KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nền kinh tế tri thức của một số
nước trên thế giới và bài học đối
với Việt Nam
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
2
MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Lời mở đầu
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NỀN KINH TẾ TRI THỨC 1
I. Quá trình hình thành nền kinh tế tri thức 1
1. Vai trò của tri thức đối với phát triển 1
2. Sự ra đời nền kinh tế tri thức trên thế giới 3
II. Khái niệm và đặc trưng của nền kinh tế tri thức 6
1. Khái niệm nền kinh tế tri thức 6
2. Những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế tri thức. 8
2.1. Tri thức khoa học công nghệ và lao động kỹ năng cao là lực lượng sản
3. Vai trò của chính sách kinh tế vĩ mô 31
3.1. Đảm bảo nguồn tài chính 31
3.2. Đảm bảo nguồn nhân lực 31
II. Nền KTTT của một số nước EU 32
1. Quan niệm của các nước EU về nền KTTT 32
2. Đánh giá quá trình chuyển sang nền KTTT của các nước EU 34
2.1. Cơ cấu ngành của nền kinh tế 34
2.2. Chất lượng nguồn nhân lực 35
2.3. Tiềm lực khoa học và công nghệ 36
2.4. Sự áp dụng công nghệ thông tin 38
2.5. Hội nhập kinh tế quốc tế 39
3. Những nhân tố tạo nên thành công trong quá trình chuyển sang nền KTTT của
các nước EU 40
3.1. Những thuận lợi chung 40
3.2. Bước tiến trong tiến trình liên kết của EU 41
3.3. Các chính sách thúc đẩy R&D của EU 42
4. Nguồn gốc của những hạn chế hiện nay 43
4.1. Cơ sở hạ tầng thông tin còn một số bất cập 43
4.2. Sự yếu kém cơ cấu của nền kinh tế 44
4.3. Sự phân đoạn của thị trường 44
5. Một số chính sách nhằm xây dựng thành công nền kinh tế tri thức ở các nước
EU 45
5.1. Thúc đẩy R&D 45
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
4
5.2. Phát triển công nghệ thông tin 45
5.3. Tăng cường liên kết toàn diện trong Liên Minh Châu Âu 46
5.4. Tăng cường đầu tư vào con người 46
5.5. Bảo đảm sự phát triển bền vững 47
1. Cơ sở để Malaixia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tri thức 66
2. Chiến lược phát triển kinh tế tri thức và các bước triển khai. 68
2.1. Chiến lược phát triển tổng thể. 69
2.1.1 Tăng cường phát triển công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền
kinh tế tri thức 70
2.1.2 Phát triển siêu hành lang truyền thông đa phương tiện, quy hoạch công viên
kỹ thuật cao 70
2.1.3 Từng bước tin học hoá, mạng hoá và mô hình hoá ngành dịch vụ 70
2.2. Các bước triển khai. 71
2.2.1. Chương trình xúc tiến nghiên cứu và triển khai tổng thể 72
2.2.2. Chương trình công nghệ thông tin quốc gia. 74
2.2.3. Siêu hành lang truyền thông đa phương tiện 74
2.2.4. Năm mũi đột phá trong lĩnh vực điện tử 74
3. Một số hạn chế trong việc thực thi chiến lược phát triển kinh tế tri thức. 75
V.Kinh nghiệm đối với Việt Nam 76
1. Đổi mới tư duy kinh tế 77
2. Phát triển công nghệ thông tin 78
3. Phát triển nguồn nhân lực 79
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG THÀNH CÔNG NỀN KTTT Ở
VIỆT NAM 81
I. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam 81
II. Thời cơ và thách thức 82
1. Thời cơ 82
2. Thách thức 84
III. Giải pháp 86
1. Tiếp tục đổi mới quản lý xã hội 88
2. Xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ – thông tin hiện đại 90
3. Đầu tư vào giáo dục - đào tạo để phát triển nguồn nhân lực 93
3.1. Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu về tri thức. 93
3.2. Những chính sách và biện pháp phát triển giáo dục và đào tạo 93
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
7 LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Trong mấy năm gần đây, trên thế giới, người ta bắt đầu nói nhiều về một hiện
tượng kinh tế mới, đó là nền kinh tế tri thức. Và cho đến nay, những cách hiểu về
nền kinh tế tri thức còn rất khác nhau ở từng quốc gia nhưng có một điểm chung mà
hầu hết các ý kiến đều nhất trí là nền kinh tế này là kết quả của một nền kinh tế thị
trường phát triển cao với một Nhà nước pháp quyền đích thực, của cuộc cách mạng
Việt Nam với tư cách là một nước đang phát triển, dĩ nhiên không thể đứng ngoài
“cuộc chơi“ đó. Kinh tế tri thức chính là cơ hội để chúng ta thực hiện chiến lược “đi
tắt đón đầu”, hội nhập nền kinh tế một cách khôn ngoan, khai thác được những lợi
thế để phát triển nền kinh tế.
Với sự phân tích trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Bước chuyển sang
nền kinh tế tri thức của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam”
làm đề tài khoá luận của mình.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Qua đề tài, tác giả muốn hệ thống hoá lại một số cách hiểu khác nhau về nền
kinh tế tri thức, phân tích những nét đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế tri thức,
phân tích thực trạng của các nền kinh tế tri thức ở một số nước công nghiệp phát
triển và đang phát triển chủ yếu như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaixia, hệ
thống lại các bước đi hay các chính sách chủ yếu để tiếp cận và xây dựng nền kinh
tế tri thức của một số nước trên thế giới hiện nay và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm
và đề xuất các biện pháp nhằm xây dựng thành công nền kinh tế tri thức ở Việt
Nam.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu bước chuyển sang
nền kinh tế tri thức của các nước đặc trưng và tiêu biểu nhất như Mỹ, các nước EU,
Nhật Bản, Trung Quốc, Malaixia. Qua đó, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm cho
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
9
Việt Nam và đề xuất các biện pháp thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh hiện tại của
Việt Nam nhằm từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả đã dùng các phương pháp nghiên cứu khác
Chương I
KHÁI QUÁT VỀ NỀN KINH TẾ TRI THỨC
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NỀN KINH TẾ TRI THỨC
1. Vai trò của tri thức đối với phát triển kinh tế.
Từ thập kỷ 80 đến nay, do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu,
công nghệ năng lượng nền kinh tế thế giới đang biến đổi rất sâu sắc, mạnh mẽ về
cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động. Đây không phải là một sự biến đổi
bình thường mà là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế chuyển
từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn
minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ và ý nghĩa mới của tri thức đã được đề cao.
Trước đây, ngay cả ở phương Đông và phương Tây, tri thức được quan niệm
là chỉ phục vụ cho chính nó. Sau đó ít lâu, tri thức được áp dụng vào các tổ chức lao
động rồi trở thành một nguồn lực có giá trị sử dụng và thành một loại hàng hoá công
cộng. Và hiện nay tri thức đang được áp dụng cho chính bản thân tri thức, tri thức đã
trở thành nhân tố sản xuất hàng đầu trong nền kinh tế, làm giảm vai trò của cả vốn
và lao động.
Tri thức, thông tin, công nghệ luôn luôn có vai trò thúc đẩy phát triển sản
xuất, vai trò ấy tăng dần cùng với quá trình phát triển. Lịch sử phát triển ngành dệt
là một ví dụ tốt về sự tăng trưởng có kèm theo thay đổi công nghệ và tăng trưởng
không kèm theo công nghệ. Trong giai đoạn 1500 – 1700, Đông Ấn Độ đã thu được
nhiều lợi nhuận và tăng trưởng bằng cách mở rộng quy mô sản xuất dệt sợi để xuất
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
11
khẩu sang châu Âu. Đây là tăng trưởng không kèm tiến bộ công nghệ. Nước Anh
ban đầu cũng đáp lại việc tăng nhu cầu hàng dệt bằng cách mở rộng sản xuất như
Ân Độ. Nhưng trong dài hạn, nước Anh đã xây dựng các công nghệ mới cần thiết
cho ngành dệt may, như lời của K. Marx thì nước Anh đã thay đổi phương thức sản
thường coi các yếu tố của sản xuất chỉ bao gồm lao động và vốn, còn tri thức, công
nghệ là yếu tố bên ngoài của sản xuất có ảnh hưởng tới sản xuất. Gần đây, các nhà
nghiên cứu kinh tế đều thừa nhận tri thức, công nghệ là yếu tố bên trong của hệ
thống kinh tế, là nhân tố trực tiếp của sản xuất. Đầu tư vào tri thức trở thành yếu tố
then chốt cho sự tăng trưởng kinh tế dài hạn.
K.Marx đã coi “tri thức là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất” và khẳng
định “tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp” [19,607]. Ngày nay, luận điểm
ấy đã được chứng minh, khoa học không những tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất bằng việc tạo ra công nghệ, tạo phương pháp tổ chức, quản lý sản xuất để nâng
cao năng suất, chất lượng, đổi mới sản phẩm mà còn có thể trực tiếp làm ra sản
phẩm như sản phẩm phần mềm trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Các sản phẩm
này được nghiên cứu tại phòng thí nghiệm rồi sản xuất đại trà, xưởng sản xuất cũng
là phòng nghiên cứu thí nghiệm. Khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp và quan trọng hàng đầu.
Tri thức là một yếu tố của sản xuất nhưng nó khác biệt về cơ bản với các yếu
tố vốn hay lao động ở chỗ người có kiến thức nếu trao kiến thức cho người khác thì
kiến thức đó không mất đi mà lại được sử dụng tốt hơn, càng trao cho nhiều người
thì khả năng sử dụng tri thức để tạo ra của cải, lợi ích càng nhiều.
2. Sự ra đời nền kinh tế tri thức trên thế giới.
Quá trình phát triển lực lượng sản xuất của loài người có thể chia ra làm ba
thời kỳ: thứ nhất là nền kinh tế nông nghiệp hay là nền kinh tế sức lao động với đặc
trưng chủ yếu là sản xuất bằng lao động thủ công, năng suất lao động rất thấp, đất
đai là tài nguyên chủ yếu; thứ hai là nền kinh tế công nghiệp, cũng được gọi là nền
kinh tế tài nguyên, dựa chủ yếu vào máy móc và tài nguyên thiên nhiên; thứ ba là
nền kinh tế tri thức, bắt đầu hình thành từ đầu thập kỷ 80, là nền kinh tế dựa chủ yếu
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
13
vào tri thức, tri thức và công nghệ thông tin trở thành yếu tố sản xuất quan trọng hơn
là sự chuyển đổi từ một nền sản xuất dựa vào tài nguyên, lao động là chính sang nền
sản xuất dựa vào tri thức là chính, thứ hai là sự thay đổi trên mọi lĩnh vực mà trước
hết là công nghệ. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã thúc đẩy nhanh
hơn sự ra đời nền kinh tế tri thức. Các công nghệ cao, trước hết là công nghệ thông
tin là nguồn gốc của sự biến đổi lớn lao hiện nay. Máy hơi nước, động cơ điện mở
đầu cuộc cách mạng công nghiệp, thúc đẩy sự ra đời nền kinh tế công nghiệp, nội
dung chủ yếu là thay thế lao động chân tay bằng máy móc. Đó là cuộc cách mạng
sâu sắc nhưng diễn ra chậm chạm trong thời gian rất dài.
Còn trong nền kinh tế tri thức, các ngành công nghệ cao như công nghệ sinh
học, nổi bật là công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh đã cho phép con
người tạo được các loại thuốc chữa trị các bệnh hiểm nghèo, kéo dài tuổi thọ, tạo
các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao theo ý muốn; công nghệ
vật liệu, nổi bật là vật liệu composit có thể tạo ra những vật liệu theo ý muốn của
con người, có sức chịu lực, chịu nhiệt, chịu ăn mòn, lão hoá, phù hợp với mọi điều
kiện khác nhau; công nghệ năng lượng với những năng lượng mới đảm bảo an toàn
cao và sạch nhất; và đặc biệt là công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin là động
lực chủ yếu nhất thúc đẩy sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức. Ngày nay,
thông tin trở thành nhu cầu thiết yếu của con người, là tài nguyên quan trọng nhất
của nền kinh tế. Người ta bắt đầu nói tới cách mạng thông tin, cách mạng tri thức. Ở
những nước phát triển như Mỹ, Tây Âu, kinh tế thông tin (những ngành kinh tế dựa
trên việc xử lý thông tin) chiếm khoảng 45% - 55% GDP. Công nghệ thông tin ngày
càng trở thành nhân tố hàng đầu trong việc làm biến đổi xã hội. Một bước nhảy vọt
trong công nghệ thông tin là sự ra đời của mạng máy tính, mạng máy tính phát triển
nhanh hình thành siêu xa lộ thông tin và Internet. Trong lịch sử nhân loại, chưa có
một lĩnh vực khoa học – công nghệ nào phát triển nhanh và tác động sâu rộng, mạnh
mẽ đến toàn xã hội như công nghệ thông tin. Nhờ có sự phát triển nhanh của xa lộ
thông tin mà có thương mại điện tử, chính phủ điện tử, thư viện điện tử, học tập, làm
việc từ xa, chữa bệnh từ xa Những công nghệ ấy đang làm thay đổi mạnh mẽ, sâu
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
16
dựa vào tri thức, dựa vào thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ. Đó có thể
là những ngành mới như công nghệ thông tin (công nghệ phần cứng và công nghệ
phần mềm), công nghệ năng lượng mới và năng lượng tái sinh, công nghệ vật liệu
mới, công nghệ sinh học và cũng có thể là những ngành truyền thống (nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) được cải tạo bằng khoa học, công nghệ cao. Ví dụ,
sản xuất ôtô là một ngành công nghiệp truyền thống nhưng nếu áp dụng khoa học
công nghệ cao sản xuất ra loại ôtô thông minh không cần người lái có độ an toàn
cao thì ngành sản xuất ôtô có thể coi là ngành kinh tế tri thức hay những trang trại
sản xuất nông nghiệp dựa vào công nghệ sinh học cho năng suất cao, tự động điều
khiển và hầu như không cần người lao động.
Bảng 1: So sánh khái quát các thời đại kinh tế
Kinh tế nông
nghiệp
Kinh tế công
nghiệp
Kinh tế tri thức
Đầu vào quan
trọng của sản xuất
Lao động, đất đai,
vốn
Công nghệ, máy
móc, thiết bị
Tri thức, công nghệ
cao, thông tin
Các quá trình chủ
Tỷ lệ đóng góp của
KHCN cho tăng
trưởng kinh tế
< 10% > 30% > 80%
Đầu tư cho giáo
dục
< 1% GDP 2% – 4% GDP > 6%GDP
Tầm quan trọng
của giáo dục
Nhỏ Lớn Rất lớn
Vai trò của truyền
thông
Nhỏ Lớn Rất lớn
Nguồn: “ Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt nam”
Kỷ yếu hội thảo khoa học, 21 – 22/6/2000, trang 2 2. Những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế tri thức.
2.1. Tri thức khoa học công nghệ và lao động kỹ năng cao là lực lượng sản xuất thứ
nhất, là lợi thế phát triển.
Đặc điểm lớn nhất làm cho nền kinh tế tri thức khác biệt với nền kinh tế công
nghiệp hay nền kinh tế nông nghiệp là tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất của
sản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên thiên nhiên.
Trí tuệ con người, được thể hiện trong tri thức khoa học và công nghệ cùng
với kỹ năng lao động cao là lợi thế có ý nghĩa quyết định triển vọng phát triển của
mỗi quốc gia. Lịch sử phát triển hiện đại đã chứng tỏ rằng các lợi thế tự nhiên (lợi
thế về tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ do thiếu kỹ năng, gắn với lao động
giản đơn thuần tuý) ngày càng giảm bớt vai trò trong phát triển. Trong khi đó, trình
độ khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực tri thức ngày càng đóng vai trò quyết
năm có nguồn gốc tri thức [9,25]. Những ngành có tốc độ phát triển cao nhất, có sức
bật và tiềm năng lớn nhất đều là những ngành thâm dụng tri thức như máy tính, thiết
bị viễn thông, hàng không. Các ngành dịch vụ dựa trên tri thức như giáo dục, dịch
vụ viễn thông , thông tin có tốc độ tăng trưởng cao.
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
19
Trong nền kinh tế tri thức, tri thức không những có vai trò sáng tạo, truyền bá
mà còn có vai trò truyền thông, sử dụng, trở thành nguồn lực của sản xuất. Do vậy,
đầu tư phát triển tri thức là đầu tư chủ yếu nhất. Điều này không có nghĩa là nền
kinh tế không cần vốn, nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực nữa mà trái
lại, các yếu tố này về mặt giá trị còn được đầu tư với số lượng đáng kể hơn, thậm
chí đối với trang thiết, máy móc công nghệ cao còn cần đầu tư với một lượng vốn
rất lớn, song vốn vô hình (như thông tin, tri thức, công nghệ, kỹ năng lao động) còn
có giá trị cao hơn gấp bội, trở thành yếu tố quan trọng nhất, phần vốn cơ bản nhất.
Do vai trò to lớn như vậy của tri thức nên trong nền kinh tế tri thức quyền sở
hữu đối với tri thức trở nên quan trọng nhất. Trong nền kinh tế tri thức, việc chiếm
hữu tri thức và nhân tài quan trọng hơn nhiều so với chiếm hữu tài nguyên thiên
nhiên. Việc sử dụng tài sản tri thức phải được bảo vệ nghiêm khắc và hữu hiệu hơn
so với kinh tế truyền thống vì bảo vệ quyền sở hữu tài sản tri thức chính là yêu cầu
đầu tiên của việc bảo đảm động lực sáng tạo và bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên
trí lực.
2.2. Sản xuất công nghệ là loại hình sản xuất phát triển, tiêu biểu và tiên tiến
nhất.
Trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng tri thức trong các yếu tố sản xuất ngày
càng tăng. Các ngành kinh tế tri thức (những ngành dựa vào thành tựu của khoa học
- công nghệ) và cả những ngành truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ được cải tạo bằng ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, ngày càng chiếm
Bắt đầu từ thập kỷ 50, Mỹ đã chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp đi vào các
công nghệ mới. Từ đó, các công ty công nghệ cao, nhất là về công nghệ thông tin
phát triển rất nhanh, rất nhiều công nghệ cao và Internet đã ra đời từ đó.
Do sản xuất dựa vào công nghệ cao, tiêu hao ít nguyên liệu, năng lượng, thải
ra ít phế thải, cho nên trong nền kinh tế tri thức có thể thực hiện được sản xuất sạch,
không gây ô nhiễm môi trường. Đó là điều kiện để phát triển bền vững.
2.3. Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế lấy toàn cầu làm thị trường.
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
21
Công nghệ thông tin, nhất là mạng internet làm cho không gian trở nên nhỏ
bé. Các nhân tố cơ bản của sản xuất kinh doanh như tri thức, công nghệ, thông tin,
vốn, quản lý sản phẩm, sức lao động không bị bó buộc trong biên giới một quốc
gia mà xuyên quốc gia, giúp cho hoạt động kinh tế trong nền kinh tế tri thức mang
tính toàn cầu. Thị trường và sản phẩm trong nền kinh tế tri thức cũng mang tính toàn
cầu, một sản phẩm sản xuất ở bất cứ nơi nào sẽ có mặt nhanh chóng trên toàn thế
giới; rất ít sản phẩm do một nước làm ra, mà phần lớn là kết quả của sự tập hợp các
phần việc được thực hiện từ nhiều nơi trên thế giới. Các mối quan hệ và hợp tác
kinh tế, công nghệ giữa các doanh nghiệp ngày càng được tăng cường, đồng thời
cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt trên cả bình diện trong nước và quốc tế.
Vốn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm cũng như xây dựng nhà
máy sản xuất trong nền kinh tế tri thức là hết sức lớn. Để có thể hoàn vốn đầu tư,
sản phẩm phải được sản xuất với số lượng tối đa. Không những thế, doanh nghiệp
trong kinh tế tri thức phải bằng mọi cách hoàn vốn trong thời gian ngắn nhất trước
khi sản phẩm thế hệ mới của công ty khác tung ra thị trường, đây là điều xảy ra rất
nhanh trong nền kinh tế tri thức. Vì vậy, thị trường của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế tri thức phải là thị trường toàn cầu.
Trong nền kinh tế tri thức, các công ty phải luôn luôn đổi mới và phải kịp thời
chuyển hướng sản xuất kinh doanh theo sự đổi mới của công nghệ. Để có đủ tài lực
sản phẩm càng hiện đại thì tốc độ biến đổi giá cả càng lớn. Nếu phải cần đến 60 năm
để cước vận tải biển và phí cảng biển giảm đi một nửa thì cũng trong thời gian ấy,
cước hàng không giản đi 6 lần và giá dịch vụ điện thoại giảm đi 82 lần. Đặc biệt
hơn, chỉ trong vòng 30 năm từ năm 1960 đến năm 1990, giá máy tính đã giảm đi
125 lần [12,30]. Chi phí cho phát triển tri thức rất lớn, nhưng sản phẩm càng về sau
càng giảm, ví dụ: chi phí cho việc nghiên cứu đĩa chương trình Window đầu tiên tốn
50 triệu USD, nhưng đĩa thứ hai và các đĩa tiếp theo chỉ tốn 3 USD [9,24]. Vì vậy,
việc tiếp cận và trao đổi tri thức ở phạm vi toàn cầu trong nền kinh tế tri thức càng
có ý nghĩa hơn, cạnh tranh trong kinh tế tri thức trước hết là canh tranh với thời
gian.
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
23
Cùng với quá trình định hình từng bước của nền kinh tế tri thức, một xu thế
khá rõ ràng là tốc độ áp dụng và phổ biến các thành tựu khoa học kỹ thuật và công
nghệ ngày càng cao. Nếu như dịch vụ điện thoại cần đến 74 năm để đạt được con số
50 triệu thuê bao thì mày tính cá nhân chỉ cần đến 16 năm và mạng thông tin toàn
cầu Internet chỉ cần có 4 năm [12,31].
2.5 Xã hội tri thức thúc đẩy sự dân chủ hoá.
Nếu chưa xét về chế độ chính trị, về quan hệ sản xuất thì có thể gọi xã hội
tương ứng với nền kinh tế tri thức là xã hội thông tin hay xã hội tri thức.
Thông tin đến với mọi người. Mọi người đều dễ dàng truy cập đến các thông
tin cần thiết. Do đó dân chủ hoá các hoạt động và tổ chức điều hành trong xã hội
được mở rộng. Trong xã hội tri thức, mỗi cá nhân đều có khả năng nhận biết hành vi
của Chính phủ và dễ dàng có được những thông tin kịp thời về các quyết định của
cơ quan Nhà nước, các tổ chức có liên quan và bằng cách này hay cách khác, có thể
gây áp lực đối với các quyết sách hữu quan của nhà nước. Do đó phải tạo không khí
dân chủ và cách làm việc dân chủ trong xã hội. Có dân chủ mới phát huy hết khả
năng sáng tạo của mọi người.
có ít thì không có tác dụng nhưng khi có đến hàng nghìn máy để liên lạc với nhau
thì lúc đó mới có giá trị. Mạng cũng vậy, có nhiều người vào cùng sử dụng thì lúc ấy
mới có giá trị.
III. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN HÌNH THÀNH NỀN KINH TẾ TRI THỨC.
Trước hết phải khẳng định ngay rằng, kinh tế tri thức không phải là một bước
nhảy đột biến hay một sáng tạo của một lý thuyết nào đó, mà là hình thái phát triển
cao hơn – có tính tiến hoá - của nền kinh tế thị trường phát triển cao. Chính sự phát
triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá đến mức cao độ ở các nước công nghiệp phát
triển đã tạo tiền đề cho sự ra đời của nền kinh tế tri thức ở các nước đó và các nước
đang phát triển muốn tiến đến nền kinh tế tri thức thì cũng không có cách nào khác
là phải chuẩn bị và cố gắng tạo cho mình có được những tiền đề đó.
Kinh nghiệm thực tế từ các nước phát triển và đang phát triển tổng kết cho
thấy
Dương Thị Vĩnh Hà - A8 K38C – Kinh tế Ngoại Thương
25
có những tiền đề cơ bản mà bất cứ một quốc gia nào, dù nước đó đã và đang tiến
thẳng vào nền kinh tế tri thức hay đang tìm cách tiếp cận nền kinh tế tri thức cũng
cần phải có.
1. Một nền kinh tế thị trường phát triển cao.
Để tiến đến nền kinh tế tri thức thì điều kiện đầu tiên và quan trọng đối với
các quốc gia là phải có một nền kinh tế thị trường phát triển cao với các thị trường
tài chính hoạt động hữu hiệu trên cả bình diện quốc tế lẫn trong nước. Doanh nghiệp
trong kinh tế tri thức vừa cần vốn đầu tư khổng lồ vừa phải chạy đua với thời gian
và đương đầu với những rủi ro lớn, nên hơn bao giờ hết, hoạt động của họ trong
kinh tế tri thức phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung cấp vốn từ các thị trường tài chính.
Ngược lại, sự bình ổn của thị trường tài chính cũng gắn bó mật thiết với công việc
kinh doanh của doanh nghiệp. Bảo đảm sự hoạt động của một nền kinh tế với những
quan hệ phức tạp và nhạy cảm như vậy chỉ có thể thành công ở một quốc gia có nền