này tự tạo lập một thế đứng vững chắc trên thị trường trong nước đã
là một nhiệm vụ quá khó khăn chứ chưa đề cập đến thị trường khu vực và quốc tế.
Hơn nữa ngay cả khi các doanh nghiệp Việt Nam đã có một tiềm lực nhất định
cũng không thể cho rằng họ không còn cần tới sự bảo trợ của nhà nước nữa. Những
doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao ngoài mong muốn nhận
được sự hỗ trợ về vốn thì sự hỗ trợ trong vấn đề nghiên cứu và ứng dụng các thành
tựu mới cũng hết sức quan trọng đôí với họ.
Cũng như hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam đang xây dựng cho
mình một chiến lược phát triển kinh tế trong đó ưu tiên phát triển một số ngành.
Các ngành này là những ngành công nghiệp có tiềm năng song còn gặp nhiều khó
khăn trong cạnh tranh cần được sự hỗ trợ tích cực của nhà nước và cả những ngành
nhất thiết phải ưu tiên phát triển do các lí do khác như chính trị và xã hội. Đây là lí
do cơ bản nhất để Việt Nam duy trì các hình thức bảo hộ nhưng với đặc thù mang
nhiều màu sắc chính trị hơn là kinh tế các hình thức bảo hộ của Việt Nam trong
thời gian qua chưa hẳn đã phát huy được tính chất tích cực đối với nền kinh tế.
Đứng trước xu thế khách quan của tự do hoá thương mại và quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, Việt Nam cũng cần duy trì các phương thức bảo hộ vì những
nguyên nhân nhất định. Thứ nhất trong quá trình tự do hoá thương mại nền kinh tế
Việt Nam không thể tránh được những tác động xấu như sự xâm nhập của hàng
hoá, sự lũng đoạn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài... Nếu không có
chiến lược bảo hộ sản xuất phù hợp nền kinh tế của chúng ta sẽ phát triển bất cân
xứng và phụ thuộc nặng nề vào các yếu tố bên ngoài. Thứ hai để hoà nhập vào một
nền kinh tế chung vốn đã phát triển hơn chúng ta rất nhiều Việt Nam cần cải thiện
khả năng cạnh tranh trên phương diện quốc gia cũng như trên phương diện doanh
nghiệp/ngành. Các biện pháp hỗ trợ mang tính cấp thiết sẽ giúp cho các doanh

nhập khẩu, phụ thu nhập khẩu.
b.Đáp ứng nhiều mục tiêu: một NTM có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu với
hiệu quả cao
Mỗi quốc gia thường theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế, thương
mại của mình. Các mục tiêu đó có thể là: (i) bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến
khích phát triển một số ngành nghề; (ii) bảo vệ an toàn sức khỏe con người, động
thực vật, môi trường; (iii) hạn chế tiêu dùng; (iv) đảm bảo cân bằng cán cân thanh
toán; (v) bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, v.v... Các NTM có thể
đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác nhau khi việc sử dụng công cụ
thuế quan không khả thi hoặc không hữu hiệu bằng.
Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa đảm bảo
an toàn sức khỏe con người, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sản xuất nông
nghiệp trong nước một cách hợp pháp. Hay cấp phép không tự động đối với dược
phẩm nhập khẩu vừa giúp bảo hộ ngành dược nội địa, dành đặc quyền cho một số
đầu mối nhập khẩu nhất định, quản lý chuyên ngành một mặt hàng quan trọng đối
với sức khỏe con người, còn có tác dụng phân biệt đối xử với một số nước cung
cấp nhất định.
c.Nhiều NTM chưa bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ
Do NTM thường mang tính mập mờ, mức độ ảnh hưởng không rõ ràng như
những thay đổi định lượng của thuế quan, nên tác động của chúng có thể lớn nhưng
lại là tác động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hay cách khác.
Hiện nay các hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh việc sử dụng một số NTM
nhất định. Trong đó, tất cả các NTM hạn chế định lượng đều không được phép áp
dụng, trừ trường hợp ngoại lệ.
Một số NTM khác tuy có thể nhằm mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản
xuất trong nước nhưng vẫn được WTO cho phép áp dụng với điều kiện tuân thủ
những quy định cụ thể, rõ ràng, khách quan. Chẳng hạn như tiêu chuẩn kỹ thuật,
biện pháp kiểm dịch động thực vật, tự vệ, thuế chống bán phá giá, các biện pháp
chống trợ cấp, thuế đối kháng, hỗ trợ nông nghiệp dạng hộp xanh.
Ngoài ra, vẫn có thể tiếp tục áp dụng mà chưa bị yêu cầu cắt giảm hay loại bỏ

định nên rất khó xây dựng một lộ trình tự do hóa thương mại rõ ràng như với bảo
hộ chỉ bằng thuế quan.
b.Khó khăn, tốn kém trong quản lý
Vì khó dự đoán nên các NTM thường đòi hỏi chi phí quản lý cao và tiêu tốn
nhân lực của nhà nước để duy trì hệ thống điều hành, kiểm soát bằng NTMs.
Một số NTM thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều cơ quan với
những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên có thể gây khó khăn
cho bản thân các nhà hoạch định chính sách, quản lý, và các chủ thể tham gia hoạt
động kinh tế trong việc xây dựng, sử dụng, tiếp cận thông tin cũng như đánh giá
tác động của các NTM này.
Các doanh nghiệp sản xuất chưa chú trọng đến tiếp cận thông tin và chưa có ý
thức xây dựng, đề xuất các NTM để bảo hộ sản xuất, còn trông chờ vào nhà nước
tự quy định. Do đó, thực tế là các doanh nghiệp thường phải tốn kém chi phí vận
động hành lang để cơ quan chức năng ra quyết định áp dụng NTM nhất định có lợi
cho mình.
Ngoài ra, có những NTM bị động là những NTM tồn tại trên thực tế ngoài ý
muốn của các nhà hoạch định chính sách như bộ máy quản lý thương mại quan
liêu, năng lực thấp của các nhân viên hải quan, các văn bản pháp lý không được
công bố công khai,...
c.Không tăng thu ngân sách, gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp:
Việc sử dụng các NTM phục vụ mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất
trong nước hầu như không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho nhà nước
mà thường chỉ làm lợi cho một số doanh nghiệp hoặc ngành nhất định được bảo hộ
hoặc được hưởng ưu đãi, đặc quyền, như được phân bổ hạn ngạch, được chỉ định
làm đầu mối nhập khẩu. Điều này còn dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các doanh
nghiệp trong nội bộ nền kinh tế.
2.3. Sự kết hợp giữa hai biện pháp để bảo hộ sản xuất trong nước.
Các biện pháp thuế quan và NTM là hai công cụ bảo hộ sản xuất quan trọng
đối với mọi quốc gia. Do mỗi công cụ đều có điểm mạnh, yếu đặc thù nên chúng
thường được sử dụng bổ sung lẫn nhau nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Mặc dù

kết trong ASEAN và APEC.
3.2. Phân loại các NTM:
Trên cơ sở các thuộc tính nói trên của các NTM có thể phân loại các NTM này
thành bốn nhóm lớn với các thuộc tính sau:
- PH: phù hợp với những nguyên tắc và qui định của các tổ chức thương mại
quốc tế.
- KPH: không phù hợp với những qui định của các tổ chức thương mại quốc tế.
- BH: có mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước.
- KBH : không có mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước
3.2.1.Nhóm 1:KPH
Các NTM thuộc nhóm này hoặc là vi phạm rõ ràng qui định của WTO ( ví dụ áp
dụng giá nhập khẩu tối thiểu để xác định trị giá tính thuế hải quan), hoặc chỉ phù
hợp trong những trường hợp đặc biệt (ví dụ cấm nhập khẩu hàng hoá có hại cho
môi trường). Do đó tất cả các biện pháp hạn chế nhập khẩu sau đây đều thuộc
nhóm này:
a.Các biện pháp quản lý định lượng
Hạn ngạch: là qui định của nhà nước về số lượng hoặc giá trị một mặt hàng nào
đó được nhập khẩu nói chung hoặc từ một thị trường nào đó, trong một thời gian
nhất định. Bao gồm:
1* Hạn ngạch toàn cầu (6210)
1
1* Không xác định (6211)
2* Xác định đối với các thành phần xuất khẩu (6212)
1* Hạn ngạch song phương (6220)
2* Hạn ngạch theo mùa (6230)
3* Hạn ngạch liên quan đến thực hiện xuất khẩu (6250)
4* Hạn ngạch liên quan đến bán hàng hoá nội địa (6250)
5* Hạn ngạch của các hạng mục sản phẩm nhạy cảm (6270)
Ngăn cấm (6300). Bao gồm:
1* Cấm hoàn toàn (6310):trừ trường hợp đối với lí do môi trường, sức khoẻ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status